PHẦN GIỚI THIỆU
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão và xuất
phát từ yêu cầu thực tế của thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề
bức xúc đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là phải đổi mới máy móc thiết bị công nghệ,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, không ngừng cải thiện vị thế và uy tín trong
cạnh tranh bằng chính thực lực của mình. Thật vậy, trong những năm qua, nhờ
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước
phát triển nhanh chóng và vững chắc. Trong khi đó cơ chế thị trường đã tao ra sự
phân cực giữa các doanh nghiệp và cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt. Để tồn
tại và phát triển các doanh nghiệp chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là phải sản xuất
ra được những sản phẩm có chất lượng tốt, chi phí tối thiểu, hạ giá thành. Một trong
những những nhân tố quan trọng nhất và cũng là vấn đề khó khăn nhất đối với các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là yếu tố vốn cho cơ sở vật chất mà trong đó máy
móc thiết bị giữ vị trí quyết định. Thực trạng hiện nay, sự lạc hậu về máy móc thiết
bị luôn là điều đáng lo ngại nhất đối với các doanh nghiệp bởi lẽ, đây là nguyên
nhân quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng cũng như giá thành của sản
phẩm, đồng thời ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Điều
này càng đúng đối với các doanh nghiệp hoạt động tronh lĩnh vực xây lắp, khi mà
giờ đây chất lượng và giá thành của mỗi công trình phụ thuộc hoàn toàn vào năng
lực thực tế của các thiết bị thi công.
Công ty Tây Hồ là một doanh nghiệp xây dựng quân đội trực thuộc Bộ quốc
phòng mới bước vào thị trường xây lắp từ năm 1996 đến nay. Từ những ngày đầu
thành lập với hệ thống máy móc thiết bị của công ty còn yếu kém và chưa đông bộ
nhưng qua 10 năm hoạt động công ty đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư đổi mới
nâng cao năng lực thi công của mình. Với số vốn ban đầu còn hạn chế công ty
không thể ngay một lúc đầu tư mới toàn bộ cơ sở vật chất mà chỉ có thể dần dần đầu
tư từng bước, do vậy việc nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng máy móc thiết bị luôn
được công ty coi trọng và xem xét một cách cụ thể.
Là một sinh viên được thực tập tại công ty, qua quá trình khảo sát và tìm
hiểu tôi thấy rằng điều quan tâm lớn nhất hiện nay của công ty Tây Hồ là tìm ra
được một giải pháp quản lý và sử dụng máy móc thiết bị thi công cơ giới có hiệu
bị của doanh nghiệp là thiết bị gia công. Thiết bị gia công gồm tất cả những máy
móc công cụ, dụng cụ, thiết bị phụ trợ và những thiết bị khác sử dụng trực tiếp cho
việc sản xuất, xử lý, kiểm tra và bao gói chi tiết gia công hay sản phẩm.
Theo quan niệm của triết học thì máy móc thiết bị là tư liệu lao động, là những
vật hay phức hợp những vật thể nối con người với đối tượng lao động và truyền dẫn
tích cực sự tác động của cong người vào đối tượng lao động, làm thay đổi hình thức
tự nhiện của đối tượng lao động để biến đổi những đối tượng lao động đó thành
những sản phẩm thoả mãn nhu cầu đa dạng của con người.
Xét dưới góc độ vốn, máy móc thiết bị là tài sản cố địng, là cơ sở vật chất kỹ
thuật của mỗi doanh nghiệp. Đó chính là hình thái vật chất của vốn cố định, một
loại vốn lớn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vốn dùng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Thật vậy ta thấy rằng trước khi bắt đầu mỗi quá trình
sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nhất thiết phải có sự đầu tư vốn lớn chủ yếu là để
mua sắm máy móc thiết bị, lắp đặt dây chuyền công nghệ. Bên cạnh đó máy móc
thiết bị còn có tính chất đặc trưng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị
của nó được chuyển dần vào giá trị sản phẩm. Do vậy mà vốn cố định thường có giá
trị rất lớn, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chu chuyển vốn và quyết định hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Xét dưới các góc độ khác, máy móc thiết bị chính là năng lực sản xuất dùng để
phát triển quy mô của doanh nghiệp. Riêng đối với các doanh nghiệp xây lắp thì
máy móc thiết bị còn là điều kiện để tham gia đấu thầu và thắng thầu các công trình.
