MỤCLỤC
LỜIMỞĐẦU
Chương I : Vốn lưu động và một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
I. Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1. Vốn lưu động
1.1. Vốn lưu động, nội dung vốn lưu động của doanh nghịêp.
1.2. Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.3. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tốảnh hưởng.
2. Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
2.1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn.
2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành.
2.3. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1. Ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hàm lượng vốn lưu dộng.
Mức doanh lợi vốn lưu động
Một số chỉ tiêu khác.
3. Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Chương II : Thực trạng việc tổ chức và sử dụng vốn lưu động tại công ty Gạch
ốp lát Hà Nội.
I. Một số nét về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
1
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của công ty.
LỜIMỞĐẦU
Để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải
có vốn. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình
thành phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Vì vậy, bất kì một
doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới vấn đề quản lý và
sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, nhằm đem lại nhiều lợi nhuận nhất.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt của thị trường đãđòi
hỏi các doanh nghiệp phải tính toán kỹ về hiệu quả của mỗi đồng vốn màđảm
bảo được tái sản xuất giản đơn, vốn bị mất dần sau mỗi chu kỳ kinh doanh, kéo
theo tình trạng thua lỗ kéo dài và phải vắng bóng trên thị trường. Vốn kinh
doanh có hai loại là vốn cốđịnh và vốn lưu động. Trong đó, vốn lưu động như
dòng máu luôn vận động tuần hoàn để nuôi sống doanh nghiệp. Chính vì vậy mà
việc tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không sẽảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Với mong muốn góp phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp công
nghiệp nói chung và của công ty Gạch ốp lát Hà Nội nói riêng, sau khi nghiên
cứu và nhận thức rõ tính cấp thiết của vấn đềđang đặt ra từ thực tiễn, em xin
mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp với đề tài:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động ở Công
ty Gạch ốp lát Hà Nội.
Ngoài phần mởđầu và kết luận, luận văn gồm có các chương sau:
Chương I : Vốn lưu động và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp
Chương II : Thực trạng việc tổ chức và sử dụng vốn lưu động ở Công ty
Gạch ốp lát Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở
Công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
3
Do trình độ lý luận và nhận thức còn hạn chế, thời gian thực tập có hạn
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành mong muốn nhận
thông luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.
5
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông, các doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư
ban đầu nhất định. Số vốn ứng trước này được gọi là vốn lưu động(VLĐ) của
doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ của doanh nghiệp
luôn vận động, thay đổi hình thái biểu hiện và trải qua 3 giai đoạn :
Sự vận động của VLĐ qua các giai đoạn được mô tả theo sơđồ sau :
T - H......(SX)......H
'
- T
'
(đối với các doanh nghiệp sản xuất)
T - H - T
’
(đối với các doanh nghiệp thương mại)
Trong đó : T
'
= T + ∆T
Sự vận động của VLĐ trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ hình thái
ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình
thái tiền tệ gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Quá trình này diễn ra liên tục và lặp đi
lặp lại có tính chất chu kỳ nên còn gọi quá trình chu chuyển của VLĐ. Sau mỗi
chu kỳ sản xuất, VLĐ hoàn thành một vòng luân chuyển.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục nên VLĐ cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu
chuyển vốn và tại mọi thời điểmVLĐ có thể cùng tồn tại dưới nhiều hình thức
khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Từ những phân tích ở trên ra có thể rút ra : VLĐ của doanh nghiệp là số
- VLĐ trong khâu lưu thông :
Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá
quý...); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn...) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong
thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng...).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét đánh giá tình hình
phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình chu chuyển VLĐ, từđóđề ra các biện
pháp tổ chức quản lý thích hợp.
1.3 Kết cấu VLĐ và các nhân tốảnh hưởng :
7
1.3.1. Kết cấu VLĐ
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành
phần VLĐ chiếm trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.
Việc phân tích kết cấu VLĐ giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình
phân bổ và tỷ trọng của mỗi khoản vốn trong quá trình sản xuất. Từđó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc thay đổi kết cấu VLĐ
trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hay
những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý VLĐ của từng doanh
nghiệp.
1.3.2. Các nhân tốảnh hưởng đến kết cấu của VLĐ.
Các nhân tốảnh hưởng đến kết cấu VLĐ của doanh nghiệp có nhiều loại,
có thể chia thành 3 nhóm chính :
- Nhóm nhân tố về mặt sản xuất :
+ Chu kỳ sản phẩm cóảnh hưởng rất lớn đến tỷ trọng vốn sản phẩm dở
dang. Nếu chu kỳ sản phẩm càng dài thì lượng vốn ứng ra cho sản phẩm dở
dang càng lớn và ngược lại.
