Mở đầu
Nền kinh tế thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, nhiều quốc gia bùng
nổ mạnh mẽ như Anh, Pháp, Mỹ, Tuy nhiên thì các nhà đầu tư tại các quốc
gia này đang có xu hướng chuyển dòng vốn đầu tư của mình tới các quốc gia
khác. Đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đầu tư tại các quốc gia này thì
nhà đầu tư co lợi nhuận cao hơn hẳn bởi tại đây chi phí đầu tư thấp( lao động
rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, ).Do đó đang có một luồng vốn lớn
chuyển vào các quốc gia đang phát triển. Nhưng dòng vốn ấy đầu tư một cách
có chọn lọc, mặt khác thì giữa các quốc gia, hay bản thân trong một quốc gia
thì sự cạnh tranh giữa các thành phố nhằm thu hút đầu tư cho địa phương
mình là rất lớn.
Hà Nội với lợi thế là thù đô, là trung tâm của cả nước nhìn chung tình
hình chính trị, trật tự xã hội ổn định, cơ sở hạ tầng tương đối tốt. Nhưng vẫn
còn nhiều tồn tại trong môi trường đầu tư của Thành phố, nhiều yếu tố còn
kém so với các thành phố khác trong khu vực. Do vậy tình hình thu hút đầu tư
nước ngoài của Thành phố vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhận thức
được điều này em chọn đề tài: “ Một số ý kiến đóng góp nhằm cải thiện môi
trường đầu tư, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
trong giai đoạn tiếp theo”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không thể không tránh khỏi các sai
sót, do vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để
chuyên đề của em được hoàn thiện.
Em xin chân thành cám ơn! 1
Chương I . Môi trường đầu tư của Thành Phố Hà Nội và
tác động của nó tới việc thu hút ngồn vốn FDI trên địa bàn giai
đoạn 2001-2006.
1. Môi trường đầu tư của Thành phố Hà Nội.
1.1 Quan điểm về môi trường đầu tư.
hài hoà và được tôn trọng.
Trong hệ thống các yếu tố tác động mạnh mẽ đến các quyết định đầu tư
của doanh nghiệp, thể chế đặc bệt là các thể chế kinh tế được xem là những
nhân tố quan trọng nhất tác động đến tính hấp dẫn cao hay thấp của môi
trường đầu tư một quốc gia trong tình hình hiện nay.
Đối với mỗi nhà đầu tư thì trước khi đi đến quyết định có nên đầu tư
hay không thì họ luôn luôn xem xét, cân nhắc yếu tố: Chi phí, rủi ro.Giữa các
yếu tố này, mỗi yếu tố đứng độc lập đều có ý nghĩa và đồng thời thì các yếu
tố này cũng có quan hệ với nhau. Một số dạng rủi ro chúng ta có thể giảm
được nếu chúng ta tăng chi phí và ngược lại.