Máy móc thiết bị quyết định doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất những gì, số lượng
bao nhiêu và hiệu quả như thế nào. Trong quá trình sử dụng, giá trị của máy móc
thiết bị giảm dần nhưng hình thái vật chất của nó thì không thay đổi. Sự giảm dần
này là do hao mòn trong quá trình tham gia sản xuất của máy móc thiết bị, giá trị
giảm dần này được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm mà nó tạo ra. Khi đã
chuyển hết giá trị và sản phẩm thì cũng là lúc máy móc thiết bị cần được cải tiến và
thay thế.
Tóm lại, máy móc thiết bị là những tư liệu cơ bản, là hình thái vật chất của
vốn cố định dùng cho hoạt động sản xuất của vốn kinh doanh do vậy nó có một vai
PHÂN LOẠI THEO KẾT CẤU LẮP ĐẶT
DỤNG CỤ CƠ
KHÍ VÀ
THIẾT BỊ CỐ
ĐỊNH
PHÂN LOẠI THEO CÔNG DỤNG
DỤNG CỤ CƠ
KHÍ VÀ THIẾT
BỊ DI ĐỘNG
DỤNG CỤ
CẦM TAY
DỤNG CỤ
THIẾT BỊ PHỤ
TRỢ
THIẾT BỊ VẠN
NĂNG
THIẾT BỊ
CHUYÊN DỤNG
2.3. Phân loại máy móc thiết bị theo mức độ sử dụng:
Sơ đồ 02:
3. Vai trò, nội dung công tác quản lý máy móc thiết bị trong doanh nghiệp:
3.1. Vai trò:
Quá trình sản xuất kinh doanh là một quá trình tổng hợp bao gồm nhiều khâu
khác nhau bắt đầu từ việc xác định kế hoạch mặt hàng, tổ chức cung ứng nguyên vật
liệu, chế tạo sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Trong đó khâu chế tạo sản xuất sản
phẩm có vai trò quan trọng nhất vì tất cả các khâu khác trong cả quá trình đều tạo
điều kiện thuận lợi cho khâu chế tạo sản phẩm, thúc đẩy việc chế tạo sản phẩm đạt
chất lượng cao được thị trường chấp nhận và hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có hiệu quả. Mặt khác quá trình chế tạo chính là quản lý người công
SỐ MÁY MÓC THIẾT
YẾU
TỐ CƠ
BẢN
ĐÃ
ĐỦ
YẾU
TỐ
CƠ
BẢN
nhân vận hành máy móc thiết bị tác động lên các đối tượng lao động để sản xuất ra
sản phẩm. Đến lượt mình quá trình quản lý sẽ khẳng định những cố gắng của doanh
nghiệp trong việc nghiên cứu lập kế hoạch xác định khối lượng, chủng loại mặt
hàng sản xuất, chuẩn bị vật tư kỹ thuật, áp dụng các phương pháp công nghệ tiên
tiến và cách thức tổ chức sản xuất hợp lý. Do vậy suy cho cùng hoạt động chế tạo
sản xuất sản phẩm chỉ mang lại lợi ích thực sự, đạt chất lượng cao khi chúng ta làm
tốt công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị trong doanh nghiệp.
Quản lý tốt máy móc thiết bị ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hợp lý tiết
kiệm nguyên vật liệu và lao động cho doanh nghiệp. Cả ba quá trình này đều nhằm
giải quyết một vấn đề là sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng cao và đáp ứng được
nhu cầu của thị trường. Thật vậy quản lý tốt máy móc thiết bị là làm tốt công tác
quản lý con người trong quá trình vận hành máy móc thiết bị sap cho các thao tác
của họ được thực hiện một cách chính xác, nhanh chóng va khoa học trên cơ sở hiểu
biết và kinh nghiệm của từng người. chỉ khi máy móc thiết bị thiết bị vận hành tốt
thì nguyên vật liệu mới được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. sự kết hợp
nhuần nhuyễn của ba quá trình trên sẽ tao ra được những sản phẩm có chất lượng
tốt và giảm những sản phẩm kém chất lượng.