+ Đặc điểm của quy trình công nghệ và của sản phẩm. Nếu sản phẩm
càng phức tạp thì lượng vốn ứng ra sẽ cao hơn.
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất cóảnh hưởng đến sự khác nhau về tỷ trọng
- Vốn chủ sở hữu :
Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
cóđầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối vàđịnh đoạt, bao gồm: Vốn điều lệ do
chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,
vốn do Nhà nước tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn
còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừđi toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả :
9
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp
có quyền sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của doanh nghiệp
thường bao gồm 2 bộ phận: Nợ chiếm dụng ( các khoản vốn trong thanh toán mà
doanh nghiệp được sử dụng một cách hợp pháp khi chưa tới kỳ hạn) và nợ tín
dụng ( các khoản vốn vay từ các chủ thể khác như : ngân hàng, các tổ chức tài
chính- tín dụng, các doanh nghiệp khác).
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý VLĐ một
cách chặt chẽ. Từđó xác địnhh được đâu là nguồn VLĐ phải trả lãi từđó có kế
hoạch sử dụng VLĐ một cách có hiệu quả.
2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành VLĐ
- Nguồn vốn điều lệ : Phản ánh số vốn do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp bỏ ra, gồm có : Vốn NS cấp (với DNNN); vốn cổ phần, vốn do chủ
doanh nghiệp bỏ ra...
- Nguồn vốn tự bổ sung : Phản ánh số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung,
chủ yếu từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết : Là số VLĐđược hình thành từ vốn góp
liên doanh của bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có
thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá.
- Nguồn vốn tín dụng : Là số vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc
các tổ chức tín dụng, vay bằng việc phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn chiếm dụng : Phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng
một cách hợp pháp của các chủ thể khác trong nền kinh tế, phát sinh trong quan
vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
II. SỰCẦNTHIẾTPHẢINÂNGCAOHIỆUQUẢTỔCHỨC,
SỬDỤNGVỐNLƯUĐỘNGCỦADOANHNGHIỆPTRONGNỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNG
1. Ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng VLĐ trong
doanh nghiệp.
11
Điểm xuất phát của quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
là phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có vốn sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng vốn như
thế nào cho có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát
triển của mỗi doanh nghiệp. Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công
tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý VLĐ không những đảm bảo sử
dụng VLĐ hợp lý tiết kiệm mà còn cóý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi
phí, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí bảo quản, đồng thời thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời. Vì vậy, kết quả hoạt
động của doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn là do chất lượng quản lý VLĐ
quyết định.
Trước đây, trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp quốc doanh được Nhà
nước bao cấp vốn hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, bao cấp về giá, sản xuất kinh
doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, lỗđã có Nhà nước bù, lãi Nhà nước thu...Do đó,
công tác quản lý sử dụng vốn trong các doanh nghiệp quốc doanh không được
quan tâm đúng mức, vai trò của vốn bị xem nhẹ, vì vậy hiệu quả sử dụng vốn
thấp.
Từ sau Đại hội Đảng Việt Nam Khoá VI, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng
định nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh
tế thị trường với đa thành phần kinh tế tham gia có sự quản lý vĩ mô của Nhà
nước theo định hướng XHCN.
12
Doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường làđơn vị hạch toán kinh
doanh độc lập, nơi trực tiếp sử dụng và khai thác mọi khả năng để sản xuất kinh
hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì doanh
nghiệp phải cóđủ vốn đầu tư vào lĩnh vực đó khiến các hình thái cóđược mức độ
hợp lý tối ưu vàđồng bộ với nhau khiến việc chuyển hoá hình thái vốn trong quá
trình luân chuyển được thuận lợi.
Ba là: Xuất phát từý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trường hợp những
cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật đảm bảo với số vốn hiện có,
bằng các biện pháp quản lý và trường hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn
cóđể có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý hiệu quả từng đồng VLĐ nhằm làm cho VLĐđược thu hồi sau mỗi chu kỳsản
xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển
của vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn có thể giảm bớt được số VLĐ cần
thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn
trước.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn cóý nghĩa quan trọng trong việc
giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Bốn là: Xuất phát từ yêu cầu bảo toàn VLĐđối với hoạt động sản suất
kinh doanh.