Chi phí: Mỗi nhà đầu tư đều rất nhạy cảm khi đứng trước các cơ hội
đầu tư, mỗi khi thấy xuất hiện các cơ hội làm ăn thì ngay lập tức nhà đầu tư
bắt tay vào tìm hiểu xem xét, xem nó có thực sự khả thi không, nó có thực sự
là một cơ hội làm ăn thuận lợi, một cơ hội làm ăn có khả năng sinh lời lớn hay
không và để có đựơc câu trả lời cho những câu hỏi trên thì nhà đầu tư có rất
nhiều các thức khác nhau tuy nhiên thì một trong những cách thức được dùng
3
phổ biến đó là so sánh giữa chi phí và lợi ích. Trong đó chi phí là tất cả những
gì mà nhà đầu tư phải bỏ ra để thu về được khoản lợi ích nhất định, nó bao
gồm rất nhiều yếu tố và nó là hàm thông thường của các hoạt động thương
mại như chi phí lập thẩm định dự án, chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí
mua nguyên vật liệu, chi phí quản lý, Tuy nhiên thì cũng có những khoản
chi phí bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ các hành vi của Chính phủ, trực
tiếp nhất là các khoản thuế, phí, lệ phí. Tuy vậy thì những khoản chi phí này
là rất quan trọng vì nó bảo đảm sự vận hành của bộ máy chính quyền cũng
như cải thiện môi trường đầu tư. Cụ thể nó là nguồn để thực hiện các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng, củng cố an ninh, quốc phòng, Vấn đề tạo dựng môi
trường đầu tư tốt thì chúng ta tin rằng các doanh nghiệp không những không
phản đối mà còn ủng hộ nhưng vấn đề đặt ra là sử dụng có hiệu quả tránh lãng
phí và cái quan trọng hơn cả đó là đúng mục đích là cải thiện môi trường đầu
chính sách và việc thực thi chính sách. Các cuộc điều tra cho thấy rằng nếu
doanh nghiệp tăng cường được khả năng tiên liệu được các chính sách thì có
thể làm cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư lên tới 30%. Yếu tố này
bao gồm Sự ổn định, quyền về tài sản, khả năng tiên liệu và mức độ ổn định
của các chính sách, phản ứng của người tiêu dùng và của đối thủ cạnh tranh,
Như vậy đối với mỗi quốc gia cũng như các địa phương thì việc cải
thiện môi trường đầu tư là hết sức quan trọng và khó khăn. Nhưng cải thiện
không đồng nghĩa với giảm tất cả chi phí, rủi ro mà chúng ta chỉ có thể giảm
thiểu tối đa chi phí cung như rủi ro nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các
nhà đầu tư.
5
1.1.2 Quan hệ môi trường đầu tư, thu hút đầu tư và
phát triển kinh tế.
Hiện nay các nước trên thế giới có tốc độ tăng dân số một cách chóng
mặt, do trách nhiệm của Chính phủ cũng như chính quyền các địa phương
càng trở nên khó khăn, bài toán đặt ra là phải làm sao giải quyết được tình
trạng này, xoá đói giảm nghèo đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thì
trách nhiệm này càng nặng nề. Tình trạng này chỉ có thể được giải quyết khi
mà khắc phục được tình trạng hiện nay đó là kinh tế kém phát triển.
Sơ đồ 1: Quan hệ môi trường đầu tư, thu hút đầu tư
và phát triển kinh tế
Môi trường
đầu tư.
Phát triển
kinh tế.
Thu hút đầu
tư.
Chúng ta phải tăng cường đầu tư, xây dựng các xí nghiệp thành lập các
công ty, nhằm giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
7
nghiệp, qua đó càng làm tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, huy động
sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, lao động, tiếp thu được khoa học và công
nghệ tiên tiến ở cả trong và ngoài nước.
1.1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề cải thiện
môi trường đầu tư
Trong tình hình hiện nay thì cả trong nước và trên thế giới đang diễn ra
nhiều xu hướng biến động mạnh mẽ, nó tiềm ẩn nhiều cơ hội và thác thức lớn.