Quản lý tốt máy móc thiết bị tức là tạo điều kiện cho việc ứng dụng những
thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất từ đó thúc đẩy việc tăng năng
suất lao động. Ngày nay khoa học công nghệ dang phát triển với tốc độ nhanh
chóng so vậy mà các doanh nghiệp cần phải thường xuyên nắm bắt và ứng dụng
liên quan mật thiết với nhau để xác định được một cơ cấu máy móc thiết bị hợp lý,
cải tiến các phương an công nghệ đang sản xuất, áp dụng các phương an công nghệ
mới và tổ chức sản xuất tiên tiến mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất có ảnh hưởng to lớn tới quá trình sản xuất,
thực hiện các mục tiêu kinh tế, kỹ thuật quan trọng như các chỉ tiêu sản lượng, chất
lượng, năng suất lao động, mức tiêu hao nguyên vật liệu
Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là cần phải có sự quản lý thống nhất để công tác
chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất được tiến hành một cách chu đáo, hạn chế đến mức
thấp nhất các tác động có hại của nó gây ra. Trong các doanh nghiệp, công tác
chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất được tiến hành theo trình tư sau:
* Thiết kế phương án công nghệ.
Trên cơ sở của việc xác định phương án sản phẩm các doanh nghiệp tiến hành
xây dựng phương án công nghệ chế tạo sản phẩm một cách tối ưu. Mục tiêu của
phần việc này là đưa ra được một công nghệ phù hợp với sự đòi hỏi của tiến bộ
khoa học kỹ thuật, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm và đạt hiệu quả
cao.
* Xác định cơ cấu máy móc thiết bị hợp lý cần thiết.
Để làm tốt công việc này, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xác định rõ
yêu câu, chức năng, nhiệm vụ sản xuất của doanh nghiệp, quy trình chế tạo sản
phẩm và các phương án công nghệ chủ yếu trên cơ sở đó xác định được một danh
mục các loại máy móc thiết bị cần thiết có khả năng đáp ứng các yêu cầu của quá
trình sản xuất. việc xác định cơ cấu này đòi hỏi doanh nghiệp phải đứng trên quan
điểm tiết kiệm, hiệu quả sao cho số lượng máy móc thiết bị của doanh nghiệp được
huy động với mức công suất tối đa. Bên cạnh đó thì vấn đề đầu tư mua sắm máy
móc thiết bị cũng cần phải có sự quản lý chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả đầu tư là cao
nhất. Riêng đối với các doanh nghiệp xây lắp trước khi thic công một công trình thì
các nhà quản lý cũng cần phải nắm rõ được tính chất đặc trưng của công trình từ đó
lựa chọn các loại máy móc thiết bị cần thiết phục vụ thi công ca chuyển đến chân
công trình.
3.2.2. Xác lập quy phạm, quy trình kỹ thuật.
trình thực hiện các qui phạm, qui trình kỹ thuật. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích
tìm ra những nguyên nhân chủ yếu và đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm khắc
phục những sai sót, những nguyên nhân nêu trên đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn
định, ngăn chặn việc đưa nửa thành phẩm, thành phẩm kém chất lượng vào tiếp tục
chế biến sử dụng hoặc đưa ra thị trường tiêu thu.
Để làm được điều này doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra tình hình
hoạt động của hệ thống máy móc thiết bị trong sản xuất, kịp thời phát hiện ra những
sự cố có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến năng lực sản xuất của máy móc thiết bị từ đó
tìm ra những biện pháp khắc phục hậu quả. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải
kiểm tra sự chấp hành các qui phạm qui trình kỹ thuật, các tiêu chuẩn và cá phương
pháp thao tác của công nhân vận hành máy.
Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp thường áp dụng các hình thức kiểm tra
sau:
+ Kiểm tra toàn bộ hay một số máy móc thiết bị chủ yếu của doanh nghiệp.