14
Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi
nhuận và lợi ích xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra
cho doanh nghiệp là cần phải bảo toàn VLĐ. Do đặc điểm VLĐ chu chuyển toàn
bộ một lần vào giá trị sản phẩm và hình thái VLĐ thường xuyên biến đổi, vì vậy
bảo toàn VLĐ thực chất làđảm bảo cho số vốn cuối kỳđược đủ mua một lượng
vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên thể hiện ở
khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ của tổng số lao động nói chung, duy
trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Hơn nữa, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn
giúp cho doanh nghiệp luôn cóđược trình độ sản suất kinh doanh phát triển,
+ VLĐ
bq3
+ VLĐ
bq4
4
Việc tăng vòng quay vốn lưu động cóý nghĩa kinh tế rất lớn đối với doanh
nghiệp, có thể giúp cho doanh nghiệp giảm được lượng vốn lưu động cần thiết
trong kinh doanh, giảm được lượng vốn vay hoặc có thể mở rộng được quy mô
kinh doanh trên cơ sở vốn hiện có
- Kỳ luân chuyển VLĐ: phản ánh số ngày ( thời gian cần thiết ) để hoàn thành
một vòng luân chuyển VLĐ.
K = 360 hay K = VLĐ
bq
x360
L M
Trong đó: K: Kỳ luân chuyển vốn lưu động
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
VLĐ
bq
: Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Tốc độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các
mặt hàng mua sắm dự trữ, sản suất và tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay
không. Vòng quay của vốn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút
ngắn và chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả.
2.2 Hiệu quả sử dụng VLĐ
Hiệu quả sử dụng VLĐ trong kỳ = Doanh thu trong kỳ
VLĐ
bq
trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ trong kỳ có thể làm ra bao nhiêu
17
Chỉ tiêu này nhỏ thì Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán công
nợ.
Số vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà những hàng hoá tồn kho bình quân
luân chuyển trong kỳ.
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Trị giá hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay càng cao thì vốn luân chuyển càng nhanh, việc kinh doanh
được đánh giá là tốt vì chỉ cần cho hàng tồn kho thấp mà vẫn đạt được doanh thu
cao và ngược lại.
Vòng quay các khoản phải thu: Phản ánh tốc độ chuyển đổi khoản phải
thu thành tiền mặt của doanh nghiệp
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh là
tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào khoản phải thu (không cấp tín
dụng cho khách hàng)
Kỳ thu tiền bình quân:Đo lường khả năng thu hồi vốn nhanh trong thanh
toán. Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu được khoản phải thu.
Kỳ thu tiền bình quân =
Chỉ tiêu này lớn hay nhỏ thì tốt còn tuỳ thuộc vào chính sách của doanh
nghiệp: như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
3. Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ của
doanh nghiệp.
18
Xuất phát từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐđã trình bày
ởtrên thì phương hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là không
ngừng tăng doanh thu và tổ chưc sử dụng vốn tiết kiệm, hợp lý.Từ những xu
hướng đó có thể chỉ ra một số biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất: Xác định một cách chính xác nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho
sử dụng vốn.
Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường phát huy
chức năng giám đốc của tài chính trong việc sử dụng tiền vốn nói chung và VLĐ
nói riêng ở tất cả các khâu từ dự trữ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Thứ sáu: Tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
quản lý, nhất làđội ngũ quản lý cán bộ tài chính.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ của các doanh nghiệp. Trong thực tế, do các doanh nghiệp thuộc các ngành
nghề kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh khác nhau nên mỗi doanh nghiệp cần
căn cứ vào những giải pháp chung để từđóđề ra những biện pháp cụ thể có tính
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp
mình, phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Sau đây là những nghiên cứu
cụ thể về việc thực hiện tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐở
công ty Gạch ốp lát Hà Nội.
20
CHƯƠNGII
THỰCTRẠNGVIỆCTỔCHỨCVÀSỬDỤNGVỐNLƯUĐỘNG
TẠICÔNGTYGẠCHỐPLÁTHÀNỘI
I.
MỘTSỐNÉTVỀTÌNHHÌNHHOẠTĐỘNGSẢNXUẤTKINHDOANHCỦA
CÔNGTY GẠCHỐPLÁT HÀ NỘI
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của công ty
Công ty gạch ốp lát Hà Nội là một thành viên của công ty Thuỷ tinh và
gốm xây dựng- Bộ xây dựng, chuyên sản xuất gạch ốp tường, gạch lát men phục
vụ cho các công trình xây dựng. Trước đây công ty gạch ốp lát Hà Nội là một xí
nghiệp công nghiệp thuộc công ty gốm xây dựng Hữu Hưng.
Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng được thành lập từ tháng 6 năm 1959
theo quyết định số 094A- Bộ xây dựng với tên gọi là xí nghiệp gạch ngói Hữu
Hưng. Trụ sở của công ty tại Đại Mỗ huyện Từ Liêm- Hà Nội. Công ty có hai
nhà máy:
22
Những thành quả bước đầu đạt được đãđánh dấu sự trưởng thành và phát
triển của công ty. Cho đến nay, công ty đã có rất nhiều chi nhánh vàđại lý trên
khắp các tỉnh và thành phố trong cả nước nhờ chất lượng hàng đầu.Thị trường
tiêu thụ của công ty trải khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và tập trung nhiều ở các
tỉnh thành phố lớn. Ngoài ra sản phẩm của công ty đãđược xuất khẩu đi nhiều
nước trên thế giới. Đây là thành tựu to lớn đánh dấu bước mởđầu cho việc làm
ăn với các bạn hàng thế giới vàđồng thời cũng ghi nhận sự trưởng thành và lớn
mạnh của công ty gạch ốp lát Hà Nội.
Có thể nói, chất lượng sản phẩm của công ty hầu như không thua kém gì
so với hàng ngoại nhập song mẫu mã, hình thức sản phẩm, chất lượng vỏ hộp
cũng là một yếu tố tạo nên sự cạnh tranh. Công ty đã cải tiến mẫu mã cho đẹp
hơn mà vẫn mang nét đặc trưng truyền thống của công ty, đồng thời nghiên cứu
và bổ sung thêm các chi tiết trang tríđể tăng thêm sức hấp dẫn cho sản phẩm.
Để tạo ra sự thống nhất về tên gọi với các sản phẩm khác của Tổng công ty
thủy tinh và gốm xây dựng, ngày1/1/1999, nhãn hiệu sản phẩmVICERA của
công ty gạch ốp lát Hà Nội được thay bằng nhãn hiệu VIGLACERA.
2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty
2.1. Chức năng
Công ty gạch ốp lát Hà Nội có chức năng sản xuất và kinh doanh sản
phẩm gạch ốp tường, gạch lát nền, gạch ốp nhà vệ sinh nhằm phục vụ cho nhu
cầu xây dựng và trang trí các công trình xây dựng.
2.2. Nhiệm vụ
Công ty gạch ốp lát Hà Nội có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Thực hiện nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh gạch ốp lát theo kế hoạch
phát triển của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng VIGLACER
- Xây dựng và phát triển nguồn vốn đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xây dựng.
23
- Thực hiện nghĩa vụ lao động đối với người lao động trong công ty,
thực hiện tốt kế hoạch đó theo tháng, quý, năm, cung cấp những chỉ tiêu kinh tế
tài chính cần thiết cho giám đốc công ty; thực hiện hạch toán kế toán theo quy
định của Nhà nước vàđiều lệ hoạt động của Tổng công ty, của công ty; lập báo
cáo kế hoạch để phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Phòng kế hoạch sản xuất: Có chức năng lập kế hoạch sản xuất và kế
hoạch giá thành sản phẩm theo tháng, quý, năm, lập kế hoạch và tổ chức cung
cấp đầy đủ, kịp thời, đúng số lượng và chất lượng các loại vật tư, nguyên nhiên
liệu, phụ tùng thiết bị, phân tích đánh giá và tổng kết việc thực hiện kế hoạch và
làm các báo cáo định kỳ.
Phòng kinh doanh: Thực hiện các công việc về thương mại để bán hết sản
phẩm của công ty sản xuất ra, thực hiện các công việc nghiên cứu thị trường
vàđề ra các chiến lược kinh doanh của công ty, thực hiện các công việc kinh
doanh khác để sinh lời và các dịch vụ sau bán hàng.
Phòng kỹ thuật-KCS: Có chức năng kỹ thuật và chức năng KCS.
Phòng tổ chức lao động: Có chức năng xây dựng kế hoạch quản lý
công tác tổ chức, lao động tiền lương, định mức lao động, bảo hiểm xã hội, quản
lý công tác đào tạo, theo dõi ký kết hợp đồng lao động, quản lý hồ sơ cán bộ
công nhân viên, giải quyết thủ tục tuyển dụng, thôi việc.
Phòng hành chính: Quản lý và thực hiện toàn bộ công tác hành chính
trong công ty theo quy định chung về pháp lý hành chính của Nhà nước; quản lý
theo dõi việc sử dụng tài sản của công ty; thực hiện công tác đối nội, đối ngoại,
giao dịch hàng ngày; thực hiện công tác y tế cơ sở.
3.2. Cơ cấu tổ chức sản xuất
Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty được chia làm hai phân xưởng:
Phân xưởng sản xuất gạch ốp lát: Có chức năng sản xuất có hiệu quả
gạch ốp tường, lát nền theo kế hoạch của công ty giao cho, đảm bảo về số lượng
25