Hiện nay chúng ta có thể thấy có một dòng vốn đầu tư nước ngoài của
khu vực Mỹ, Châu Âu, đang đổ dồn về khu vực châu Á, mà đặc biệt là khu
vực Đông Nam Á. Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài có vai trò hết sức quan
trọng trong việc phát triển kinh tế của các thành phố nói riêng và cả nước nói
chung. Nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, bị tàn phá, cơ sở vật chất
yếu kem, chúng ta phải xây dựng lại từ đầu. Đồng thời do nhiều nguyên nhân
cả khách quan và chủ quan mà nước ta có dân số phát triển khá nhanh kéo
theo lao động thì thừa, nhu cầu việc làm ngày càng tăng cao.Trong khi chúng
ta lại thiếu vốn. Do vậy muốn phát triển chúng ta phải thu hút được đầu tư từ
khu vực tư nhân đặc biệt là từ nước ngoài.Việc tiếp nhận nguồn vốn này có
đặc điểm chúng ta không phải nợ, thay vì nhận lãi suất trên vốn vay nhà đầu
tư tự tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và nhận phần lợi nhuận thích
đáng trên cơ sở vốn góp. Đầu tư nước ngoài sẽ cho chúng ta rất nhiều cái lợi,
nhà đầu tư vào nước ta cũng như trên địa ban Thành phố thì nhà đầu tư
không đơn thuần chỉ mang theo vốn đầu tư mà họ còn mang đến cho chúng ta
nhiều điều quan trọng hơn như máy móc thiết bị hiện đại, phương thức tổ
chức, qua đó thậm chí nó còn hình thành nhiều ngành mới đặc biệt là những
ngành đòi hỏi phải kỹ thuật cao,công nghệ hiện đại. Vì thế nguồn vốn này có
tác dụng cực kỳ lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
8
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc
tiêu dùng. Thuế suất được quy định theo mức thuế suất cố định, căn cứ vào
hàng hoá, dịch vụ kinh doanh.
Theo hệ thống thuế giá trị gia tăng, " thuế đầu ra" được thu từ người
tiêu dùng bằng cách cộng thêm giá trị gia tăng vào số tiền phải trả. Tuy nhiên
thì bản thân doanh nghiệp cũng phải nộp thuế giá trị ra tăng cho các doanh
nghiệp cung ứng của họ. Doanh nghiệp sẽ phải nộp thuế cho Nhà nước sau
khi đã khấu trừ khoản thuế đầu ra doanh nghiệp đã phải trả cho nhà cung ứng.
Chính vì vậy hiện nay trên địa bàn Thành phố đang xảy ra hiện tượng đó là
trốn thuế, lậu thuế bằng cách các doanh nghiệp mua chứng từ hoá đơn giả
mạo nhằm nhận khoản hoàn thuế hàng vài tỷ đồng, mặc dù doanh nghiệp
không hề hoạt động. Hiện nay thì trên địa bàn Hà Nội nói riêng và nước ta nói
chung thì trong cơ cấu thuế vẫn tồn tại nhiều vấn đề khá phức tạp.
Những hàng hoá và dịch vụ trước đây được xếp vào 11 mức thuế suất
doanh thu, nay VAT chuyển sang 4 mức, với các mức thuế suất: 0%, 5%,
10% và 20% . Khoảng cách là rất lớn từ 5 đến 20% như vậy nó đã và đang
gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp, dẫn tới nhiều khiếu lại tố cáo về
vấn đề này. Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng mức thuế 10% và 20% là qua
cao, chỉ nên áp dụng mức 5% . Một số doanh nghiệp lại yêu cầu bỏ mức thuế
20% Trên địa bàn Thành phố cũng như nước ta thi hành nhiều chính sách
nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài như miễn thuế, giảm thuế. Tuy nhiên
thì cơ chế này đã tạo không ít phiền hà như trong quá trình cấp phép đầu tư,
xác định mức ưu đãi, đồng thời nó đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh
nghiệp trong và ngoài nước. Đây là một cơ chế rất tốt vì nó có thể khuyến
10
khích đầu tư vào các khu vực khó khăn, lĩnh vực cần đẩy mạnh đầu tư, nhưng
nhiệm vụ của Chính phủ là phải xây dựng các quy định khuyến khích hợp lý
vừ đảm bảo mức thu cho Chính phủ mà vừa không gây quá bất bình đẳng hay
vẫn tạo được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Thuế được tính theo công thức
Thuế Số lượng Giá tính Thuế TTĐB
đều phải sinh lời nhưng thực tế xảy ra tình trạng chậm trong hoàn thuế, tạo
cho doanh nghiệp một khoản vốn không sinh lời nằm tồn đọng, mà nguồn
thuế đó không những không thấp thậm trí còn chiếm tỉ lệ khá lớn trong cơ cấu
vốn của doanh nghiệp.