+ Kiểm tra cố định hay kiểm tra lưu động: kiểm tra cố định thường áp dụng
với những loại máy móc có kích thước nhỏ và dễ di chuyển. Kiểm tra lưu động thì
ngược lại.
+ Kiểm tra bất thường hay định kỳ.
+ Áp dụng hình thức ba kiểm.( Công nhân tự kiểm tra, Đốc công và tổ trưởng
kiểm tra, cán bộ kỹ thuật kiểm tra)
Nhìn chung công tác kiểm tra máy móc thiết bị trong doanh nghiệp chỉ có hiệu
quả khi nó được tiến hành một cách tự giác, thường xuyên, liên tục và có trách
nhiệm của những người tham gia công tác kiểm tra.
3.2.4. Công tác bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị.
Máy móc thiết bị chiếm vị trí cơ bản trong tổng năng lực sản xuất của doanh
nghiệp ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra,
đến yêu cầu của tổ chức quá trình sản xuất cân đối, nhịp nhàng và liên tục, bản thân
các loại máy móc thiết bị, nhất là những máy móc thiết bị hiện đại, tự động hoá cao,
một bộ phận chi tiết hỏng sẽ làm cho toàn bộ dây chuyền ngừng hoạt động hoặc
không đạt được hiệu quả cao nhất khi sử dụng. Bên cạnh đó do tính chất đặc thù của
bị theo ba hình thức cơ bản là:
+ Sửa chữa phân tán: Ưu điểm của hình thức này là kết hợp được sửa chữa với
sản xuất. Nhưng nhược điểm chính của nó là trong nhiều trường hợp không tận
dụng hết khả năng của công nhân sửa chữa, ngược lại trong nhiều trường hợp không
đảm bảo hết khối lượng sửa chữa, kéo dài thời gian ngừng máy để sửa chữa, ảnh
hướng hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.
+ Sửa chữa tập trung: Ưu điểm của hình thức này là tận dụng được khả năng
của công nhân, nâng cao trình độ chuyên môn hoá sửa chữa, bảo đảm sửa chữa dứt
điểm trong một thời gian ngắn. Nhược điểm của nó là không kết hợp được sản xuất
với sửa chữa ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
+ Sửa chữa hỗn hợp: Đây là hình thức tận dụng được Ưu điểm cũng như khắc
phục được những nhược điểm của hai hình thức trên nên được các doanh nghiệp áp
dụng tương đối phổ biến nhằm tăng cường hiệu quả huy động công suất máy móc
thiết bị vào sản xuất.
Đốí với các doanh nghiệp xây lắp với tính đặc thù của việc thường xuyên thay
đổi địa điểm sản xuất nên các doanh nghiệp này thường tiến hành sửa chữa máy
móc thiết bị theo hình thức phân tán hoặc hỗn hợp với hai loại sửa chữa cơ bản là
sửa chữa nhỏ và sửa chữa vừa.
Để có thể kế hoạch hoá và xây dựng được một kế hoạch sửa chữa thì công tác
quản lý sửa chữa máy móc thiết bị rất cần phải tính đến hiệu quả sửa chữa trên cơ
sở xác địng số công nhân cho sửa chữa và thời gian ngừng máy hợp lý.
3.3. Một số quan điểm đánh giá hiệu quả quản lý sử dụng máy móc thiết bị
trong doanh nghiệp.
Với ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất ngày nay
công tác quản lý máy móc thiết bị đang là một vấn đề thu hút được nhiều sự quan
tâm nghiên cứu của các đơn vị, bởi lẽ thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tồn
tại những lãng phí lớn trong sử dụng máy móc thiết bị. Máy móc thiết bị không sử
dụng hết công suất vẫn đang là tình trạng phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay
ở nước ta. Do vậy tăng cường quản lý sử dụng máy móc thiết bị là nhiệm vụ hàng
đầu của mỗi doanh nghiệp trong giai đoạn tới.
chất lượng tốt, hạn chế được những sản phẩm hỏng, sản phẩm kém chất lượng đồng
thời rút ngắn đượcc thời gian sản xuất. Thật vậy quản lý sử dụng máy móc thiết bị
càng có hiều quả cao bao nhiêu thì tỷ trọng phế liệu phế phẩm so với tổng số sản
phẩm đạt chất lượng càng thấp bấy nhiêu và chất lượng cũng từ đó mà được cải
thiện.
