tăng cường quản lý chi phí nhằm tăng lợi nhuận tại bưu điện tỉnh hải dương - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương 1. Lý luận cơ bản về chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp 3
Chi phí của doanh nghiệp 3
1.1.1.Khái niệm 3
1.1.2. Phân loại 3
1.2. Lợi nhuận doanh nghiệp 8
1.2.1. Khái niệm 8
1.2.2.Phương pháp xác định lợi nhuận 10
1.2.3. Các chỉ tiêu về lợi nhuận của doanh nghiệp 14
1.2.4. Phân phối lợi nhuận và vai trò của loại nhuận đối với doanh nghiệp
16
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận doanh nghiệp 20
1.3.1. Các nhân tố bên ngoài 20
1.3.2. Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp 23
Chương 2. Thực trạng chi phí và lợi nhuận của Bưu điện tỉnh Hải Dương
26
2.1.Giới thiệu về bưu điện tỉnh Hải Dương 26
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Bưu điện tỉnh Hải Dương 29
2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của bưu điện tỉnh Hải Dương 29
2.2. Thực trạng chi phí và lợi nhuận của bưu điện tỉnh Hải Dương 30
2.2.1. Thực trạng lợi nhuận của bưu điện tỉnh Hải Dương 30
2.2.2. Thực trạng doanh thu của bưu điện tỉnh Hải Dương 34
2.2.3. Thực trạng quản lý chi phí bưu điện tỉnh Hải Dương 41
2.3. Đánh giá tình hình lợi nhuận của bưu điện tỉnh Hải Dương 45
2.3.1. Những kết quả đạt được 45
2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân 47
Chương 3. Giải pháp giảm chi phí tăng lợi nhuận tại bưu điện tỉnh Hải Dương
49

chiến lược riêng cho mình, nói đúng hơn là dựa trên tín hiệu của thị trường
mà xây dựng chiến lược theo nguyên tắc : phải bán những thị trường cần chứ
không phải bán những thứ mình có. Trong quá trình cạnh tranh kinh doanh và
khát vọng lợi nhuận đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
tăng cường mục đích cuối cùng là đạt được chỉ tiêu lợi nhuận ngày càng lớn.
Thực tế đã cho thấy sau 20 năm đổi mới, tổng sản phẩm quốc nội liên
tục qua các năm, mọi mặt của đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, quan
hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng. Đó là kết quả của sự nỗ lực
không ngừng của cộng đồng các doanh nghiệp trong nước trong việc không
ngừng tìm kiếm và mở rộng thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ việc nhận thức được vai trò của lợi nhuận và chi phí của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và từ quá trình tìm hiểu những khó
khăn thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu lợi nhuận của Bưu điện tỉnh Hải
Dương, được sự tận tình hướng dẫn của thầy giáo-PGS,TS Vũ Duy Hào và
các bác các chú, anh chị trong bưu điện tỉnh Hải Dương, em đã chọn đề tài:
“Tăng cường quản lý chi phí nhằm tăng lợi nhuận tại Bưu điện tỉnh Hải
Dương”.
Chuyên đề của em được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Lí luận cơ bản về chi phí và lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng chi phí và lợi nhuận của Bưu điện tỉnh Hải
Dương.
Chương 3:Giải pháp nhằm giảm chi phí và tăng lợi nhuận tại Bưu
điện tỉnh Hải Dương.
Do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề của em còn
rất nhiều sai sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và những
người quan tâm để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Ngân hàng- Tài chính, đặc
biệt là thầy giáo-PGS,TS Vũ Duy Hào đã nhiệt tình hướng dẫn em trong quá
trình làm chuyên đề. Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng toàn

động, vật tư .v.v Vậy chúng ta có thể hiểu chi phí sản xuất của một doanh
nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các hao phí về vật chất và về lao động
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm trong một thời kì. Cùng
với sự hoạt động liên tục của doanh nghiệp, các chi phí của doanh nghiệp
cũng mang tính thường xuyên và gắn liền với quá trình tạo ra sản phẩm của
doanh nghiệp. Do đặc điểm này của chi phí sản xuất, hoạt động hạch toán chi
phí sản xuất phải được tiến hành thường xuyên trong các khoảng thời gian
nhất định, không phân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Để quản lí và
kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được kết quả
tiết kiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp, kiểm tra và
phân tích quá trình hình thành chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh
nghiệp, kiểm tra và phân tích quá trình phát sinh chi phí và quá trình hình
thành giá sản phẩm người ta cần phân loại chi phí sản xuất.
- Thứ nhất: Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, những yếu tố sản xuất có
cùng tính chất thì được đưa vào cùng một loại chi phí, mỗi loại chi phí là một
yếu tố chi phí, nếu theo cách này chi phí sản xuất bao gồm 3 nhóm yếu tố:
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Chi phí vật tư: Là giá trị của toàn bộ nguyên vật liệu , vật liệu đầu vào mà
đơn vị sử dụng để sản xuất ra sản phẩm mà doanh nghiệp minh kinh doanh.
Doanh nghiệp kiểm soát chi phí vật tư bằng mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.
Vật tư có thể là vật tư do doanh nghiệp mua sắm hoặc do doanh nghiệp tự sản
xuất được.
*Chi phí lương công nhân trực tiếp: Là các khoản chi phí liên quan đến
người công nhân trực tiếp tham gia sản xuất ra sản phẩm. Nó bao gồm các
khoản chi phí như :chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp có tính chất lương,
tiền ăn giữa ca, chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,
chi phí tổ chức Đảng, đoàn thể. Các khoản chi phí tiền lương được quản lí
chặt chẽ theo định mức lao động và đơn giá tiền lương theo qui định hiện

Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cách phân loại này giúp ta tính và thể hiện được giá thành sản phẩm theo
khoản mục chi phí và phân tích tình hình thực hiện mục tiêu giảm từng mục
chi phí trong giá thành sản phẩm.
- Thứ ba: Phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biến đổi.
- Thư tư: Phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cơ bản và chi phí chung.
Để quản lí tốt chi phí ngoài phân loại chi phí các doanh nghiệp cần phải xem
xét kết cấu chi phí sản xuất để xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi trong
mỗi loại chi phí sản xuất.Kết cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố
chi phí trong tổng số chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp trong cùng một
doanh nghiệp và giữa các ngành có kết cấu chi phí khác nhau. Có nhiều nhân
tố ảnh hưởng tới kết cấu chi phí sản phẩm của doanh nghiệp, trong đó có
những nhân tố chủ yếu là : đặc điểm sản xuất của từng loại doanh nghiệp, các
giai đoạn sản xuất khác nhau, trình độ kĩ thuật, trang thiết bị, loại hình và qui
mô sản xuất, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức, quản lí
Chi phí lưu thông sản phẩm:
Trong nền kinh tế thị trường việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm là hết sức
quan trọng đối với một doanh nghiệp. Dù doanh nghiệp có chất lượng sản
phẩm tốt nhưng hệ thống bán hàng và phân phối sản phẩm của doanh nghiệp
yếu kém thì sản phẩm của doanh nghiệp cũng không thể đến tay người tiêu
dùng được. Khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới
qui mô sản xuất kinh doanh của đơn vị. Để thực hiện hoạt động tiêu thụ sản
phẩm, doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định.Vậy:
“Chi phí lưu thông sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên
quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trong kì như chi phí nhân công bán
hàng, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trong bộ phận bán hàng, chi phí
về vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí bảo hành, quảng cáo tiếp
thị ”

kho cuối kì
Giá thành sản xuất =Chi phí sản xuất + Chênh lệch sản phẩm sản phẩm dở
dang

Chi phí sản phẩm =Chi phí vật tư + Chi phí nhân công trực tiếp +Chi phí sản
xuất chung
Chênh lệch sản phẩm dở dang = Sản phẩm dở dang đầu kì - Sản phẩm dở
dang cuối kì
Đối với doanh nghiệp thương mại:
Giá vốn hàng bán = Giá vốn hàng mua + Chênh lệch hàng hoá tồn kho
Chênh lệch hàng hoá tồn kho = Hàng hoá tồn đầu kì – Hàng hoá tồn cuối kì
Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Vậy doanh
nghiệp muốn tăng lợi nhuân của doanh nghiệp thì việc tìm cách giảm chi phí
là rất quan trọng. Giảm chi phí, hạ giá thành của sản phẩm là điều kiện cơ bản
để doanh nghiệp thực hiện tốt tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn nhanh.
Hạ giá thành sản phẩm trong kì được xác định cho những sản phẩm so sánh
được thông qua 2 chỉ tiêu: mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm.
Trong các sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thành thực tế
với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sản phẩm trong
cùng một kì.
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
doanh nghiệp:
Sự tiến bộ của khoa học- công nghệ.
Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động.
Tổ chức quản lí sản xuất- kinh doanh và quản lí tài chính.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ý nghĩa của việc nghiên cứu giá thành sản phẩm:
-Giá thành của sản phẩm là thước đo mức chi phí phải tiêu hao phải bù đắp, là