Nguyên nhân của hoàn thế chậm trễ có thể là do thủ tục hành chính quá
phức tạp, đội ngũ cán bộ thuế thiếu năng lực. Nhưng một yếu tố không kém
phần quan trọng đó là do rắc rối trong hoá đơn. Hoá đơn do Bộ tài chính ban
hành và hoá đơn do doanh nghiệp được phép in ấn phát hành gọi là hoá đơn
đỏ. Hoá đơn do cá hộ kinh doanh sử dụng và được lưu hành khá phổ biến hiện
nay là hoá đơn xanhvì chúng thường được in ấn bằng mực xanh.
Các cơ quan thuế lại chỉ chấp nhận hoá đơn đỏ. Những hàng hoá được
mua bằng hoá đơn xanh được coi là các hoá đơn không hợp pháp và các
khoản chi phí này đều không được chấp nhận dù có thật và khoản thuế từ
hàng hoá này đều không được hoàn thậm trí có thể bị phạt.
Việc thiếu hoá đơn tài chính trong chừng nực nhất định, là một khó
khăn khách quan vì nó nảy sinh từ trình độ kinh doanh thấp của một số lượng
lớn các hộ kinh doanh tại Việt Nam ( chỉ tính riêng trong lĩnh vực nông
12
nghiệp đã có đến 2 triệu hộ kinh doanh). Đa số các hộ kinh doanh chưa có khẳ
năng chấp hành hệ thống hoá đơn và kế toán theo tiêu chuẩn.
Bảng 1 : Doanh nghiệp coi thuế suất là một trong những
trở ngại hàng đầu của họ
Đơn vị: %
Tỷ lệ các nước trong đó doanh nghiệp coi
thuế suất là một trong những trở ngại chính
Trở ngại
lớn nhất
Một trong
ba trở ngại
lớn nhất
vẫn chưa chắc đã vay được vốn nhưng cũng có những doanh nghiệp thì rất rễ
vay vốn mà còn được ưu đãi về lãi suất và thời gian vay. Với những điều kiện
khác nhau này thì nó ảnh hưởng mạnh đến sự thành bại của doanh nghiệp, và
một trong những điều kiện đó là về cơ sở hạ tầng. Nó bao gồm các sân bay, hệ
thống đường giao thông, vận tải, hệ thống điện, nước, mạng lưới phân phối
khí đốt, hệ thống cầu cảng, viễn thông,
Những doanh nghiệp mà có cơ hội đầu tư tại các khu vực có điều kiện
cơ sở hạ tầng thuận lợi thì sẽ có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp khác. Ví
dụ: Trong giai đoạn vừa qua chúng ta có thể thấy Thành phố đã thực hiện cắt
điện ở một số quận, huyện nhằm thực hiện tiết kiệm điện. Nhiều doanh nghệp
cả trong và ngoài nước đã phải chịu ảnh hưởng mạnh, mất điện đồng nghĩa
với ngừng sản xuất và dẫn tới nhiều doanh nghiệp đã không thể hoàn thành
hợp đồng đúng thời hạn, phải chị phạt và khoàn tiền phạt này là rất lớn. Chính
điều này làm cho nhiều nhà đầu tư rất thận trọng, không dám mở rộng quy
mô, mà chỉ có thể sản xuất với quy mô hiện tại, hoặc phải chuyển địa điểm
đầu tư.