Quan điểm 4: Quản lý sử dụng máy móc thiết bị phải nhằm giảm hao mòn vô
hình và hữư hình.
Quản lý sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả còn là việc quản lý và sử dụng
làm sao để giảm bớt hao mòn hữu hình, hao mòn vô hình và kéo dài tuổi thọ của
máy móc thiết bị. trong quá trình quản lý và sử dụng do máy móc thiết bị phải tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh cho nên nó bị hao mòn dần theo thời gian.
sự giảm dần về giá trị cũng như giá trị sử dụng của máy móc thiết bị xảy ra cả khi
hoạt động cũng như khi không hoạt động. Do vậy vấn đề đặt ra là phải quản lý sử
dụng làm sao để hao mòn của máy móc thiết bị là hợp lý, tránh những láng phí
không cần thiết. Nếu máy móc thiết bị tham gia sản xuất cùng với hai yếu tố nguyên
vật liệu và lao động để sản xuất ra những sản phẩm tuân thủ đúng những tiêu chuẩn
an toàn kỹ thuật và định mức sử dụng thì khi đó sự giảm về giá trị của chúng là
điều không thể tránh khỏi và hao mòn lúc đó là hợp lý. Nhưng ngược lại máy móc
thiết bị bị sử dụng sai chế độ, định mức và tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật thì hao mòn
lúc này là không hợp lý và gây ra lãng phĩ. Bên cạnh sự hao mòn hữu hình của máy
móc thiết bị thì trong quá trình quản lý cần phải chú ý đến sự hao mòn vô hình của
máy móc thiết bị do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật gây ra. Do vậy trong quá trình
quản lý các nhà quản trị luôn phải cập nhật được những thông tin khoa học để kịp
thời có các biện pháp xử lý hợp lý.
Quan điểm5: Quản lý sử dụng máy móc thiết bị theo đúng chế độ bảo dưỡng
sửa chữa.
Quản lý máy móc thiết bị theo đúng chế độ bảo dưỡng sửa chữa đòi hỏi phải
theo dõi việc thực hiện các biện pháp tổ chức, kỹ thuật, phục vụ bảo dưỡng, kiểm
tra và sửa chữa nhằm giảm hao mòn ngăn ngừa sự cố, đảm bảo hoạt động bình
thường của máy móc thiết bị. Nếu máy móc thiết bị không được bảo quản tốt,
năng tác dụng và sử dụng hết công suất thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết
kiệm được vốn đầu tư, vật liệu đưa vào sản xuất và chi phí nhân công. Khi đó máy
móc thiết bị không chỉ sản xuất được các loại sản phẩm hiện có mà còn không
ngừng sản xuất ra được các sản phẩm mới thúc đẩy quá trình đa dạng hoá sản phẩm
của doanh nghiệp. Chính lúc này doanh nghiệp sẽ có cơ hội để mở rộng thị trường,
mở rộng qui mô kinh doanh, thực hiện các hoạt động liên doanh liên kết, trên cơ sở
đố máy móc thiết bị lại càng có khả năng để phát huy hết năng lực sản xuất của
mình và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng được nâng
cao.
II. Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý sử dụng máy móc thiết
bị và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.
1. Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý sử dụng máy móc thiết bị.
Đánh giá hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị là một vấn đề phức tạp cần phải
xem xét trên nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Nó đòi hỏi phải có sự đầu tư
nghiên cứu phát hiện ra những nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng tới quá trính
sử dụng máy móc thiết bị trong doanh nghiệp. Bởi lẽ thực trạng các doanh nghiệp
hiện nay cho thấy đang có sự tồn tại những láng phí lớn trong việc sử dụng máy
móc thiết bị. Máy móc thiết bị không được sử dụng hết công suất vẫn còn là tình
trạng phổ biến trong các doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê của các nhà kinh tế thì
hiện tại các doanh nghiệp mới chỉ sử dụng khoảng 50% công suất thiết kế hiện có.
