Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC 5
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 5
1.1. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp: 5
1.1.1. Khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của ngành xây lắp 6
1.1.2.1 Ngành công nghiệp xây lắp phát triển là điều kiện khai thác và sử
dụng tối đa nguồn lực của đất nước 6
1.1.2.2 Khuyến khích sự phát triển của ngành xây lắp là cơ hội thu hút
lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội 7
1.1.2.3 Ngành xây lắp được thành lập theo quy định của pháp luật, giữ
một vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hơn các mục tiêu
kinh tế vĩ mô của đất nước. 7
1.1.2.4 Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần có sự
đóng góp không nhỏ của ngành xây dựng cơ bản. 7
1.1.3 Đặc điểm của ngành nghề xây lắp 8
1.1.3.1 Đặc điểm về các loại hình tổ chức sản xuất 8
1.2.2.2 Đặc điểm về sản phẩm của ngành xây lắp 9
1.1.2.3 Đặc điểm về tổ chức thi công công trình 10
1.1.2.4 Vốn và vấn đề chu chuyển vốn tại doanh nghiệp xây lắp 10
1.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xây lắp 12
1.2.1 Chất lượng tín dụng ngắn hạn trong các Ngân hàng thương mại: 12
1.2.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xây lắp: 14
1.2.2.1 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn
hạn trong lĩnh vực xây lắp 15
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh
NGẮN HẠN TRONG LĨNH VỰC XÂY LẮP TẠI CHI NHÁNH 57
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẦU GIẤY 57
3.1 Định hướng cho hoạt động tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 57
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp
tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 58
3.2.1 Đổi mới chính sách tín dụng ngắn hạn phù hợp trong lĩnh vực thi
công xây lắp 59
3.2.2 Tăng cường đánh giá năng lực các doanh nghiệp xây lắp 62
3.2.3 Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc thẩm định trong cho vay 64
3.2.4 Tăng cường các biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng
ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp 65
3.2.5 Kiểm tra và giám sát chặt chẽ quá trình vay và sử dụng vốn vay cũng
như quá trinh trả nợ vay của các doanh nghiệp xây lắp 67
3.2.6 Tăng cường trao đổi, đúc rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay,
từng doanh nghiệp 67
3.2.7 Nâng cao năng lực và chất lượng cán bộ tín dụng 68
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây
lắp 69
3.3.1 Với cơ quan Nhà nước 69
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 70
3.3.3 Với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 72
3.3.4 Với các doanh nghiệp xây lắp 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Nguyễn Thị Trang 2 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế xã hội Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang có những
bước khởi sắc rất đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng đạt 7,5%; kinh tế, chính trị,
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Quá trình thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu
Giấy đã hướng sự quan tâm đặc biệt của tôi về vấn đề này, về tầm quan trọng, về
những thuận lợi, khó khăn và thách thức đang đặt ra đối với Ngân hàng và các
doanh nghiệp trước cửa ngõ của quá trình hội nhập và phát triển. Chính vì vậy
mà tôi đã tự lựa chọn cho mình đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn
trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu
Giấy”
Chuyên đề được kết cấu theo 3 chương lớn:
Chương I: Tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây
lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy.
Nguyễn Thị Trang 4 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
Tín dụng ngắn hạn là một nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng và
nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong thi công xây lắp được xác đinh
là một chiến lược kinh doanh quan trọng đối với hệ thống Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam nói chung và đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Cầu Giấy nói riêng.
1.1. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp:
Các doanh nghiệp hình thành và hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh
doanh khác nhau, với những chức năng, nhiệm vụ và vai trò đối với nền kinh
tế cũng rất khác nhau. Các Ngân hàng đã tự phân loại đối tượng khách hàng
theo các lĩnh vực: thi công xây lắp, kinh doanh thương mại và hoạt động sản
xuất để theo dõi việc vay vốn và sử dụng vốn của từng thành phần doanh
nghiệp.
Quá trình đổi mới của nước ta đã trải qua một thời gian khá dài, đó là
một quá trình mà ngành công nghiệp xây lắp phát huy hết khả năng của nó và
mang lại những kết quả rất đáng ghi nhận trong việc khai thác, sử dụng nguồn
lực đất nước cùng với việc mở ra một sự hứa hẹn cho một tiềm năng phát
triển kinh tế lớn bởi sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng là một cơ
hội để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, một cơ hội để con người
phát huy trình độ, tay nghề và tính sáng tạo vì lợi ích của chính cá nhân họ và
vì lợi ích cộng đồng. Đó là động lực kích thích sự phát triển của lực lượng sản
xuất, thúc đẩy xã hội phát triển theo kịp với tốc độ tăng trưởng của khu vực
và thế giới.
Nguyễn Thị Trang 6 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.2 Khuyến khích sự phát triển của ngành xây lắp là cơ hội thu hút lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội
Một lợi thế lớn của Việt Nam là một lực lượng lao động đông đảo với
sức khỏe, sức trẻ, nhiều đối tượng được qua những lớp đào tạo chính quy, có
trình độ tri thức và tay nghề cao. Bước sang nền kinh tế thị trường, tính đa
dạng của loại hình xây lắp được phát huy trên tất cả các ngành nghề, có mặt
tại tất cả các khu vực từ nông thôn đến thành thị với nhiều loại hình doanh
nghiệp khác nhau từ doanh nghiệp Nhà nước đến các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh hoạt động ngày càng hiệu quả. Ngành xây lắp là ngành nghề tạo
việc làm nhanh và dễ dàng hơn so với các ngành nghề khác qua việc tiếp nhận
và điều chuyển lực lượng công nhân tới rất nhiều vị trí lao động khác nhau tại
tất cả các công trình xây dựng được trải dài trên khắp đất nước.
1.1.2.3 Ngành xây lắp được thành lập theo quy định của pháp luật, giữ một
vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hơn các mục tiêu kinh tế vĩ
mô của đất nước.
Sự hoạt động có hiệu quả của ngành xây lắp nhanh chóng làm tăng chỉ
tiêu GDP, tăng thu cho ngân sách Nhà nước và thúc đẩy quá trình tái sản xuất
mở rộng, tăng nhanh doanh số và chất lượng sản phẩm xây dựng trên thị
dựng:
* Công trình dân dụng: Bao gồm các công trình công cộng (văn hoá,
giáo dục, y tế, thương nghiệp, dịch vụ, khách sạn, nhà phục vụ giao thông,
thông tin liên lạc), các công trình về nhà ở chung cư, nhà riêng…
* Công trình công nghiệp: bao gồm các công trình khai thác (khai thác
than, quặng, dầu khí, công trình kho xăng dầu, công trình luyện kim…); các
công trình cơ khí, chế tạo; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công
trình công nghiệp nhẹ…
* Các công trình giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, hầm, sân
bay…
Nguyễn Thị Trang 8 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
* Các công trình thuỷ lợi như giếng, đường ống dẫn nước, kênh, hồ
chứa đập,…
* Các công trình hạ tầng kỹ thuật như cấp thoát nước, xử lý chất thải,
công trình chiếu sáng đô thị,….
1.2.2.2 Đặc điểm về sản phẩm của ngành xây lắp
- Sản phẩm xây lắp thường không đồng bộ, luôn biến đổi theo địa điểm
và giai đoạn xây dựng; quy mô lớn, kết cấu phức tạp, giá trị lớn, thời gian sản
xuất và sử dụng lâu dài.
- Chất lượng của sản phẩm xây lắp nhiều khi quyết định đến chất lượng
của các ngành sản xuất khác có liên quan.
- Vì sản phẩm xây lắp rất đa dạng, giá trị mỗi dự án là khác nhau nên
để hoàn thành sản phẩm trong lĩnh vực thi công xây lắp yêu cầu phải có nhiều
chủng loại nguyên vật liệu, máy móc và những công nhân theo các ngành
nghề khác nhau. Các sản phẩm này cũng có thể là những mạch máu nối liền
các ngành, vùng địa phương như các đường giao thông, cảng biển…nên cần
cân nhắc tập trung vốn và nhân lực hợp lý khi triển khai dự án.
Sản phẩm của ngành xây lắp được thiết kế riêng về kỹ thuật. Mỗi công
trình đều có những yêu cầu, những tiêu chuẩn riêng cần được thực hiện về
đúng tiến độ, các đơn vị xây lắp bao thầu (bên B) sẽ chịu trách nhiệm trong
vấn đề xây dựng các công trình theo thiết kế của chủ đầu tư. Các doanh
nghiệp xây lắp có uy tín, có năng lực trong kỹ thuật thi công cùng với năng
lực tài chính sẽ ngày càng được đánh giá cao.
Doanh nghiệp xây lắp thực hiện việc hoàn thành công trình cũng cần có
những giá trị đầu vào cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất ra thành phẩm.
Những đối tượng lao động của doanh nghiệp được chia thành:
Nguyễn Thị Trang 10 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
- Vật tư dự trữ chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (nguyên,
nhiên vật liệu….)
- Vật tư đang trong quá trình chế biến (bán thành phẩm)
Hai bộ phận này hình thành nên tài sản lưu động của doanh nghiệp
trong quá trình xản xuất, tài sản lưu động này sẽ vận động không ngừng cùng
tài sản lưu động trong lưu thông (tức là các tài sản này sẽ thay thế nhau trong
quá trình chọn lọc, xuất giao sản phẩm và thanh toán) và đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất diễn ra thuận lợi và liên tục.
Về phía các doanh nghiệp xây lắp, vốn lưu động được chia thành:
- Vốn nằm trong quá trình dự trữ
- Vốn đang trong quá trình sản xuất
- Vốn đang trong quá trình lưu thông
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là được thi công và hình thành ngay tại
chỗ, không phải nhập kho và vận chuyển đi tiêu thụ, công trình được thực
hiện theo những hợp đồng đặt hàng nên sản phẩm xây lắp có thể được bán
ngay sau khi hoàn thành và không bị gây khó khăn trong vấn đề tiêu thụ.
Ngay khi kết thúc việc thi công một công trình xây dựng thì công trình đó sẽ
được bàn giao cho người giao thầu và được lập biên bản kiểm nghiệm theo
yêu cầu chi trả sau khi việc nghiệm thu công trình hoàn tất, doanh nghiệp xây
lắp khi tham gia vào việc bao thầu cũng cần có một số vốn ban đầu, tức là
cũng cần có một năng lực tài chính cần thiết cho việc đầu tư vào các tài sản
như một phương tiện giúp các doanh nghiệp sửa chữa được khiếm khuyết tất
yếu này, thời vụ làm ăn không bị bỏ lỡ và sản xuất kinh doanh tiếp tục được
vận hành, lưu thông thông suốt, liên tục, nguồn vỗn xã hội được sử dụng có
Nguyễn Thị Trang 12 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
hiệu quả. Bên cạnh đó tín dụng ngắn hạn còn giúp các doanh nghiệp mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường.
- Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp thực hiện quản lý vốn và sử
dụng vốn có hiệu quả:
Ngân hàng trước khi giải ngân sẽ tự đánh giá khả năng thu hồi khoản
vay qua các phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ đảm bảo
cho những doanh nghiệp có năng lực với những dự án khả thi, cân đối được
nguồn vốn trả nợ đúng hạn cho ngân hàng mới được cấp tín dụng.
Hoạt động tín dụng ngắn hạn yêu cầu doanh nghiệp phải hoàn trả nợ
(gốc và lãi) sau một thời gian ngắn (dưới 12 tháng). Chính động lực này đã
đôn đốc các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh và
đảm bảo có tỷ suất lợi nhuận lớn. Doanh nghiệp muốn nhận được tài trợ từ
nguồn tín dụng ngắn hạn đòi hỏi phải thuyết trình năng lực tài chính của mình
trước các cán bộ thẩm định và tín dụng của Ngân hàng. Khi hợp đồng đã được
ký, ngân hàng sẽ thực hiện quá trình kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn
của doanh nghiệp, đảm bảo nguồn vốn đựơc sử dụng đúng mục đích và đúng
thoả thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thể giúp đỡ cho
doanh nghiệp các hoạt động về tư vấn, hợp tác với doanh nghiệp tháo gỡ khó
khăn tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng ngắn hạn giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm
và tăng sức cạnh tranh trên thị trường:
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị
trường. Doanh nghiệp muốn đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh thì phải
đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế nhất định theo những tiêu chuẩn, những yêu cầu
chất lượng của một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Chất lượng của một sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ là khả năng của một sản phẩm trong việc hoàn thành
các chức năng của mình. Hoặc đơn giản hơn có thể hiểu là giá trị sử dụng của
Nguyễn Thị Trang 14 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đó dựa trên cơ sở mức độ thoả mãn nhu cầu
người tiêu dùng.
Để đạt tới chất lượng tín dụng, theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế
thì con đường đó là liên tục, năng động, không ngừng được cải thiện và đổi
mới, điểm mốc là vô cùng mà không có điểm tận cùng. Chất lượng tín dụng
ngắn hạn theo nghĩa rộng được hiểu là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng,
bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của Quốc gia. Sản phẩm tín dụng luôn là những đối
tượng giành được sự quan tâm nhiều nhất của các Ngân hàng thương mại vì
những khoản thu nhập đáng kể mà chúng mang lại nếu không nói là lớn nhất
được thể hiện trong bảng quyết toán tài sản ở mỗi Ngân hàng, đặc biệt là các
Ngân hàng tại Việt Nam khi mà các sản phẩm dịch vụ khác còn chưa nhiều.
Chính vì vậy mà khái niệm về chất lượng tín dụng cần phải được hiểu một
cách thấu đáo giúp cho việc phát triển các sản phẩm tín dụng ngày càng gần
gũi hơn với khách hàng mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận Ngân hàng, nó
phản ánh mức độ thích nghi của Ngân hàng với sự thay đổi của môi trường
bên ngoài, thể hiện sức mạnh của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn
tại.
1.2.2.1 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn
hạn trong lĩnh vực xây lắp
Quá trình đổi mới và xây dựng Đất nước đang bước vào giai đoạn rất
mau lẹ và sôi động, các công trình xây dựng cơ bản đang được xúc tiến với
tiến độ khẩn trương và gấp rút. Tín dụng ngắn hạn đang là chiếc chìa khoá
cho các nhà đầu tư huy động được lượng vốn lớn cần thiết trong khoảng thời
gian ngắn đáp ứng cho nguồn vốn lưu động.
các nguyên tắc tín dụng.
- Đối với các doanh nghiệp xây lắp
Nâng cao chất luợng tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp là một cơ
hội giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này hoạt động có hiệu
Nguyễn Thị Trang 16 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
quả hơn rất nhiều. Trước hết, với áp lực của nguồn vốn đi vay phải hoàn trả
gốc và lãi trong thời gian ngắn (dưới 1 năm) buộc các nhà đầu tư phải gấp rút
tiến hành thi công các dự án một cách hiệu quả nhất nhằm đưa công trình vào
hoạt động trong thời gian nhanh nhất. Việc đi vay yêu cầu khách hàng phải có
những cam kết ràng buộc với phía Ngân hàng những điều khoản thoả thuận
trong hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng sẽ được Ngân hàng giám sát một
cách chặt chẽ bảo đảm cho công trình được thực hiện đúng tiến độ và đúng
chất lượng. Việc này cũng là điều kiện để doanh nghiệp củng cố chế độ hạch
toán và kế toán theo đúng các quy định hiện hành, những chuẩn mực kế toán
khắt khe. Những mối quan hệ thường xuyên với Ngân hàng có thể tạo điều
kiện cho khách hàng tiết kiệm được các chi phí như giảm giá thành, tăng tính
cạnh tranh của hàng hoá, dễ dàng hơn trong việc ký kết các hợp đồng tín dụng
ngắn hạn với lãi suất kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản đáp ứng nhu cầu vay vốn
cấp thiết để duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu qủa hoạt động thi công xây lắp,
hoặc nhận được các dịch vụ tiện ích quan trọng khác từ phía Ngân hàng như
tư vấn miễn phí, nâng cao hạn mức tín dụng, dễ dàng được Ngân hàng xem
xét bảo lãnh…
- Đối với toàn bộ nền kinh tế
Khi các Ngân hàng hay các doanh nghiệp xây lắp làm ăn có hiệu quả,
tức là một bộ phận kinh doanh của Đất nước đang đẩy nền kinh tế đi lên.
Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xây lắp sẽ giúp cho quá trình xây dựng Đất nước, quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá được tiến hành nhanh chóng với cơ sở hạ tầng được
đảm bảo về số lượng và chất lượng. Ngân hàng sẽ giúp cho nhu cầu vốn lưu
một lớn mạnh. Đó là kết quả của cả một quá trình cố gắng, nỗ lực hết mình
trong việc phát huy những tiềm lực nội bộ và khai thác những điều kiện bên
ngoài cho sự phát triển.