+,Chi phí mua bán chứng khoán.
+,Chi phí của quá trình đầu tư kinh doanh bất động sản, thuê tài sản,.
+,Lãi phải trả về vay vốn đầu tư tài chính.
+,Trích thêm số chênh lệch về dự phòng giảm giá đầu tư tài chính.
Chi phí hoạt động bất thường.
Chi phí hoạt động bất thường bao gồm: Là những khoản chi phí phát sinh
khách quan khi xây dựng kế hoạch tài chính doanh nghiêp chưa tính đến,
chẳng hạn như:
+,Giá trị còn lại của tài sản cố định khi thanh lí, nhượng bán.
+,Chi phí về thanh lí, nhượng bán tài sản cố định.
+,Bị phạt do vi phạm hợp đồng.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+,Bị phạt truy nộp thuế.
+,Các khoản chi phí kế toán ghi nhầm hay bỏ sót khi vào sổ.
+,Chênh lệch phải thu khó đòi và dự phòng phải thu khó đòi không đủ hoặc
khoản thu khó đòi mất ngay chắc chắn khi chưa lập dự phòng.
1.2.Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.1.Khái niệm.
Như đã nói ở trên, các doanh nghiệp luôn luôn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ, nghiên
cứu tổ chức sản xuất Do vậy có thể coi tối đa lợi nhuận là mục tiêu truyền
thống và quan trọng của các doanh nghiệp.Xét dưới góc độ lịch sử, những nhà
kinh tế học trong các phân tích của họ đều lấy lợi nhuận là mục tiêu cuối. Từ
xưa đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Marx thì cái phần trội lên nằm
trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận.
Marx cho rằng :giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị hàng
hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của

từ lúc ra đời đến nay. Chính vì thế hiện nay, khi nghiên cứu về lợi nhuận ,
chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Marx về lợi nhuận.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp.
Từ góc độ của nhà quản trị tài chính có thể thấy rằng : Lợi nhuận của doanh
nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ
ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.
1.2.2. Phương pháp xác định lợi nhuận.
Hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng và phong phú, chính vì vậy mà lợi
nhuận của doanh nghiệp cũng có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác
nhau. Tương ứng với các loại chi phí (như ở trên đã phân loại) chúng ta có lợi
nhuận từ các nguồn sau :
Lợi nhuận có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí đã bỏ ra của
khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, lao vụ của các hoạt động sản xuất
kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp.
Lợi nhuận có được từ các hoạt động tài chính :
Là khoản chênh lệch giữa khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính
trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh .
Lợi nhuận thu từ các hoạt động bất thường của doanh nghiệp:
Là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài
các hoạt động đã nêu ở trên.
Lợi nhuận được tính toán bởi việc sắp xếp của bất kì doanh thu nào được
doanh nghiệp tạo ra( không kể tới có phải khách hàng hay không đã trả tiền
cho doanh thu này) và trừ đi tổng số tiền đã chi tiêu của doanh nghiệp. Một
trong số chi tiêu này là sự khấu hao, nó là phần tổn thất trong giá trị của tài
sản cố định như : xe hơi, máy tính gây ra do các tài sản này được sử dụng
vào việc sản xuất kinh doanh.Hiện nay có 3 cách xác định lợi nhuận như sau :
+Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định trực tiếp từ

gồm cả một số loại thuế theo qui định như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt) đã được xác định là tiêu thụ. Khi xác định được doanh thu thì đồng thời
giá trị hàng hoá sản phẩm xuất khẩu cũng được phản ánh vào giá vốn để xác
định kết quả. Do vậy việc xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa rất quan
trọng.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan tới việc huy động, quản
lí và sử dụng vốn trong kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định như sau:
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính=Thu nhập từ hoạt động tài chính-Thuế gián
thu(nếu có)-Chi phí từ hoạt động tài chính
Trong đó:
Thu nhập tài chính gồm:lãi tiền gửi ngân hàng, bán trả góp, lãi kinh doanh
chứng khoán, lãi góp vốn kinh doanh, lãi đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác,
chiết khấu thanh toán khi mua hàng được hưởng, thu tiền do cho thuê tài sản
hoặc bán bất động sản , chênh lệch tỷ giá, hoàn nhập khoản dự phòng.
Chi phí hoạt động tài chính gồm : Lỗ do kinh doanh chứng khoán và các hoạt
động đầu tư khác, chi phí do đem góp vốn liên doanh, chi phí liên quan đến
việc cho thuê tài sản, chênh lệch tỷ giá, lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng
khoán
Lợi nhuận từ hoạt động bất thường khác(hoạt động khác)
Hoạt động bất thường là những hoạt động diễn ra không thường xuyên mà
doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng
thực hiện như hoạt động thanh lí, nhượng bán tài sản cố định, xử lý nợ khó
đòi
Lợi nhuận từ hoạt động bất thường được xác đinh qua công thức sau:
Lợi nhuận từ hoạt động khác=Thu nhập từ hoạt động khác-Thuế gián thu(nếu
có)-Chi phí hoạt động khác
Trong đó:
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D

pháp xác định lợi nhuận qua các bước trung gian.
Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh đó là
lợi nhuận ròng của doanh nghiệp, chúng ta lần lượt tính các chỉ tiêu sau:
Doanh thu bán hàng.
Các khoản giảm trừ doanh thu( chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá
trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu)
Doanh thu thuần [ (1)-(2) ]
Giá vốn hàng bán
Lợi nhuận gộp về hoạt động kinh doanh [(3)-(4) ]
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lí doanh nghiệp
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. [(5)-(6)-(7)]
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thu nhập hoạt động tài chính.
Chi phí hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính[(9)-(10)]
Thu nhập khác
Chi phí khác
Lợi nhuận từ hoạt động khác[(12)-(13)]
Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp[(8)+(11)+(14)]
Thuế thu nhập doanh nghiệp[15*thuế suất thuế TNDN]
Lợi nhuận ròng[(15)-(16)]
Nhận xét:
Cách tính này cho phép người quản lí nắm được quá trình hình thành lợi
nhuận và tác động của từng khâu hoạt động đến kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp. Phương pháp này giúp chúng ta có thể lập báo cáo kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên, nhờ đó chúng ta có thể dễ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhuận sau thuế hoặc lợi nhuận trước thuế, vì thế tương ứng với nó là hai chỉ
tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Lợi nhuận trước thuế
TSLN trước thuế trên doanh thu= *100
Doanh thu thuần
.
Lợi nhuận sau thuế
TSLN sau thuế trên doanh thu = *100
doanh thu thuần
Để đánh giá chỉ tiêu này là tốt hay xấu phải đặt nó trong một ngành cụ thể và
so sánh chỉ tiêu này với các năm trước và các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Nếu chỉ tiêu này cao hơn chỉ tiêu chung của toàn ngành chứng tỏ doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác trong
ngành.
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia
cho giá trị tài sản bình quân theo công thức:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
TSLN trên tài sản = *100
Giá trị tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị tài sản mà doanh nghiệp huy động vào
việc sản xuất kinh doanh thì tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh.
Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia lợi nhuận cho bình quân tổng số vốn
kinh doanh mà doanh nghiệp huy động được trong kì nghiên cứu. Cũng giống
như chỉ tiêu lợi nhuận trên doanh thu, chỉ tiêu này người ta cũng xét hai
trường hợp là:tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh và tỷ suất lợi
nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh.
Lợi nhuận trước thuế

+ Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành của sản phẩm
Là tỉ số giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp và giá thành của sản phẩm
Lợi nhuận tiêu thụ trong kì
TSLN trên giá thành = * 100
Giá thành toàn bộ sản phẩm trong kì
Thông qua chỉ tiêu này, nhà quản trị tài chính sẽ biết rõ hiệu quả của
chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
1.2.4.Phân phối lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
Phân phối lợi nhuận là công việc khó khăn và phức tạp, nó không đơn thuần
là việc phân chia tiền lãi thu được sau một kì kinh doanh của doanh nghiệp
mà nó là việc dùng tiền để giải quyết hàng loạt mối quan hệ kinh tế phát sinh
đối với doanh nghiệp. Lợi nhuận chia hết cho những chủ sở hữu doanh
nghiêph hay để lại một phần để thực hiện các chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp. Đó là công việc phức tạp đòi hỏi các nhà quản trị tài chính phải
giải quyết. Nếu giải quyết đúng đắn thì nó sẽ là động lực thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp, còn nếu không phù hợp nó sẽ là một nguyên nhân kìm
hãm doanh nghiệp phát triển.
Lợi nhuận thực hiện cả năm được phân phối như sau:
Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định.
Nộp tiền thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước (áp dụng đối với các doanh
nghiệp sử dụng vốn ngân sách nhà nước).
Trả các khoản tiền bị phạt , các khoản chi phí hợp lí, hợp lệ chưa được trừ khi
xây dựng thuế thu nhập phải nộp.
Trả các khoản lỗ không được trừ vào lợi nhuận trước thuế.
Trích lập các quĩ đặc biệt theo tỷ lệ do Nhà nước qui định(đối với doanh
nghiệp kinh doanh trong một số ngành đặc thù mà pháp luật qui định).
Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trích lập các quĩ chuyên dùng của doanh nghiệp gồm:
Quĩ đầu tư phát triển: Dùng để đầu tư phát triển kinh doanh.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D

nghiệp( cách phân phối lợi nhuận). Nếu như chính sách về phân phối lợi
nhuận không thay đổi qua các năm thì nguồn vốn để tạo lập các quĩ( lợi
nhuận) càng lớn thì các quĩ (trong đó có quĩ danh cho người lao động) càng
lớn. Từ đó mà người công nhân được nâng cao trình độ , đời sống tinh thần
cũng như vật chất , tạo điều kiện khuyến khích họ hăng say lao động. Đó là
một trong nhiều nguyên nhân có thể làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng
lên. Việc phân phối lợi nhuận như vậy là cơ sở để cho các doanh nghiệp tái
sản xuất mở rộng và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của cán bộ công nhân
viên trong doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh rằng các doanh nghiệp có
chế độ đãi ngộ tốt với công nhân viên đã khuyến khích công nhân viên hăng
say lao động, giảm số giờ nghỉ việc, có trách nhiệm với công việc, thúc đẩy
năng suất lao động, cải tiến kĩ thuật, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu để
giảm giá thành.
+ Tác động của lợi nhuận tới các doanh nghiệp.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường, nó là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp
trong một kì kinh doanh.Lợi nhuận đối với doanh nghiệp vừa là kết quả của
hoạt động đầu tư, vừa là nguồn để các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động đầu tư.
Chính vì thế mà lợi nhuận có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh
nghiệp:
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn kinh
doanh tạo điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh của mình. Bởi vì có lợi
nhuận thì mới có thể trích lợi nhuận lập được các quĩ trong doanh nghiệp
như:Quĩ khuyến khích phát triển sản xuất, quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi Từ
các quĩ này, các doanh nghiệp có thể bổ sung vốn lưu động, vốn cố định khi
điều kiện điều kiện sản xuất kinh doanh đòi hỏi. Và cũng chính từ các quĩ
này, doanh nghiệp có điều kiện không ngừng nâng cao đời sống cán bộ công

17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lợi nhuận là tiền đề của tái sản xuất mở rộng của xã hội vì lợi nhuận chiếm tỷ
trọng lớn trong tích luỹ xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá hiện nay
đòi hỏi các doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, đem lại lợi nhuận ngày càng
cao phục vụ tái sản xuất mở rộng với qui mô lớn và tốc độ nhanh.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước nhằm thoả mãn nhu cầu
của nền kinh tế quốc dân, là nguồn củng cố và tăng cường tiềm lực quốc
phòng , duy trì bộ máy hành chính, cải thiện phúc lợi xã hội. Cơ bản , các loại
thuế do các doanh nghiệp nộp trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Các doanh nghiệp làm ăn có lãi thì khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
mới cao, mới có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước. Chính vì
vậy, lợi nhuận cũng có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển nền
sản xuất xã hội.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của Doanh nghiệp.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng đánh giá hiệu quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh và chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố chủ quan cũng như
các nhân tố khách quan. Đó là các nhân tố thuộc về thị trường, về chính sách
vĩ mô của Nhà nước và bản thân doanh nghiệp. Khi xem xét các nhân tố ảnh
hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp có thể chia làm hai nhân tố: nhân tố
bên trong và các nhân tố bên ngoài. Nhân tố bên trong là các nhân tố xuất
phát từ bản thân các quyết định của doanh nghiệp, trong tầm kiểm soát của
doanh nghiệp. Nhân tố bên ngoài là nhân tố khách quan, không chịu kiểm soát
ý thức chủ quan của doanh nghiệp.
1.3.1.Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
Quan hệ cung cầu về hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường.
Lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp và tổng hợp của tất cả các
mặt, tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như tìm hiểu nhu cầu
cầu của thị trường, nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, công nghệ qui

nhuận trước thuế. Việc các ngoại tệ khác lên giá sẽ làm lợi cho các doanh
nghiệp xuất khẩu, hàng hoá xuất khẩu sẽ trở lên tương đối rẻ so với hàng hoá
cùng chủng loại ở nước ngoài. Vì lý do như vậy, người nước ngoài mua nhiều
hàng hoá của nước xuất khẩu hơn. Điều ngược lại xuất hiện nếu các đồng
ngoại tệ giảm gía so với đồng nội tệ. Khi đó, dân cư nước ngoài sẽ mua ít
hàng hoá của nước xuất khẩu hơn. Điều này dẫn đến tổng doanh thu của các
nước xuất khẩu giảm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng của biến động tỷ
giá trên thị trường ngoại hối, nhất là đối với các doanh nghiệp sử dụng hầu
hết các nguyên liệu nhập khẩu. Khi ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ, giá
nguyên liệu đầu vào sẽ tăng lên tương ứng dẫn đến giá thành của sản phẩm
cũng tăng lên. Kết quả là chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng mạnh trong
khi doanh nghiệp khó có thể tăng giá bán sản phẩm của mình. Lợi nhuận của
doanh nghiệp có thể bị giảm nghiêm trọng. Khi ngoại tệ có xu hướng tăng giá
mạnh, các khoản vay bằng ngoại tệ của doanh nghiệp để mua nguyên vật liệu
và tài sản cố định càng làm cho tình hình tài chính của doanh nghiểp trở nên
tồi tệ.
Môi trường kinh doanh
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh
nhất định. Môi trường kinh doanh tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của
doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp,
ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được
Sự ổn định của nền kinh tế
Không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan của doanh nghiệp, sự ổn định của
nền kinh tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: yếu tố bên trong nước, yếu tố bên
ngoài nước. Mặc dù như vậy nhưng sự ổn định của nền kinh tế ảnh hưởng
trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu
của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, những biến động của nền kinh tế có thể gây ra những rủi ro kinh doanh
ảnh hưởng tới những khoản chi phí vật tư, chi phí trả lãi, tiền thuê nhà xưởng,

doanh nghiệp vay, thời gian vay và lãi suất.Lãi suất sẽ phụ thuộc vào mức lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước qui định. Khi Ngân hàng Nhà nước thay
đổi mức lãi suất cơ bản sẽ tác động trực tiếp đến chi phí trả lãi vay, tác động
đến chi phí .Do vậy mà lãi suất của ngân hàng và các tổ chức tín dụng có ảnh
hưởng lớn đến các quyết định tài chính của doanh nghiệp và từ đó có ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
*Kiểm soát giá
Giá của một sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra chịu ảnh hưởng của qui
luật cung cầu trên thị trường, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình cung cầu trên
thị trường mà xây dựng giá bán sản phẩm. Nhà nước không quyết định giá
cho sản phẩm mà chỉ tham gia can thiệp khi cần thiết. Tuy nhiên, đối với
những lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng, có tính chất chiến lược với
nền kinh tế quốc dân như : Viễn thông, điện lực, xăng dầu thì nhà nước sẽ
kiểm soát giá. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này thì giá bán sản
phẩm phải nằm trong khung giá do Nhà nước qui định. Trong trường hợp các
nhân tố khác không thay đổi, thay đổi giá bán cũng có ảnh hưởng trực tiếp
đến doanh thu, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh.
Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành có ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu
và chi phí , như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Mỗi ngành
kinh doanh mang những đặc thù riêng của ngành mình, đi liền với nó là cơ
cấu chi phí và qui mô chi phí cũng khác nhau giữa các ngành. Ví dụ như các
ngành Viễn thông, Điện lực sản phẩm cung cấp là dịch vụ thì chi phí khấu
hao thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất do vốn đầu tư công
nghệ và mua sắm tài sản cố định lớn.
1.3.2 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp.
Vốn.