Mặc dầu con số này đối với các doanh nghiệp xây lắp có phần được cải thiện hơn
nhưng mức lãng phí cũng là rất lớn khoảng 30- 40%. Vấn đề đặt ra là làm sao trong
giai đoạn tới các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để huy động tối đa công suất hiện
có của máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất. Muốn vậy các doanh
nghiệp cần phải giải quyết tốt các nhân tố cơ bản sau.
1.1. Cơ cấu máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
Để quá trình sử dụng máy móc thiết bị trở nên có hiệu quả thì trước hết các
doanh nghiệp cần phải xác định một cơ cấu máy móc thiết bị hợp lý đủ về số lượng,
đúng về chất lượng, tiết kiệm chi phí. Đây là khâu đầu tiên trong quá trình đánh giá
hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị bởi lẽ nó sẽ quyết định hiệu quả đầu tư ban đầu
Căn cứ vào khả năng sử dụng lại phế liệu, phế phẩm.
Căn cứ vào lượng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Căn cứ vào khả năng thuận lợi của thị trường các yếu tố cần mua.
1.3, Trình độ tổ chức quản lý máy móc thiết bị.
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp là làm sao phối hợp chặt chẽ giữa
máy móc thiết bị và sức lao động phù hợp yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất hàng hoá
cho thị trường với hiệu quả cao nhất. Khi doanh nghiệp phối hợp được giữa máy
móc thiết bị và sức lao động nhịp nhàng thì công tác quản lý sử dụng máy móc thiết
bị sẽ có hiệu quả cao hơn. Thật vậy nếu doanh nghiệpcó được cơ cấu máy móc thiết
bị sẽ có hiệu quả cao hơn. Thật vậy nếu doanh nghiệp có được cơ cấu máy móc
thiết bị hợp lý, nguồn cung ứng nguyên vật liệu tốt, đội ngũ lao động lành nghề
nhưng sự phối hợp giữa các yếu tố này không khoa học và chặt chẽ thì hiệu quả sẽ
rất hạn chế. về vấn đề này hiện nay trong các doanh nghiệp xây lắp đang còn nhiều
bất cập bởi lẽ trước đây hoạt động xây dựng chủ yếu mang tính thủ công dựa trên
kinh nghiệm và sự khéo léo của người thợ còn ngày nay do tính chất sản xuất đã
thay đổi, các doanh nghiệp phải quen dần với hoạt động thi công cơ giới bằng sự trợ
giúp đắc lực của máy móc thiết bị. Do vậy mà sự phối hợp này chưa được nhịp
nhàng dẫn đến hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị là chưa cao. Từ đó các doanh
nghiệp phải xây dựng được những kế hoạch cụ thể về thời gian hoạt động của máy
móc thiết bị. về thời gian ngừng máy để sửa chữa nhằm đảm bảo vừa huy động hết
công suất, vừâ kéo dài tuổi thọ cho máy móc thiết bị. Với ý nghĩa đó thì công tác
bảo dưỡng sửa chữa dự phòng theo kế hoạch cần được các doanh nghiệp quan tâm
một cách đúng mực với mục tiêu sửa chữa lấy dự phòng làm chính, công việc sửa
chữa được tiến hành theo kế hoạch và nội dung sửa chữa được xác định từ trước.
Thật vậy, nếu doanh nghiệp không quan tâm đến quá trình bảo dưỡng, sửa chữa thì
máy móc thiết bị sẽ rất nhanh hỏng và gây ra những ách tắc trong quá trình sản xuất
làm cho hiệu quả sản xuất bị hạn chế và hiệu quả sư dụng máy móc thiết bị thấp.
Đây là nhân tố rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định cho nên các doanh nghiệp
cần phải tiến hành lập kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng địng kỳ máy móc thiết bị, xây
dựng lịch xích cho sửa chữa và cung cấp các yếu tố kịp thời cho sửa chữa. Thực tế
sản phẩm của chúng trong một đơn vị thời gian nhất định( thường là một năm) .