- Doanh số thu nợ ngắn hạn: Quan hệ tín dụng kết thúc khi Ngân hàng
thu hồi hết gốc và lãi, các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng
Nguyễn Thị Trang 18 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
hạn là các khoản tín dụng an toàn. Có các khoản tín dụng không được hoàn
trả hoặc được hoàn trả không đủ, không đúng hạn, việc thanh toán nợ không
đúng hạn cho Ngân hàng cho thấy các trục trặc trong hoạt động của khách
hàng, tìm ra nguyên nhân và kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến
tính an toàn của tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng là việc rất
quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng
thống kê số tiền thu nợ của các doanh nghiệp trong một thời kỳ hình thành
nên chỉ tiêu doanh số thu nợ ngắn hạn. Nếu doanh số thu nợ ngắn hạn cao
chứng tỏ Ngân hàng đang có các khoản tín dụng ngắn hạn chất lượng tốt. Để
tìm được các khoản tín dụng này một mặt phụ thuộc vào chính sách khách
hàng, một mặt đòi hỏi Ngân hàng phải có một đội ngũ các cán bộ tín dụng có
kỹ năng, kinh nghiệm, linh động trong việc thẩm định và đánh giá phương án
kinh doanh, tài sản đảm bảo, đánh giá năng lực tài chính của khách hàng cũng
như có những dự đoán và phản ứng nhanh nhạy trước những biến động của
thị trường, của nền kinh tế.
- Dư nợ tín dụng ngắn hạn phản ánh số tiền mà Ngân hàng hiện đang
còn cho khách hàng vay vào thời điểm tính hay vào thời điểm cuối kỳ. Nếu
chỉ tiêu này tăng ổn định qua các năm chứng tỏ Ngân hàng đang có chiến lược
mở rộng thị phần hợp lý.
* Các chỉ tiêu về cơ cấu tín dụng
Đây là các chỉ tiêu mà các Ngân hàng đang sử dụng để đánh giá chất
lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
lắp thông qua việc xác định xem Ngân hàng đã đáp ứng được bao nhiêu phần
cho vay ngắn hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn cũng như tốc độ tăng
giảm của chúng qua mỗi thời kỳ cần được theo dõi thường xuyên giúp tìm ra
Nguyễn Thị Trang 20 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn càng thấp thì
chất lượng tín dụng càng cao và việc xem xét biến động của tỷ lệ này qua các
thời kỳ có thể thấy được hiệu quả của công tác quản lý tín dụng ngắn hạn tại
Ngân hàng đó.
* Các chỉ tiêu khác
Chất lượng tín dụng còn được thể hiện thông qua các khoản cho vay có
vấn đề, qua việc xếp loại và cho điểm khách hàng - những dấu hiệu đánh giá
sự lành mạnh của từng khoản tín dụng mà Ngân hàng đã, đang và sẽ giải
ngân. Các chỉ tiêu khác nhau cần được phối hợp khéo léo trong việc đánh giá
một khoản nợ vì các quan điểm khác nhau, các cách tính toán khác nhau có
thể làm một số chỉ tiêu bị biến dạng.
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với
doanh nghiệp xây lắp
* Nhân tố chủ quan
- Từ phía Ngân hàng: Chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng bởi chính sách
tín dụng, việc phân tích tín dụng, quy trình tín dụng, thông tin tín dụng, việc
huy động vốn và chất lượng cán bộ tín dụng tại Ngân hàng.
+ Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một Ngân hàng,
trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên Ngân hàng,
tăng cường tính chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất
chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng
sinh lời, có ý nghĩa quyết định đến thành công hay thất bại của Ngân hàng.
Chính sách tín dụng đã được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm. Chính
sách tín dụng càng hoàn thiện tức là chất lượng tín dụng càng được bảo đảm,
cơ hội thu hút nhiều khách hàng mới càng tăng lên, mối quan hệ với các
+ Chất lượng cán bộ tín dụng: Nhân tố con người phải thường xuyên
được quan tâm và coi trọng hàng đầu, là nhân tố quyết định tới thắng lợi tới
bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào. Trình độ về nghiệp vụ, giao tiếp,
Nguyễn Thị Trang 22 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
marketing, ngoại ngữ, vi tính, sự tận tình chu đáo cẩn thận và trung thực được
coi là những nhân tố hàng đầu cần có của một cán bộ tín dụng. Nhờ trình độ
của các cán bộ tín dụng mà các khoản tín dụng sẽ được phân tích với những
chỉ tiêu đáng tin cậy giúp Ngân hàng đưa ra được quyết định chính xác và
khách hàng sẽ nhận được một số vốn hợp lý nhất. Chất lượng các khoản vay
đương nhiên được bảo đảm bởi những nhân viên tín dụng chuyên nghiệp,
khách hàng sẽ thực sự yên tâm khi được giao dịch tại Ngân hàng và các mối
quan hệ được mở rộng, các hợp đồng tín dụng luôn sẵn sàng được ký kết.
- Từ phía doanh nghiệp xây lắp: Chất lượng của khoản tín dụng còn
phụ thuộc vào chính doanh nghiệp đang tiếp nhận việc sử dụng nguồn vốn từ
phía Ngân hàng. Cơ chế quản lý và các biện pháp quản lý thi công, việc
nghiệm thu và đạo đức trong kinh doanh sẽ quyết định mức độ hiệu quả của
việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp.
+ Cơ chế quản lý và các biện pháp quản lý thi công công trình của
doanh nghiệp: Trong hoạt động kinh doanh hiện đại, cụ thể trong lĩnh vực xây
lắp - một lĩnh vực đòi hỏi một đội ngũ quản lý có trình độ, trách nhiệm cao
với công việc, một hệ thống quản lý có trật tự nhằm thuận tiện cho việc điều
động những vị trí khác nhau trong khi tiến hành thi công một công trình xây
dựng cơ bản nhiều hạn ngạch, nhiều công đoạn. Tính hiệu quả của dự án là cơ
sở cho đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn. Những sự thay đổi của thị
trường đầu vào, đầu ra, của công nghệ, thị hiếu…trong từng giai đoạn cụ thể
không được tính toán trước có thể gây ra những sự cố bất ngờ cho kế hoạch
thi công và là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng sử dụng vốn vay. Chất
lượng tín dụng ngắn hạn đã bị giảm sút do việc không đưa ra được những dự
đoán đúng và những tính toán trên cơ sở khoa học. Tìm kiếm một cơ chế quản
* Nhân tố khách quan: Liên quan đến các môi trường về kinh tế, pháp
lý và chính trị xã hội
Nguyễn Thị Trang 24 Ngân hàng 44A
Khoa Ngân hàng – Tài chính Chuyên đề tốt nghiệp
+ Môi trường kinh tế gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng
của Ngân hàng thương mại. Quá trình diễn biến và những biến động trong
hoạt động thi công đòi hỏi Ngân hàng phải theo dõi sát sao và nắm bắt nhanh
để đưa ra được những dự đoán kịp thời vì một sự thay đổi trong môi trường
này như: Lạm phát, sự giảm giá tiền tệ, sự suy giảm về sức mạnh tài chính
của người vay do tác động của môi trường kinh tế có thể gây ra những rủi ro,
gây ra sự hao mòn vô hình của những khoản tiền mà Ngân hàng cho vay, làm
giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Môi trường kinh tế thay đổi làm ảnh
hưởng đến tất cả các thành phần kinh tế, đến mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và Ngân hàng cũng không được xem là ngoại lệ vì Ngân hàng
cũng đóng vai trò là một doanh nghiệp đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh của
nền kinh tế.
+ Môi trường pháp lý: Mỗi chủ thể trong nền kinh tế khi tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh đều phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu theo quy
định của pháp luật hiện hành vì pháp luật xây dựng một hành lang pháp lý
lành mạnh cho mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời
môi trường pháp luật còn là cơ sở giải quyết các mối quan hệ giữa Ngân hàng
và khách hàng và đảm bảo lợi ích cho cả hai bên. Trong hoạt động tín dụng
tại Ngân hàng vẫn chưa đồng bộ và đầy đủ, an toàn tín dụng đôi khi chưa thực
sự được bảo đảm, hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được nhu
cầu về giải quyết các tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân
sự… đó là kẽ hở có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của các khoản tín
dụng mà Ngân hàng đang sở hữu.
+ Môi trường xã hôi chính trị: Môi trường chính trị xã hội luôn được
giới kinh doanh quan tâm và đánh giá rất tỷ mỷ vì một môi trường ổn định sẽ
tạo lòng tin cho các khách hàng, các doanh nghiệp và tạo cảm giác yên tâm