công nghệ hiện đại có thể nhanh chóng cung ứng sản phẩm, đảm bảo về số
lượng và chất lượng của sản phẩm từ đó tăng doanh thu của doanh nghiệp.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lao động
Lao động cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trình độ kĩ thuật cao, lành nghề, sáng tạo trong
công việc của người lao động sẽ góp phần làm tăng chất lượng của sản phẩm,
giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngược lại. Chi phí
nhân công chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí nhất là đối với các ngành
đặc thù như : điện lực, viễn thông Do vậy, chất lượng lao động trong những
ngành này càng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng sản phẩm,
giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Năng lực quản lí của doanh nghiệp
* Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức quản lí và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là quá trình thực hiện sự kết
hợp chặt chẽ các yếu tố vật tư, kĩ thuật để chế tạo ra sản phẩm hàng hoá. Quá
trình này được thực hiện như thế nào sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng
sản phẩm và chất lượng sản phẩm được làm ra và chi phí của doanh nghiệp
phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm. Tổ chức và quản lí sản xuất ở trình độ cao có
thể giúp cho doanh nghiêp xác định mức sản xuất tối ưu và phương pháp sản
xuất tốt nhất làm giá thành sản phẩm hạ xuống. Nhờ vào việc bố trí hợp lí các
khâu sản xuất có thể hạn chế sự lãng phí nguyên liệu, giảm thấp tỉ lệ sản
phâm hỏng. Đây chính là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ cũng ảnh hưởng đến doanh thu
và từ đó có tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Thời điểm tiêu thụ sản
phẩm được xác định là khi khách hàng chấp nhận thanh toán, không phụ
thuộc vào thời điểm trả tiền của khách hàng. Do vậy, tiêu thụ sản phẩm nhanh
sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm tốt

Việc chia thành các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể làm chúng ta có cái
nhìn rõ nét hơn về các yếu tố làm cho lợi nhuận tăng hay giảm. Tuy nhiên, có
thể thấy rằng việc chia như vậy chỉ mang tính chất tương đối. Giữa các nhân
tố đều có mối quan hệ với nhau, nhân tố này ảnh hưởng tới nhân tố kia và
ngược lại. Vì vậy, việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận cần
thiết phải có cái nhìn tổng quát xem xét sự ảnh hưởng tổng hợp của các nhân
tố tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng chi phí và lợi nhuận của Bưu điện tỉnh Hải Dương
2.1.Giới thiệu về bưu điện tỉnh Hải Dương.
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển.
*Tên doanh nghiệp: Bưu điện tỉnh Hải Dương
*Tên giao dịch quốc tế: Haiduong posts and telecommunications.
(Viết tắt là Haiduong P&T)
*Địa chỉ : Số 1 đại lộ Hồ Chí Minh-Thành phố Hải Dương.
* Bưu điện tỉnh Hải Dương được hình thành với sự ra đời của các ban ngành
khác trong tỉnh nhằm phục vụ yêu cầu nhiệm vụ mới của Cách mạng và đáp
ứng nhu cầu tình cảm của nhân dân trong tỉnh trong những ngày đầu cách
mạng.
Quá trình xây dựng và trưởng thành đến tháng 1/1968 được hợp nhất từ 2 tỉnh
Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng. Tháng 11/1996, Quốc Hội
khoá IX kì họp thứ X đã quyết định chia Hải Hưng thành 2 tỉnh Hải Dương và
Hưng Yên. Tỉnh Hải Dương được tái lập sau 28 năm sáp nhập với Hưng Yên.
Từ ngày 1/7/1997, Bưu điện tỉnh Hải Dương được chính thức hoạt động.
Bưu điện tỉnh Hải Dương được thành lập ngày 14/6/1997 theo quyết định số
336/QĐ-TCBĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, là doanh nghiệp nhà
nước, đơn vị thành viên của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt
Nam(VNPT), hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích cùng các đơn vị
thành viên khác trong một dây truyền công nghệ Bưu chính- Viễn thông liên
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
24

ty về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt
động của doanh nghiệp.
Bên cạnh giám đốc là 2 phó giám đốc, được giám đốc uỷ quyền phụ trách các
lĩnh vực kinh doanh, kĩ thuật và hành chính.
-Các phòng ban chức năng của Bưu điện gồm 8 phòng ban: phòng tổng hợp,
phòng kế hoạch-kinh doanh tiếp thị, phòng đầu tư xây dựng cơ bản, phòng
Viễn thông tin học, phòng tổ chức cán bộ lao động, phòng nghiêp vụ bưu
chính và viễn thông, phòng kế toán thống kê tài chính và phòng hành chính
quản trị.
Sinh viên: Đào Duy Toàn Lớp:TCDN-44D
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status