Sản phẩm dùng để đánh giá hiệu quả là những sản phẩm đủ tiêu chuẩn chất
lượng theo thiết kế. Với những doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác
nhau thì có thể tính năng lực sản xuất theo sản phẩm đại diện hay sản phẩm qui ước
( Tất cả các sản phẩm khác đều được qui đổi ra sản phẩm đại diện). Đối với các
doanh nghiệp xây lắp có thể tính hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị theo mức độ
đóng góp của chúng và từng công trình và có thể tính trên chỉ tiêu doanh thu hay lợi
nhuận.
Phạm trù năng lực sản xuất của máy móc thiết bị có thể được hiểu như sau:
+ Năng lực sản xuất theo thiết kế là khả năng hoạt động của máy móc thiết bị
đúng theo công suất tối thiết kế, thường là ở trạng thái tốt nhất.
+ Năng lực sản xuất tối đa là khả năng cao nhất có thể đạt được của máy móc
thiết bị trong việc sản xuất sản phẩm khi áp dụng phương án công nghệ và tổ chức
sản xuất hoàn thiện nhất.
+ Năng lực sản xuất theo kế hoách là khả năng sản xuất của máy móc thiết bị
được dự tính trên các điều kiện cụ thể của thời kỳ kế hoạch.
+ Năng lực sản xuất thực tế là khối lượng sản phẩm sản xuất được xác định
một cách cụ thể sau khi kết thúc năm kế hoạch.
Trên thực tế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị người ta dựa vào
một số chỉ tiêu cơ bản sau:
2.1. Nhóm chỉ tiêu chung cho các doanh nghiệp:
2.1.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị về mặt số
lượng:
* Hệ số sử dụng máy móc thiết bị về mặt số lượng: ( H
s
)
H =
Số lượng máy móc thiết bị trực tiếp sản xuất
Tổng số máy móc thiết bị hiện có
Hệ số này cho biết tỉ lệ % số lượng máy móc thiết bị được sử dụng trong sản
Các chỉ tiêu này đều tỷ lệ thuận với hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị. Bên
cạnh các chỉ tiêu chung nói trên đối với các doanh nghiệp nói chung thì đối với các
doanh nghiệp xây lắp nói riêng, do tính chất đặc thù của hoạt động kinh doanh nên
cần phải có thêm một số chỉ tiêu đánh giá đặc trưng.
2.2, Nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho các doanh nghiệp xây lắp:
* Chỉ tiêu tính toán chi phí mua sắm thiết bị thi công:
* Chỉ tiêu xác định giá dự toán mua sắm thiết bị công nghệ.
* Chỉ tiêu xác định chi phí máy trong xây dựng.
* Chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị phục vụ thi công.
* Chỉ tiêu xác định mức thi công.
III. Tính tất yếu của việc nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng máy móc
thiết bị.
Sản xuất luân là nên tảng, là yếu tố hàng đầu quyết định sự phát triển của một
chế độ xã hội, nó luôn giành được sự quan tâm chú ý lớn nhất của các nhà sản xuất.
Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ ngày nay, quá trình sản xuất đòi hỏi
không những phải có kế hoạch cụ thể, đúng đắn, cần đội ngũ cán bộ công nhân
được đào tạo bài bản mà còn phải được trang bị máy móc thiết bị chuyên dụng, hiện
đại.
Thật vậy, máy móc thiết bị là yếu tố quyết định quá trình sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp. Vì thế mà C.Mác đã từng nói: “ Trong bất kỳ một nền sản
xuất nào, máy móc thiết bị bao giờ cũng là hệ thống xương cốt và là chỉ tiêu quan
trọng nhất ”. Máy móc thiết bị được con người không ngừng cải tiến và hoàn thiện,
do đó nó luôn là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất. Sự phát
triển của máy móc thiết bị đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ sản xuất
thủ công lên nửa cơ khí, cơ khí hoàn toàn và đỉnh cao là tự động hoá quá trình sản
xuất. điều đó đã làm cho sức sản xuất tăng lên khồn ngừng, sản xuất sản phẩm ra
ngày càng phong phú, đa dạng và có chất lượng tốt hơn. Cùng với sự phát triển này
là quá trình thay đổi bản chất của nền sản xuất xã hội theo xu thế đi từ sản xuất nhỏ
thô xơ lên sản xuất lớn đại công nghiệp.