14
Các báo cáo cho thấy cơ sở hạ tầng ở Nam Phi và Nam Á yếu kém hơn
rất nhiều so với các khu vực còn lại. Tuy nhiên vấn đề bảo dưỡng và đặc biệt
là xây dựng mới hệ thống điện, hệ thống cung cấp năng lượng thường đòi hỏi
phải có một nguồn kinh phí rất lớn do vậy chúng ta hoàn toàn có thể hiểu tại
sao khu vực này cơ sở hạ tầng yếu kém, nhưng vấn đề không chỉ tồn tại ở
khâu huy động vốn. Các công trình này có nhiều đặc điểm rất khác biệt ví như
hệ thống đường sắt chẳng hạn. Chúng ta không thể để cho hai hay nhiều nhà
đầu tư xây dựng hai hay ba hệ thống đường sắt cùng đến một địa điểm để
cạnh tranh nhau. Chúng sẽ rất lãng phí nguồn lực, như vậy cơ chế thị trường
không thể điều tiết dẫn tới phải có vai trò của Chính phủ. Trên thực tê nguồn
thu ngân sách, cung như các nguồn vay ưu đãi khác thì rất hạn chế trong khi
lại cần rất nhiều vốn cho xây dựng cơ bản. Điều này làm hạn chế cơ sở hạ
tầng ở khu vực này, Chính phủ tiến hành đấu thầu thực hiện các công trình
góp vào tăng trưởng phát triển kinh tế cũng như xoá đói giảm nghèo. Đối với
các nhà đầu tư thì vấn đề giao thông có vai trò vô cùng quan trọng nó tác
động rất lớn tới các công cuộc đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận
đến các nguồn lực sản xuất như vốn, nguyên vật liệu, lao động, cung như tới
thị trường tiêu thụ góp phần làm giảm chi phí kinh doanh.
Hiện nay các Thành phố đang tìm mọi cách phát triển hệ thống giao
thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư. Và kéo theo có thể thấy
trong biểu 1 đó là các chi phí liên quan cũng đang có xu hướng giảm mạnh
mẽ. Điều này càng làm cho việc cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài
càng trở nên khốc liệt.
16
Phát triển giao thông nó liên quan đến cả ba nội dung phát triển bền
vững là kinh tế, xã hội và môi trường.
Sơ đồ 2: Tác động của giao thông vận tải tới phát triển bền vững.
Phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông
-Tính sẵn có
-Giảm chi phí
-Tiết kiệm thời gian
- Sự tiện lợi của các
dịch vụ
Phát triển kinh tế
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Cải thiện môi trường đầu tư.
- Tăng cường khả năng tiếp cận thị
trường cho các doanh nghiệp.
-Tăng cường năng lực canh tranh của
doanh nghiệp.
Phát triển bền vững
5%
10%
15%
20%
25%
30%
Ấn Độ Malaysia Thái Lan Indonesia Philippines Việt Nam
Hà Nội là một trong những đầu mối giao thông hết sức là quan trọng.
Muốn phát triển Hà Nội thành một trung tâm kinh tế cho xứng tầm với các
thành phố trên thế giới, và tăng cường thu hút đầu tư thì chúng ta phải cải
thiện được môi trường đầu tư của thành phố
18
Hiện nay tuy đã được đầu tư khá nhiều nhưng vấn đề giao thông của Thành phố
vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại.
a. Cơ sở hạ tầng yếu kém
Tuy là trung tâm của cả nước nhưng giao thông Hà Nội vẫn rất yếu
kém, nghèo nàn và lạc hậu.
Bảng 2: So sánh hiện trạng đường phố Hà Nội với các Thành phố
lớn trong cả nước.
Tiêu chí Thành phố
Cả nước Hà Nội TPHCM Đà Nẵng
Diện tích (Km2) 329.241 927 2.095 1.256
Dân số(1000 người) 82.032 2.793 5.037 728,8
Tổng chiều dài đường(Km) 72.926 1.423 1.658 433
Mật độ đường 0,22 1,09 0,79 0,34
Độ dài đường trên 1000 dân (km/
1000dân)
0.95 0,36 0,33 0,59
Tỷ lệ diện tích đường trên tổng
vành đai mới, vành đai IV.
b. Tắc nghẽn giao thông ngày càng nghiêm trọng.
