Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nước ta hiện nay đang từng bước hội nhập và phát triển
mạnh mẽ thì đồng thời với sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng tài chính là
sức ép cạnh tranh, tăng trưởng trong các tổ chức tín dụng. Điều đó tạo nên
một xu hướng chung trong các tổ chức tín dụng chú ý nhiều hơn tới hệ thống
kiểm tra kiểm soát nội bộ để trở thành một công cụ đắc lực đảm bảo mọi hoạt
động kinh doanh tài chính tiền tệ nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
của các Tổ chức Tín dụng an toàn và hiệu quả.
Tuy nhiên, khái niệm về kiểm tra kiểm soát nội bộ chỉ mới du nhập và
đi vào hoạt động ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ hai mươi. Do đó
hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ trong các tổ chức tài chính, ngân hàng ở
Việt Nam còn rất nhiều bất cập, hạn chế. Điều này sẽ đặt ra ngành ngân hàng,
các tổ chức tài chính rất nhiều khó khăn thách thức trong quá trình hội nhập.
Công ty Tài chính Dầu khí tuy là một công ty mạnh của Tổng Công ty
Dầu khí Việt Nam nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn và thách
thức đó. Vì vậy trong quá trình thực tập tại Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ -
Công ty Tài chính Dầu khí, cùng với sự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, sự chỉ
bảo tận tình của Thầy giáo và các anh các chị nơi em thực tập, nên em đã
quyết định chọn đề tài chuyên đề thực tập: “Nâng cao vai trò của hệ thống
kiểm tra kiểm soát tín dụng tại PVFC”.
Ngoài lời nói đầu và kết luận bố cục của chuyên đề thực tập gồm các phần
sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra kiểm soát tín dụng
trong các tổ chức tín dụng
Chương II: Thực trạng hoạt động kiểm tra kiểm soát tín dụng tại
PVFC.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao vai trò
của hệ thống kiểm tra kiểm soát đối với hoạt động tín dụng tại PVFC.
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
Thứ tư bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý, mục tiêu
này yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp vừa phải thực sự có hiệu quả đồng
thời cũng phải tiết kiệm tối đa các nguồn lực cho doanh nghiệp.
* Quy trình chung :
Quy trình kiểm tra kiểm soát nội bộ trong hệ thống kiểm tra kiểm soát
của các công ty thường bao gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Chuẩn bị kiểm tra:
Đây là khâu đầu tiên trong quá trình kiểm tra kiểm soát nhằm tạo ra
tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi tiến hành kiểm tra, kiểm soát. Trong
bước đầu tiên này các thành viên tham gia phải chuẩn bị chi tiết nội dung sau:
* Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm tra, kiểm soát:
Mục tiêu kiểm tra là cái đích cần phải đạt tới và là thước đo về kết quả
kiểm tra trong từng cuộc kiểm tra cụ thể. Mục tiêu kiểm tra cần phải căn cứ
theo những yêu cầu nhất định như sau:
+ Mối quan hệ giữa chủ thể kiểm tra và khách thể kiểm tra
+ Loại hình kiểm tra
+ Yêu cầu quản lý
* Tiến hành chỉ định người tiến hành kiểm tra và chuẩn bị cơ sở vật
chất cơ bản cho quá trình kiểm tra kiểm soát.
* Thu thập thông tin cơ bản:
Mục đích nhằm giúp cho các kiểm tra viên có cái nhìn khách quan về
khách thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra qua đó đưa ra quyết định kiểm tra.
Những thông tin cơ bản thường bao gồm:
+ Các loại và đặc điểm nghiệp vụ cần kiểm tra
+ Cơ cấu tổ chức và đặc điểm đơn vị được kiểm tra.
+ Các văn bản có liên quan đến đối tượng kiểm tra và khách thể kiểm tra.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
* Lập kế hoạch kiểm tra ( kế hoạch tổng quát):
Xác định thời gian thực hiện công tác kiêm tra, thời điểm diễn ra cuộc
ban lãnh đạo công ty.
1.1.2 Kiểm tra kiểm soát tín dụng.
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng, chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá
chất lượng tín dụng trong các tổ chức tín dụng.
* Khái niệm tín dụng.
Cùng với sự phát triển của trao đổi và mua bán hàng hoá, tín dụng là
một quan hệ kinh tế đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người. Ban đầu khi
mới xuất hiện tín dụng chỉ là một hình thức tín dụng thương mại xuất phát từ
quan hệ mua bán chịu những hàng hoá đơn giản giữa một số người với nhau,
trải qua một thời gian dài tín dụng thương mại đã phát triển ở mức độ cao
hơn, tuy bản chất không thay đổi nhưng về hình thức và nội dung của quan hệ
tín dụng thì đa dạng và phong phú hơn rất nhiều. Điều đó tạo điều kiện cho
lượng vốn trên thị trường lưu thông mạnh hơn do các doanh nghiệp vừa đáp
ứng được nhu cầu về vốn lại vừa bán được hàng thông qua tín dụng thương
mại, song mặt khác tín dụng thương mại chỉ có thể thực hiện được giữa
những người có quan hệ giao dịch thường xuyên trong phạm vi buôn bán chịu
hàng hoá đã thực hiện với nhau hơn nữa vốn vay lại thường là một bộ phận
nằm trong chu kỳ của người cho vay không thể kéo dài thêm thời hạn. Do vậy
có thể nói tín dụng thương mại bị hạn chế bởi phạm vi quy mô, thời hạn cũng
như chiều hướng của khoản tín dụng. Điều hạn chế này sẽ được giải quyết
bằng tín dụng ngân hàng - một hình thức phát triển cao của tín dụng nói
chung, về bản chất tín dụng ngân hàng vẫn chuyển vốn (dưới dạng tiền tệ hay
hiện vật) từ người này (người cho vay) tới người khác (người vay) trên cơ sở
hoàn trả và thu lãi sau một thời hạn nhất định nhưng khác ở chỗ ngân hàng là
một tổ chức kinh doanh tiền tệ và nó đóng vai trò là một trung gian tài chính,
nó vừa là người cho vay vừa là người đi vay đối với tất cả các thành phần
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
trong nền kinh tế do đó dịch vụ tín dụng mà nó đưa ra là hoàn hảo và đa dạng
nhất nó không bị lệ thuộc vào phạm vi, quy mô và chu kỳ kinh doanh của bất
doanh có hiệu quả sẽ trả được gốc và lãi cho ngân hàng điều này không
những tốt cho các ngân hàng mà còn tốt cho sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Đây chỉ là cách hiểu chung nhất khái quát nhất về chất
lượng tín dụng, còn để đi sâu và đánh giá được chất lượng tín dụng chúng ta
phải xem xét một số chỉ tiêu đánh giá sau:
* Thứ nhất các chỉ tiêu định tính:
Chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các khách hàng
có thể được đánh giá bằng khả năng tăng cường mở rộng tín dụng và mức độ
đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân). Một khoản tín
dụng được coi là có chất lượng tốt khi ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của họ.
Đáp ứng tốt có nghĩa là khi khách hàng cần vốn với số lượng, thời hạn, xác
định ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ đồng thời các thủ tục phải chính xác,
khoa học, nhanh chóng, và thuận tiện, lãi xuất phải phù hợp, tương xứng với
rủi ro của khoản tín dụng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra chất lượng tín dụng của một khoản tín dụng còn thể hiện ở kết
quả hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín, thương hiệu của tổ chức tín dụng
và các khách hàng tham gia quan hệ tín dụng đó. Một mặt, nếu một ngân hàng
được đánh giá là có chất lượng tín dụng tốt thì đồng nghĩa với hoạt động tín
dụng của ngân hàng đó phải bù đắp được chi phí và mang lại thu nhập cho
ngân hàng và nếu một ngân hàng được coi là có uy tín lâu năm và đã mất
nhiều công sức để xây dựng một thương hiệu riêng cho mình thì chắc chắn
chất lượng tín dụng của ngân hàng đó cũng khó có thể không tốt. Bởi lẽ uy tín
và thương hiệu chính là giá trị do khách hàng cảm nhận và mang lại cho ngân
hàng qua những lần sử dụng dịch vụ của ngân hàng, đồng thời những giá trị
về uy tín và thương hiệu đó cũng chính là những cam kết của ngân hàng về
chất lượng của dịch vụ mà ngân hàng đưa ra đối với khách hàng. Mặt khác
với một khách hàng (doanh nghiệp) có uy tín và có mối quan hệ tốt với ngân
hàng thì khả năng thu được nợ của ngân hàng đối với khách hàng đó là lớn
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
cạnh của lợi nhuận do đó tuỳ vào điều kiện của doanh nghiệp (qui mô, thị
trường đầu ra, đầu vào, công nghệ…) mà ta phải kết hợp cả 3 chỉ tiêu trên
một cách hợp lý thì mới đánh giá được tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp
từ đó mới biết được khả năng trả lãi của doanh nghiệp .nhưng nhìn chung nếu
trong cùng một điều kiện (thị trường đầu ra, đầu vào, công nghệ, qui mô )
nếu doanh nghiệp nào có các chỉ tiêu trên đều cao thì khả năng trả nợ cao hơn
tức là chất lượng của khoản tín dụng cho doanh nghiệp đó cao hơn.