Khi đề cập tới vai trò của máy móc thiết bị C.Mác cho rằng: “ Một phương
sản xuất, nó thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất, tăng doanh thu giúp cho sự
tích luỹ của doanh nghiệp cao hơn. Do đó vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng máy
móc thiết bị là vấn đề hết sức có ý nghĩa, quyết định sự phát triển của mỗi doanh
nghiệp. Bên canh đó thì đối với nước ta nhìn chung thì phần lớn các doanh nghiệp
đều được thành lập khá lâu, công nghệ thường cũ đã qua sử dụng hoẵc đã lạc hậu
theo thời gian. Trong khi đó nước ta lại đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Chính vì thế mà việc nâng cao năng lực sản xuất của máy móc thiết bị là
một yếu cầu tất yếu không chỉ của nhà nước mà phải cụ thể đến từng doanh nghiệp,
trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây lặp.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ PHỤC VỤ THI CÔNG XÂY
LẮP CỦA CÔNG TY TÂY HỒ
I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Tây Hồ.
Công ty Tây Hồ thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng được thành lập vào
ngày 18 tháng 4 năm 1996 theo quyết định số 505/QĐQP trên cơ sở sáp nhập jai
doanh nghiệp là: công ty Tây Hồ và công ty Xây dựng 232.
Quyết định thành lập công ty Tây Hồ do Bộ trưởng quốc phòng ban hành dựa
trên các văn bản cụ thể sau:
+ Nghị định số 15/CP ra ngày 2 / 3 / 1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
+ Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 20 / 4 / 1995.
+ Thông báo số 1119 ĐMDN/TB ngày 13 / 3 / 1996 của Chính phủ.
Từ ngày đầu theo quyết định thành lập, công ty Tây Hồ là một doanh nghiệp
nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tại
ngân hành, có con dấu riêng, có trụ sở chính tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu
Giấy, Hà Nội. Cũng theo quyết định này công ty được phép kinh doanh các ngành
nghề chủ yếu sau:
- Xây dựng công nghiệp, dân dụng, giao thông, trang trí nội thất, ngoại thất.
- Lắp đặt thiết bị công trình, dây chuyền sản xuất.
- Sản xuất kinh doanh vật liệu, vật tư thiết bị xây dựng.
1989 với chức
năng xây dựng
Công ty Tây Hồ -
BQP sáp nhập năm
1996
Công ty xuất nhập khẩu
và kinh doanh thương
mại Tây Hồ( Tổng cục
CNQP-KT thuộc BQP)
sáp nhập năm 1992
Công ty xây lắp 232
(Tổng cục CNQP-KT)
nâng cấp năm 1992
được chỉ đạo một cách trực tiếp bởi Bộ Trưởng Bộ quốc phòng mà cơ quan quản lý
trực tiếp là Tổng cục công nghiệp quốc phòng. Bước vào thời kỳ đổi mới do chủ
trương chyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, đã mở ra một thời kỳ mới cho các hoạt động kinh tế của đất
nước. Với chủ trương thu hẹp dần sự bao cấp trong hoạt động kinh tế và thúc đẩy
các doanh nghiệp tự hạch toán độc lập, làm ăn có hiệu quả. Trên cơ sơ đó Nhà nước
công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và cho phép các thành phần này
được hoạt động một cách bình đẳng trước pháp luật. Cũng trong bối cảnh này Bộ
quốc phòng đã quyết định chuyển đổi trung tâm giao dịch xuất nhập khẩu và dịch
vụ thuộc Bộ quốc phòng thành công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ Bộ
quốc phòng vào năm 1988 với chức năng chính là kinh doanh xuất nhập khẩu trực
tiếp. Từ đây công ty chính thức được công nhận là một doanh nghiệp nhà nước với
các đặc điểm của nó và thực hiện hai nhiệm vụ chính là xuất nhập khẩu vật tư hàng
hóa, các trang thiết bị quân sự phục vụ cho quốc phòng và kinh doanh. Trong thời
gian này công ty được đánh giá là một doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả,
không ngừng mở rộng qui mô kinh doanh cũng như là sự tăng trưởng nhanh về vốn,
hàng năm công ty đều hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra.