1
Lời nói đầu
Sau Đại hội đại biểu toằn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam,
chính sách khuyến khích phát triển Kinh tế t nhân đã đợc đời sống kinh tế khẳng
định. Chính sách đó đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đổi
mới của đất nớc. Nhờ đó, trong những năm vừa qua khu vực kinh tế t nhân đã có
những bớc phát triển rất nhanh chóng, trở thành một bộ phận quan trọng trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta. Tuy nhiên, khu vực
này còn đang đứng trớc nhiều khó khăn, thách thức và còn nhiều hạn chế.
Sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân trong thời gian qua cũng nh
những khó khăn mà khu vực đang này gặp phải luôn gắn liền với cơ chế chính
sách của Đảng và Nhà nớc, trong đó có chính sách Thuế. Với mục đích khuyến
khích kinh tế t nhân phát triển, chính sách Thuế trong thời gian qua đã có những
chuyển biến rõ rệt theo hớng không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế,
tháo gỡ dần các khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những
kết quả đạt đợc, chính sách Thuế đối với khu vực kinh tế t nhân còn bộc lộ không
ít hạn chế. Vì vậy, cùng với sự phát triển khá mạnh mẽ của khu vực kinh tế t
nhân thì thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong đó hoàn
thiện chính sách Thuế đang là vấn đề đợc đặt lên hàng đầu. Đề tài: "Một số ý
kiến nhằm hoàn thiện chính sách Thuế để hỗ trợ phát triển khu vực Kinh tế
t nhân ở Việt Nam" cũng hớng vào mục tiêu đó.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng: Đối tợng nghiên cứu của đề tài là thực trạng của chính sách
Thuế đang đợc sử dụng với sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp của t
nhân- bộ phận chủ yếu của kinh tế t nhân.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, đề tài gồm ba phần chính:
2
Chơng I : Vai trò của chính sách Thuế đối với sự phát triển của khu vực
KTTN trong nền kinh tế thị trờng
Chơng II : Thực trạng tác động của chính sách Thuế đối với sự phát triển của
Các doanh nghiệp trong khu vực KTTN gọi là các doanh nghiệp của t nhân mà từ
đây xin gọi là doanh nghiệp t nhân.
4
2. Vai trò của khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trờng
2.1 Khu vực KTTN là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế
Nhà nớc muốn điều tiết và quản lý nền kinh tế trên giác độ vĩ mô đòi hỏi
Chính phủ phải nắm đợc những lĩnh vực chính của nền kinh tế nh: Ngân hàng,
truyền thông, công nghiệp quốc phòng, Đối với những nớc phát triển theo cơ
chế kế hoạch hoá, khu vực kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Nó đợc hình
thành trên cơ sở quốc hữu hoá, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa và sự đầu t của
Nhà nớc để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Đối với các nớc XHCN
nói chung, Việt Nam nói riêng, khu vực kinh tế nhà nớc có vai trò cực kỳ quan
trọng, nó đợc Nhà nớc tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trờng, do có tính năng động và hiệu quả,
khu vực KTTN lại đóng vai trò rất quan trọng. Nó giống nh cái "van điều chỉnh",
làm giảm thiểu những rủi ro và tăng tính linh hoạt cho nền kinh tế. Nếu không
có một khu vực KTTN đủ mạnh để làm tiền đề thì nền kinh tế thị trờng không thể
phát triển mạnh mẽ.
Mối quan hệ giữa khu vực KTTN và KTNN trong nền kinh tế thị trờng
hiện đại là quan hệ cạnh tranh giữa các lực lợng tham gia thị trờng và bình đẳng
trớc pháp luật nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản cho nền kinh tế: sản xuất cái
gì, sản xuất nh thế nào và sản xuất cho ai. Hai khu vực này còn có sự hợp tác hỗ
trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển: Khu vực KTNN không thể hoạt động có
hiệu quả nếu biệt lập và đối lập với khu vực KTTN. Và ngợc lại, khu vực KTTN
cũng không thể phát huy hiệu quả nếu không đợc khu vực KTNN giúp đỡ và tạo
điều kiện để hoạt động.
Sự phát triển cân đối giữa hai khu vực này là nhân tố quan trọng để tăng
trởng kinh tế.
2.2 Khu vực KTTN đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra việc làm,
góp phần ổn định xã hội
có cơ sở hạ tầng phát triển. Do đó mà có sự mất cân đối về trình độ phát triển
6
kinh tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một
quốc gia.
Chính sự phát triển của kinh tế t nhân góp phần quan trọng tạo lập sự cân
đối giữa các vùng. Nó giúp cho vùng kém phát triển hơn có thể khai thác đợc
tiềm năng của vùng, của địa phơng để phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ,
tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu theo vùng, lãnh thổ.
2.6 Khu vực KTTN góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và tăng nguồn
thu cho ngân sách Nhà nớc
Ngày nay mối quan hệ giao lu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia phát triển
rộng rãi đã làm cho các sản phẩm truyền thống trở thành một nguồn xuất khẩu
quan trọng. Việc phát triển KTTN đã tạo ra khả năng thúc đẩy khai thác tiềm
năng của ngành nghề truyền thống ở các địa phơng mỗi nớc nh các ngành nghề
thủ công mỹ nghệ, du lịch, lễ hội,
Bên cạnh đó, sự tạo lập, phát triển các DNTN một cách dễ dàng sẽ làm gia
tăng số lợng doanh nghiệp và gia tăng khả năng cung ứng sản phẩm. Cùng với
điều đó sẽ làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc. Mặc dù số đóng góp của
một doanh nghiệp không lớn nhng với lực lợng đông đảo, DNTN cũng đóng góp
một phần đáng kể cho ngân sách nhà nớc.
Tóm lại, tuy KTTN ở mỗi nớc có đặc điểm và mức độ phát triển khác nhau
nhng đều là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì các ngành nghề truyền thống, tăng
kim ngạch xuất khẩu, cho đất nớc. Chính vì vậy sự tồn tại và phát triển của kinh
tế t nhân là một tất yếu khách quan và cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi
quốc gia.
II- Vai trò của chính sách thuế trong việc phát triển
khu vực kinh tế t nhân
Để phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải khai thác và sử dụng mọi tiềm
năng của đất nớc. Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một
KTTN
2.1 Thúc đẩy các tầng lớp dân c bỏ vốn đầu t trực tiếp tạo lập doanh nghiệp
mới
Bằng chính sách u đãi thuế, miễn giảm thuế đối với các doanh nghiệp mới
thành lập, Nhà nớc đã kích thích các tầng lớp dân c bỏ vốn ra thành lập các
doanh nghiệp mới. Nhà nớc có thể đánh thuế cao vào thu nhập từ hoạt động buôn
bán bất động sản để doanh nghiệp chuyển từ đầu t vào bất động sản, dự trữ ngoại
tệ, vàng sang đầu t vào sản xuất kinh doanh.
2.2 Góp phần thúc đẩy khả năng tự tích luỹ và mở rộng khả năng huy động
vốn từ bên ngoài, giúp DNTN tăng cờng năng lực tài chính để sản xuất kinh
doanh
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, Nhà nớc cũng có các biện pháp
khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua
chính sách miễn giảm thuế, hoàn thuế thu nhập nếu doanh nghiệp sử dụng lợi
nhuận sau thuế để tái đầu t. Chẳng hạn, khi mức đánh thuế của Chính phủ tăng
lên, phần thu nhập còn lại của nhà đầu t sẽ giảm xuống, vì vậy các nhà đầu t sẽ bị
giảm bớt động lực kinh doanh. Ngợc lại, khi mức đánh thuế của Nhà nớc giảm
xuống sẽ có tác dụng khuyến khích tăng trởng đầu t và tái đầu t.
2.3 Hớng dẫn và điều tiết hoạt động của các DNTN ngành nghề và các khu
vực theo định hớng của Nhà nớc
Tăng trởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi nớc. Nhà nớc là ngời
hoạch định chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội và trên cơ sở đó sử dụng các công
cụ quản lý vĩ mô để điều hành nền kinh tế vận động theo định hớng đã đề ra.
Nhà nớc có thể sử dụng chính sách u đãi, miễn giảm thuế, chính sách tín
dụng u đãi để hớng các DNTN phát triển ở những ngành nghề cần u tiên phát
triển, những vùng hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng tại
9
địa phơng, từng bớc xoá bỏ sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng
bằng và miền núi.
2.4 Tăng khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh
thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTN, nhờ đó mà
tổng giá trị sản xuất của tăng lên qua các năm, ngợc lại, nếu các chính sách Thuế
tồn tại những bất cập sẽ kìm hãm khu vực KTTN phát huy hết khả năng của
mình.
+ Tổng giá trị xuất khẩu:
Chỉ tiêu này đợc tính bằng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của khu
vực KTTN, quy ra đồng Việt Nam hoặc USD.
+ Tổng giá trị đóng góp vào GDP:
Chỉ tiêu này phản ánh mức đóng góp của khu vực KTTN cho nền kinh tế
quốc dân hàng năm.
(3) Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Chỉ tiêu này dựa trên kết quả tổng kết hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp trong năm. Nó đo bằng tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi trong khu vực
KTTN, trên cơ sở so sánh với tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi trong khu vực
KTNN.
3.2. Nhóm các chỉ tiêu định tính:
(1) Nhóm chỉ tiêu hoạt động thị trờng:
+ Khả năng cung cấp hàng hoá cho thị trờng
+ Khả năng cạnh tranh
+ Khả năng liên doanh liên kết theo lĩnh vực hoạt động.
11
(2) Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ đa dạng về ngành nghề và địa điểm
phân bổ:
+ Mức độ đa dạng về ngành nghề
+ Mức độ đa dạng về địa điểm phân bổ
Chơng II
Thực trạng tác động của chính sách thuế đối
với sự phát triển kinh tế t nhân ở Việt Nam
12
I. Tình hình phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam
ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
sản xuất kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngời). Trong các
doanh nghiệp phi nông nghiệp số doanh nghiệp có dới 300 lao động chiếm
97,71%, số doanh nghiệp có vốn thực tế sử dụng nhỏ hơn 10 tỷ đồng chiếm
94,93% bình quân vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp là 3,7 tỷ đồng. Trong
các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, các con số thống kê hiện có cũng
cho thấy quy mô còn nhỏ hơn: số lao động trung bình là 12,7 ngời, số vốn đăng
ký là 248 triệu đồng.
Cơ cấu của các DNTN
Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp
Trong tổng số doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN, doanh nghiệp t nhân
chiếm 58,76%, công ty TNHH chiếm 36,68% và công ty cổ phần chỉ chiếm hơn
2% chứng tỏ mô hình công ty cổ phần cha thích hợp với thói quen và tâm lý của
ngời Việt Nam, đồng thời môi trờng pháp lý không thuận lợi để phát triển công
-
10,000
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
70,000
80,000
90,000
1992
1994
1996
1998
2000
lĩnh vực này thích hợp với quy mô nhỏ, không hoặc ít có nhu cầu tăng vốn;
không cần đầu t vào công nghệ vừa đòi hỏi vốn lớn, vừa gặp phải rủi ro cao;
nhanh chóng thu hồi vốn; năng động, dễ rút khỏi thị trờng; hứa hẹn khả năng
sinh lợi cao và phù hợp với tâm lý kinh doanh của ngời Việt Nam.
Trong lĩnh vực sản xuất, các DNTN còn chiếm tỷ trọng thấp. Đây là lĩnh
vực cần nhiều vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến. Tuy nhiên, các
DNTN cũng đã đạt đợc những kết quả nhất định. Hàng năm, tốc độ tăng trởng
giá trị sản xuất của khu vực KTTN vào khoảng 10-14%.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ có một số lợng không lớn các DNTN
hoạt động vì không có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, địa lý, giao dịch, trao
đổi. Mặt khác hoạt động của các doanh nghiệp lại phụ thuộc quá nhiều vào thời
vụ. Các lĩnh vực khác nh xây dựng, ngân hàng đòi hỏi vốn khá lớn và mức độ rủi
ro cao
Nh vậy, xét về cơ cấu ngành nghề của khu vực KTTN là có sự mất cân
đối.
Cơ cấu theo lãnh thổ
- Theo vùng:
Các DNTN ở nớc ta phân bố không đều, đa số tập trung ở đồng bằng và
đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển và thị trờng tiêu thụ rộng lớn, hội tụ đầy đủ
15
những yếu tố thuận lợi cho quá trình hoạt động sản xuất và giao dịch kinh doanh.
Do đó số lợng doanh nghiệp ở miền núi chỉ chiếm 4,8% tổng số DNTN. Điều này
gây mất cân đối trong phát triển cơ cấu kinh tế vùng, tạo khoảng cách giữa nông
thôn và thành thị, giữa miền ngợc và miền xuôi về trình độ văn hoá và đời sống
nhân dân.
- Theo miền:
Biểu 2: Tỷ lệ phân bổ các doanh nghiệp theo miền
Nguồn: Tài liệu hội thảo " Khung pháp lý cho việc phát triển
khu vực KTTN"
Biểu đồ cũng cho thấy sự mất cân đối trong phân bố của các DNTN theo
nớc trong khu vực thì con số này là tơng đối thấp.
Các chủ DNTN thờng bắt đầu công việc kinh doanh và mở rộng quy mô
hoạt động bằng nguồn vốn tự có và các nguồn tín dụng phi chính thức. Nguồn
vốn này thờng đòi hỏi ngời đi vay phải trả chi phí cao quá mức, thờng thì lãi suất
cao gấp 3-6 lần lãi suất ngân hàng.
Nếu có thể tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thì đa số chỉ là tín dụng ngắn
hạn trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn. Các doanh nghiệp cần vốn
trung và dài hạn để mua sắm máy móc, thiết bị mới và nâng cấp nhà xởng nhng
điều này rất khó và gần nh không thể thực hiện đợc khi mà vốn ngắn hạn chiếm
tới 80% tổng số vốn vay đợc các ngân hàng thơng mại duyệt. Chỉ có 18% các
DNTN quy mô lớn đợc vay vốn trung và dài hạn, còn doanh nghiệp quy mô nhỏ
thì không đáng kể.
Thêm vào đó, thị trờng tài chính phi ngân hàng nớc ta cha phát triển đồng
bộ, đầy đủ đã hạn chế các doanh nghiệp nói chung và các DNTN nói riêng. Việc
thiếu một thị trờng chứng khoán theo đúng nghĩa của nó cũng là một nguyên
nhân giải thích cho việc thiếu vốn của các doanh nghiệp.
17
Đồng thời cũng phải thừa nhận một thực tế là các DNTN mới ở giai đoạn
đầu của sự phát triển nên năng lực tài chính, thấp khả năng tích luỹ vốn còn hạn
chế, đây là nguyên nhân nội tại của chính các doanh nghiệp.
Tóm lại, điều kiện về vốn của khu vực KTTN Việt Nam hiện nay đang rất
hạn hẹp và việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn. Quy mô vốn tự có rất nhỏ,
không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lợng và hiệu
quả cao, đặc biệt đối với những doanh nghiệp muốn mở rộng và phát triển quy
mô hoạt động và đổi mới nâng cao chất lợng thiết bị công nghệ. Hạn chế này dẫn
đến hàng loạt các khó khăn khác cho khu vực KTTN.
2.2 Trình độ công nghệ, kỹ thuật
Các DNTN có quy mô vừa và nhỏ hạn chế trong trang bị kỹ thuật. Công
nghệ sản xuất của loại doanh nghiệp này hầu hết ở trình độ thấp và trung bình.
Nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể sử dụng kỹ thuật lạc hậu, chắp vá,
đặc biệt là ở thành thị- nơi mà đất cho sản xuất kinh doanh chủ yếu đợc cấp cho
các DNNN. Chính điều này gây cản trở không nhỏ cho các DNTN thế chấp
quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng và khả năng liên kết, liên doanh với các
nhà đầu t nớc ngoài. Việc thiếu tính đảm bảo về quyền sử dụng đất lâu dài cũng
tạo tâm lý không ổn định cho doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh về lâu
dài.
Mặt khác, các điều kiện về cơ sở hạ tầng tối thiểu cung không đầy đủ,
nhất là điện nớc, hệ thống giao thông Do đó các doanh nghiệp tập trung chủ
yếu ở các khu đô thị, đồng bằng- nơi có điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất
kinh doanh.
Ngoài ra các DNTN còn gặp nhiều khó khăn khác nh công tác thanh tra
kiểm tra phức tạp, quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp dễ bị hình sự hoá, hạn
chế trong việc tiếp cận với hạn ngạch xuất nhập khẩu, Nh vậy, sự tồn tại và phát
triển của khu vực KTTN là xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trờng.
Sau những nỗ lực không ngừng của Đảng và Nhà nớc, các DNTN đã đợc quan
tâm hơn và đã đạt đợc những thành tựu nhất định góp phần thúc đẩy tăng trởng
kinh tế, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Mặt khác trong quá trình
phát triển, các DNTN vẫn gặp nhiều khó khăn vớng mắc cần sớm đợc giải quyết.
Khó khăn của các DNTN do nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan gây ra.
Trong nền kinh tế thị trờng có sự định hớng của Nhà nớc, chính sách của Nhà n-
ớc có vai trò cực kỳ quan trọng, có thể tạo điều kiện thuận lợi nhng cũng có thể
19
tạo thêm khó khăn cho các DNTN, đặc biệt là các chính sách tài chính, trong đó
có chính sách Thuế. Sau đây chúng ta sẽ xem xét tác động của chính sách Thuế
hiện hành ở nớc ta đến sự phát triển của khu vực kinh tế này.
II. Thực trạng tác động của chính sách thuế đến sự
phát triển của khu vực KTTN:
1- Vài nét về chính sách Thuế chủ yếu đợc sử dụng trong thời gian
qua
Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) và giải phóng miền Nam
- Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Pháp lệnh thuế tài nguyên
- Pháp lệnh thuế nhà đất
- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập cao
Ngoài ra còn một số loại thuế mang tính chất lệ phí nh: thuế môn bài,
thuế sát sinh trớc đây áp dụng với khu vực công thơng nghiệp ngoài quốc doanh
nay áp dụng đối với mọi đối tợng không phân biệt. Một số loại phí, lệ phí nh lệ
phí trớc bạ, chứng th, lệ phí giao thông và một số loại phí khác cũng đợc ban
hành mới, sửa đổi, bổ sung.
Sau 5 năm thực hiện cải cách thuế lần thứ nhất, chúng ta đã đạt đợc
những thành tựu rất đáng khích lệ về nhiều mặt. Song cải cách thuế lần thứ nhất
vẫn còn nhiều nhợc điểm ảnh hởng tới sự phát triển của khu vực KTTN
Một là, chính sách thuế còn phức tạp trong việc xác định đối tợng chịu
thuế, đối tợng không chịu thuế, đối tợng nộp thuế và đối tợng không phải nộp
thuế, nhiều trờg hợp miễn giảm thuế. Đó là do hệ thống thuế đợc xây dựng vừa
chứa đựng mục tiêu thu ngân sách, vừa có mục tiêu góp phần tham gia thực hiện
21
các chính sách xã hội. Vì vậy các DNTN thờng bị thua thiệt hơn so với các
DNNN.
Hai là, thuế doanh thu, thuế lợi tức còn chứa đựng sự phân biệt khá lớn về
các ngành nghề và hoạt động kinh doanh: thơng mại dịch vụ phải chịu thuế suất
cao hơn hoạt động sản xuất. Khu vực KTTN quá nhỏ bé, mới đợc thừa nhận nên
giai đoạn này chủ yếu kinh doanh tổng hợp hoặc đầu t vào lĩnh vực thơng mại,
dịch vụ. Do vậy thuế suất cao đối với các hoạt động này thực sự là một trở lực lớn
đối với khu vực KTTN.
Ba là, việc xác định chi phí hợp lý, hợp lệ để tính lợi tức chịu thuế, tính
thuế lợi tức bổ sung vẫn còn sự phân biệt đáng kể. Đối với DNNN, mỗi khi có sự
tăng giá vật t, thiết bị, hàng hoá, thay đổi tỷ giá thì toàn bộ vật t có gốc ngoại tệ,
hàng hoá tồn kho đều đợc đánh giá lại để bảo toàn vốn. Rõ ràng là khi không đợc
Một là, những thuận lợi từ phía các chính sách đến các doanh nghiệp trong nền
kinh tế nói chung; hai là, sự bình đẳng giữa các khu vực trong nền kinh tế.
Từ sau cải cách thuế bớc 1, sự phân biệt đối xử về chính sách thuế nhằm
kìm hãm, triệt tiêu sự phát triển của khu vực KTTN đã bị xoá bỏ. Cải cách thuế
bớc 2 tiếp tục có sự đổi mới đáng kể. Trong thời gian này, các DNNN tiếp tục đ-
ợc sắp xếp lại, các doanh nghiệp mới đợc thành lập để đón nhận các chính sách
kinh tế mới đa số là các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN. Biểu hiện rõ nhất
của sự đổi mới này phải nói tới sự có mặt và nhanh chóng đi vào thực tế của hai
Luật thuế mới là thuế TNDN và thuế GTGT.
Luật thuế TNDN
- Đối tợng nộp thuế không phân biệt thành phần kinh tế
Thuế TNDN áp dụng chung cho tất cả các cơ sở kinh doanh theo quy
định của pháp luật, không phân biệt thành phần kinh tế.
23
-áp dụng một mức thuế suất thống nhất cho các hoạt động kinh
doanh:
Luật thuế TNDN với một mức thuế suất thống nhất không phân biệt theo
hoạt động kinh doanh là một bớc tiến đáng kể vì một tỷ lệ lớn các DNTN hoạt
động trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ- lĩnh vực mà trớc đây phải chịu mức thuế
suất cao hơn.
- Căn cứ tính thuế rõ ràng hơn, giảm đi sự phân biệt với các DNNN
Sửa đổi chế độ thu sử dụng vốn Ngân sách đối với các DNNN, tạo nên sự
bình đẳng hơn về chi phí tính thuế. Trớc đây khoản nộp này đợc coi nh lãi tiền
vay tính trên số vốn đợc giao và đợc tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của DNNN.
Khi các DNNN phải lấy khoản lợi nhuận sau thuế để trang trải cho khoản nộp
này có nghĩa là khu vực KTTN có đợc sự bình đẳng với khu vực KTNN về chi
phí tài chính của các chủ sở hữu bỏ ra để thành lập doanh nghiệp.
- Các quy định về chuyển lỗ thông thoáng hơn với các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp mới thành lập nói riêng; quy định về chi phí cho tiếp
thị, cho tiêu thụ hàng hoá; tỷ lệ khống chế tối đa về chi phí giao dịch, chi phí
khâu sản xuất, lu thông và tiêu dùng chứ không đánh trùng, chồng chéo nh thuế
doanh thu.
Với thuế doanh thu trớc đây, cứ qua mỗi khâu mua bán hàng hoá là một
lần phải chịu thuế, và đây là tồn tại cơ bản nhất của chế độ này. Trong khi đó,
khả năng khép kín trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNTN là rất thấp.
Chỉ trừ các doanh nghiệp chế biến nông sản là có thể tận dụng đợc nguyên liệu
sẵn có ở địa phơng, còn các doanh nghiệp chế tạo cơ khí, sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ hầu hết các vật t thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh đều phải mua
ngoài.
25
Mặt khác, do hạn chế về khả năng tiếp cận thị trờng nên các DNTN thờng
phải qua nhiều khâu trung gian thơng mại để đáp ứng vật t thiết bị phục vụ sản
xuất kinh doanh, nên với thuế doanh thu trớc đây, các DNTN phải chịu thiệt thòi
rất lớn. Việc ban hành và đa vào áp dụng thuế GTGT đã cơ bản khắc phục đợc
tồn tại này, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp.
- Không thu thuế GTGT đối với máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, vật
t xây dựng nhập khẩu mà trong nớc cha sản xuất đợc để tạo tài sản cố đinh cho
doanh nghiệp, thực hiện khấu trừ và hoàn thuế GTGT đối với tài sản cố định để
khuyến khích đầu t mới và trang bị thêm máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất.
- Chế độ hoàn thuế khuyến khích xuất khẩu
Việc hoàn thuế GTGT đầu vào cho hàng hoá xuất khẩu thực chất là việc
Nhà nớc trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu tập
trung nguồn hàng để xuất khẩu, giảm giá vốn hàng xuất khẩu và tăng khả năng
cạnh tranh của hàng Việt Nam xuất khẩu với hàng hoá trên thị trờng quốc tế. Đặc
biệt là các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn sản xuất các mặt hàng truyền
thống: thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, gốm sứ, thì chính chính sách trợ giá cho
hàng xuất khẩu của Nhà nớc thông qua thuế GTGT đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp này có thể tăng khả năng xuất khẩu các hàng hoá của mình ra nớc
ngoài.
- Về chế độ hoá đơn, chứng từ