Đối với Ngân hàng, Tổ chức Tín dụng:
+ Chỉ tiêu về doanh số cho vay trong kỳ và tốc độ tăng trưởng doanh số
cho vay của ngân hàng đối với khách hàng. Doanh số cho vay trong kỳ đối
khách hàng là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho khách hàng đó vay trong kỳ.
nó thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với
khách hàng. Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay lại thể hiện khả
năng mỏ rộng quy mô cho vay tới khách hàng qua các thời kỳ. Đây là số
tương đối, nếu dương thể hiện quy mô cho vay tăng lên, âm thể hiện quy mô
cho vay đã giảm qua các thời kỳ. Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân
hàng ở mức độ nào thì phải xem xét đánh giá nhiều mặt nhưng nếu doanh số
cho vay lớn cùng tốc độ tăng trưởng doanh số cao thì có thể coi là một chất
lượng tín dụng tốt.
+ Chỉ tiêu về dư nợ của khách hàng: Dư nợ của khách hàng là số tiền
mà ngân hàng còn đang cho khách hàng vay ở một thời điểm nhất định,
thường là ở thời điểm cuối kỳ. Đây là số tuyệt đối thể hiện quy mô cho vay
tới các khách hàng tại một thời điểm nhất định. Số dư nợ này cao hay thấp
chưa thể khẳng định được chất lượng tín dụng tốt hay xấu, nó còn phụ thuộc
vào khả năng trả được nợ của khách hàng trong tương lai và nhiều yếu tố
khác, nhưng theo qui định chung thì số dư nợ của một khách hàng không
vượt quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng. Điều này chứng tỏ số dư nợ của
khách hàng lớn đến một mức nào đó sẽ gây nguy hiểm cho ngân hàng tức là
chất lượng tín dụng có chiều hướng xấu đi.
9
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
này cũng thể hiện khả năng phát triển dịch vụ tín dụng của tổ chức nhưng
đồng thời cũng phải phải đảm bảo được yêu cầu của NHNN về an toàn hoạt
động tín dụng.
1.1.2.2 Kiểm tra kiểm soát tín dụng:
* Khái niệm
Kiểm tra kiểm soát tín dụng trong các tổ chức tín dụng nói chung chỉ là
một trong những khâu của quá trình kiểm tra kiểm soát do hệ thống kiểm tra
kiểm soát nội bộ tiến hành nên sẽ không có một khái niệm chính xác và hoàn
chỉnh vể kiểm tra kiểm soát tín dụng. Do đó ta có thể hiểu một cách đơn giản
kiểm tra kiểm soát tín dụng là một hoạt động của công tác kiểm tra kiểm soát
nội bộ trong đó kiểm tra viên dùng phương pháp nghiệp vụ thích hợp nhằm
kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện ra những sai sót, vi phạm trong quá trình
thực hiện quy trình tín dụng từ đó đưa ra những đề xuất, ý kiến nhằm nâng
cao chất lượng công tác tín dụng cho tổ chức và đảm bảo thực hiện những
mục tiêu đề ra của tổ chức.
* Quy trình chung.
Như chúng ta đã nói ở trên kiểm tra kiểm soát tín dụng là một phần
hoạt động của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ do vậy quy trình thực hiện
của nó không đi ngược lại quy trình kiểm tra kiểm soát nội bộ. Chỉ khác ở
chỗ đối tượng thực hiện của quá trình kiểm tra kiểm soát ở đây là nghiệp vụ
tín dụng, cụ thể hơn là việc phải xem xét các hoạt động liên quan đến nghiệp
vụ tín dụng có thực hiện đúng với quy trình đã đề ra hay không, có đúng với
các quy chế của NHNN và quy định của tổ chức hay không. Về thứ tự các
bước của kiểm tra kiểm soát tín dụng cũng giống như quy trình của kiểm tra
kiểm soát nội bộ, tuy nhiên trong mỗi bước sẽ có các khác biệt cụ thể:
Bước 1. Chuẩn bị kiểm tra.
1.1 Khảo sát và thu thập thông tin:
11
Kiểm tra chủ thể vay vốn:
- Kiểm tra hồ sơ pháp lý (tính đầy đủ của các tài liệu cung cấp theo
quy định Công ty: đăng ký kinh doanh, hồ sơ pháp lý ….)
- Kiểm tra tổng thể dư nợ đối với từng pháp nhân, thể nhân vay vốn để đối
chiếu với mức phân cấp, mức phán quyết và tổng dư cho vay 1 khách hàng so với
vốn tự có (có bị vượt quá 15% vốn tự có của Tổ chức, nếu bị vượt quá thì nguyên
nhân là gì) và có kiến nghị xử lý kịp thời. Kiểm tra đối tượng vay vốn có thuộc
đối tượng không được phép hoặc hạn chế vay vốn không?.
Kiểm tra hồ sơ khoản vay
Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của phương án vay vốn:
Phương án kinh doanh, dự án, luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có
thẩm quyền phê duyệt và dự án đó có tính khả thi không?. Đối với những dự
án XDCB, đầu tư trung và dài hạn cần lưu ý đến cấp có thẩm quyền phê
duyệt.
Kiểm tra trong phương án trả nợ gốc và lãi khách hàng sẽ trả bằng
nguồn nào? Khách hàng phải chứng minh rằng sẽ trả được nợ vay (cả gốc và
lãi) bằng nguồn mà khách hàng đã nêu trong phương án trả nợ.
Kiểm tra hồ sơ cho vay:
- Kiểm tra các tài liệu liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
- Kiểm tra việc áp dụng lãi suất cho vay, loại cho vay, hạn mức tín
dụng, thời hạn cho vay.
- Kiểm tra nguồn vốn cho vay,
- Thời hạn cho vay có phù hợp với phương án kinh doanh nguồn vốn
cho vay,
- Kiểm tra hạn mức cho vay: Căn cứ quy định của chính phủ, theo quy
định riêng của tổ chức.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
- Kiểm tra quá trình thu nợ thu lãi, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ,
kiểm tra sau khi giải ngân, kiểm tra công tác thu nợ thu lãi, thủ tục chuyển nợ
này bởi lẽ tín dụng luôn là một khoản mục chiếm tỷ trọng rât lớn và mang lại
nguồn thu cũng rất lớn trong tổng tài sản của các tổ chức tín dụng. Ta có thấy
điều này qua các chỉ tiêu về tín dụng của một số tổ chức tín dụng sau:
Về số tuyệt đối tại thời điểm cuối năm 2004 tổng dư nợ tín dụng của
một số Tổ chức tín dụng lớn như sau:
STT Tổ chức tín dụng Dư nợ (Triệu đồng) Dư nợ/Tổng tài sản
1 Vietcombank 50.830.650 40%
2 Techcombank là 6.461.690 80%
3 Eximbank là 3.849.070 60%,
4 PVFC 1.869.780 44%
(Nguồn số liệu từ Báo cáo Kiểm toán của các TCTD)
Như vậy thực tế so với tỷ trọng các tài sản khác thì trong kết cấu tài sản
của một ngân hàng khoản mục tín dụng thường có số dư rất lớn và chiếm tỷ
trọng lớn nhất.
* Rủi ro trong hoạt động tín dụng và hậu quả của nó đối với nền kinh tế và
các tổ chức tín dụng.
+ Nguyên tắc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro đối với tín dụng.
Như chúng ta đã biết tín dụng là một nghiệp vụ mang lại lợi nhuận lớn cho
các ngân hàng nhưng đồng thời nghiệp vụ tín dụng cũng luôn luôn mang lại
rủi ro cho ngân hàng đó là rủi ro tín dụng.Tức là khả năng xảy ra những tổn
thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không
trả, hay không trả đủ vốn và lãi. Tính đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro của tín
dụng thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất rủi ro tín dụng luôn luôn đi kèm với hoạt
động tín dụng - một hoạt động sinh lời quan trọng nhất của các tổ chức tín
dụng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi. Bởi lẽ khi ngân hàng thực hiện
một hoạt động tài trợ (tín dụng ) cụ thể ngân hàng đã cố gắng phân tích các
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
yếu tố của người vay sao cho an toàn nhất và nhìn chung khi ngân hàng ra
quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không sảy ra. Tuy nhiên
sảy ra trong lịch sử:
Vào những năm 1970 trên thế giới các NHTM nước ngoài đã cho các
nước kém phát triển vay hàng trăm tỷ đô la. Vào những năm 1980, các khoản
vay này trở nên khó thu hồi (khủng hoảng nợ), hậu quả là các NHTM đã bị
thua lỗ rất lớn và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của chúng cũng như
nền kinh tế trong những năm tiếp theo.
Một ví dụ khác ở Việt Nam vào những năm 1997 nhiều ngân hàng
thương mại do mở rộng cho vay tràn lan đã rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ
khó đòi cao khiến cho các ngân hàng chịu nhiều tổn thất đồng thời làm giảm
tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế và ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng
kinh tế.
* Sự cần thiết phải kiểm tra kiểm soát công tác tín dụng:
Như vậy ta có thể khái quát chung một số đặc điểm của nghiệp vụ tín
dụng trong các tổ chức tín dụng là: Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ cơ
bản, thường xuyên và quan trọng đối với mỗi tổ chức tín dụng. Quan trọng ở
chỗ nghiệp vụ tín dụng vừa mang lại nguồn thu lớn cho tổ chức vừa chứa đựng
nhiều rủi ro ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và phát triển của tổ chức; Nghiệp vụ
tín dụng vừa lớn về số lượng nghiệp vụ vừa phức tạp về hình thức và quy trình
nghiệp vụ do đó là nghiệp vụ rất dễ nảy sinh những sai sót, việc phát hiện và
sửa chữa sai sót cũng rất khó khăn. Do vậy để bảo đảm cho sự hoạt động và
phát triển của các tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng nói chung cần phải
kiểm tra kiểm soát một cách chặt chẽ công tác tín dụng trong mỗi tổ chức tín
dụng. Việc kiểm tra kiểm soát tín dụng một cách chặt chẽ không những làm
giảm tối thiểu rủi ro tín dụng mà còn góp phần nâng cao chất lượng tín dụng
của mỗi ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác do chất lượng tín dụng
trong các tổ chức tín dụng nhất là các tổ chức tín dụng sở hữu nhà nước hiện
nay nhiều khi còn ở mức thấp và hàm chứa nhiều rủi ro do đó việc đẩy mạnh
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
công tác kiểm tra kiểm soát tín dụng trong các tổ chức tín dụng là việc làm cần
dễ dàng phân tích đánh giá và phát hiện những sai sót, vi phạm hơn những
quy trình không chặt chẽ, mang tính chung chung. Hơn nữa nếu quy trình
KTKS được thực hiện cùng một lúc song song với quy trình tín dụng thì thực
sự mới có thể cản trở những sai phạm và đưa hoạt động tín dụng vào nề nếp
và khoa học. Còn khi các nghiệp vụ tín dụng diễn ra xong rồi mới được kiểm
tra sau đó là nhắc nhở, rút kinh nghiệm thì không những có thể gây thiệt hại
cho tổ chức mà lần sau những sai phạm vẫn có cơ hội tiếp diễn, tức là hệ
thống KTKS tín dụng không phát huy được vai trò của mình là ngăn chặn và
sử lý các sai phạm trong hoạt động tín dụng.
* Năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên KTKS tín dụng. Đây là
một yếu tố cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của hoạt động KTKS tín
dụng. Bởi lẽ KTKS nói chung là một công việc đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất
cao. Không những các nhân viên phải có trình độ và kinh nghiệm nhất định
trong lĩnh vực kiểm tra kiểm soát nội bộ hoặc kiểm toán nói chung. Mà đối
với từng nghiệp vụ và (ở đây chúng ta đang xét là nghiệp vụ tín dụng) thì cần
đỏi hỏi nhân viên KTKS phải là những người đã từng làm việc và am hiểu
trong lĩnh vực kinh doanh mà mình sẽ kiểm soát (lĩnh vực tín dụng). Ngược
lại với một đội ngũ nhân viên khả năng chuyên môn kém hoặc không am hiểu
lĩnh vực kinh doanh mà mình kiểm soát thì rõ ràng hệ thống KTKS không thể
nói là mạnh và hoạt động tốt cả.
* Trang thiết bị kĩ thuật. Không chỉ có trong hoạt động KTKS tín dụng
là cần có những trang thiết bị kỹ thuật trợ giúp, mà hiện nay với sự phát triển
như vũ bão của công nghệ thông tin thì tất cả mọi ngành nhất là ngành ngân
hàng tài chính đều cần có những trang thiết bị hiện đại trợ giúp trong quá
trình làm việc. Với những trang thiết bị hiện đại như máy tính xách tay, hệ
thống thông tin mạng… và nhiều trang thiết bị, phần mềm chuyên dụng khác
sẽ giúp cho mọi hoạt động KTKS trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian
hơn và dần dần nâng cao được hiệu quả KTKS tín dụng.
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
cán bộ công nhân viên ngành dầu khí, mà còn cho các doanh nghiệp, các tầng
lớp dân cư, góp phần xây dựng ngành dầu khí trở thành tập đoàn hùng mạnh
không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra khu vực và thế giới.
Vốn điều lệ của Công ty Tài chính Dầu khí là 300 tỷ đồng (Ba Trăm
Tỷ Đồng). Việc tăng, giảm vốn điều lệ của Công ty Tài chính Dầu khí do Hội
đồng quản trị Tổng Công ty quyết định và phải được Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam chấp thuận.
Thời hạn hoạt động của Công ty Tài chính Dầu khí là 50 năm. Trường
hợp cần gia hạn phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận và không được
vượt quá thời hạn hoạt động của Tổng công ty. Mỗi lần gia hạn không quá 50
năm, thời hạn này được kéo dài tương ứng với thời hạn hoạt động của Tổng
Công ty và phải được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận.
Công ty Tài chính Dầu khí chịu sự quản lý của Tổng công ty về chiến
lược phát triển, về tổ chức nhân sự, về qui chế tài chính; chịu sự quản lý của
Ngân hàng Nhà nước theo quy định Pháp luật hiện hành;
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
* Lịch sử phát triển của công ty tài chính dầu khí.
Là một thành viên của tổng công ty dầu khí Việt Nam, công ty Tài
chính Dầu khí Việt Nam (PVFC) đẫ trải qua những chặng đường phát triển
đầu tiên của mình với tất cả những khó khăn và thách thức của một định chế
taì chính còn mới mẻ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập, và PVFC đã
khẳng định được vai trò quan trọng mang tính chiến lược của mình trong
công cuộc đổi mới xây dựng tổng công ty dầu khí trở thành một tập đoàn kinh
tế lớn mạnh cũng như vai trò của mình trong công cuộc xây dựng đổi mới đất
nước. Từ khi thành lập đến nay PVFC liên tục đạt được những thành tựu quan
trọng, các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định, tổ chức kinh doanh ngày càng
được củng cố và hoàn thiện, hệ thống quản lý được nâng cấp theo tiêu chuẩn
quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001:2000, đội ngũ được đào tạo và phát
triển, văn hoá công ty được hình thành.
+ Quản lý khoản vay.
- Dàn xếp thuê mua tài chính : PVFC thay mặt chủ đầu tư tìm kiếm,
lựa chọn, đàm phán với tổ chức cho thuê tài chính để đảm bảo khách hàng có
sơ hội được sử dụng tất cả các dịch vụ thuê mua tài chính với các điều kiện
phù hợp cho dự án, công trình, trang thiết bị, máy móc và các động sản khác.
2.1.2.2 Huy động vốn
Các hình thức huy động vốn :
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức và các cá nhân :
+ Nhận tiền gửi có kỳ hạn của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, các đơn
vị thành viên và các tổ chức kinh tế.
+ Nhận tiền gửi có kỳ hạn của CBCNV trong ngành dầu khí : đây là
nghiệp vụ PVFC đang tích cực triển khai với mục đích để mỗi CBCNV trong
ngành có cơ hội tham gia trực tiếp đầu tư phát triển ngành dầu khí và được
hưởng lợi nhuận từ mục đích đầu tư này mang lại.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
- Vay vốn của các tổ chức tài chính ngân hàng trong và ngoài nước.
- Phát hành chứng từ có giá
- Nhận uỷ thác quản lý vốn và tài sản có Tổng công ty Dầu khí Việt
Nam
- Nhận uỷ thác đầu tư của các tổ chức và các cá nhân.
2.1.2.3 Tín dụng Doanh nghiệp : Các hình thức như :
- Cho vay
- Bảo lãnh
- Bao thanh toán
2.1.2.4 Hoạt động tài chính Doanh nghiệp.
* Các hình thức
- Tư vấn tài chính dự án : Đến với PVFC, chủ đầu tư sẽ nhận được
phương án tài chính tối ưu cho dự án với những thông tin luôn được cập nhật,
tin cậy và chi phí tài chính hợp lý nhất.
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty thường được biểu hiện qua
các chỉ tiêu kinh tế về mặt giá trị, đó là các chỉ tiêu được biểu hiện trong bảng
sau:
25