Chúng ta có thể thấy bản chất của tắc nghẽn giao thông là do cơ sở hạ
tầng không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại. Đối với Hà Nội thì vấn đề tắc
nghẽn vẫn chưa nghiêm trọng bằng một số thủ đô khác trong khu vực như
Băngkok, Manila, Nhưng nó đang diễn ra ngày càng nhiều và với quy mô
ngày càng nghiêm trọng, thời gian tắc nghẽn kéo dài, tắc không chỉ còn diễn
ra ở quy mô nhỏ mà nó đã diễn ra trên quy mô hệ thống và nó có ảnh hưởng
không nhỏ tới kinh tế. Hà Nội hiện nay có đến hàng trăm điểm thường xuyên
xảy ra tắc nghẽn, thời gian tắc nghẽn ngắn thì 30-45 phút dài thì có thể vài
tiếng và đặc biệt nghiêm trọng là các điểm nút cửa ngõ thành phố như tuyến
20
Ngã Tư Sở; Diễn, Chúng ta có thể chí ra một số nguyên nhân của hiện tượng
tắc nghẽn đó là:
- Sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện giao thông
Tốc độ gia tăng các phương tiện giao thông giai đoạn 2000-2006 là
26,7% đặc biệt là sư gia tăng của xe máy (năm 1985 xe máy chỉ có 7,5% thì
đến 2005 đã là 63,2% và năm 2006 là 72,2%).
- Tình trạng lấn chiếm đường giao thông và sự thiếu quỹ đất cho giao
thông tĩnh. Hiện nay thành phố vẫn thiếu rất nhiều cac bãi đỗ xe, mới chỉ có
135 điểm đỗ xe nhưng chỉ có một số điểm được đầu tư hiện đại. Tỷ lệ đất
giành cho giao thông tĩnh chỉ chiếm 1%, đến nay thì mới chỉ đáp ứng được
10% nhu cầu. 90% còn lại thì được đặt không đúng chức năng như vỉa hè,
lòng đường,
- Vận tải giao thông chưa hiệu quả`
- Mạng lưới giao thông đô thị hiện có mới chỉ có đường bộ chưa có
đường sắt trên cao, tàu điện ngầm,
- Dòng giao thông hỗn hợp, gồm nhiều loại có tốc độ khác nhau
- Ý thức tham gia giao thông của người dân còn kém.
c. Yếu kém trong công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch
vị
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng vốn đầu tư toàn
xã hội Tỷ
đồng
18.120 22.185 24.957 29.027 34.640
Tốc độ phát triển định
gốc
% 0 22,44 37,73 60,19 91,16
Tốc độ phát triển liên
hoàn
% 0 22,44 12,49 16,3 19,33
22
Tổng vốn đầu tư cho
giao thông
Tỷ
đồng
1.077,4 1.590,7 2.677,8 1.878,
2
4.909,2
Tỷ trọng so với tổng
vốn đầu tư toàn xã hội
% 5,94 7,17 10,72 6,47 14,17
Tốc độ phát triển định
gốc
% 0 47,63 148,53 74,32 355,63
Tốc độ phát triển liên
hoàn
% 0 47,63 68,34 -29,85 161,37
Nguồn: Sở giao thông công chính Hà Nội.
tư nhân khó tiếp cận với những khoản tài chính thuộc sở hữu nhà nước, khiến
họ phải tìm kiếm đến các nguồn khác với chi phí cao hơn và ít bình đẳng hơn
sẽ là một biểu hiện của môi trường đầu tư kém hấp dẫn và do đó không giải
phóng được hết các nguồn lực trong xã hội, đó cũng là hình ảnh của một môi
trường đầu tư không hấp dẫn. Đó là chưa kể tới tác động tiêu cực của một hệ
thống tỷ lệ lãi suất cao. Các thị trường tài chính thiếu ổn định, hiệu quả thấp
thường đi liền với lãi suất cao khi cho vay, từ đó cũng làm cho chi phí đầu tư
cao. Đây là một trong những điểm yếu khá phổ biến đối với các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam. Khi hoạt động tốt, các thị trường tài chính
liên kết các doanh nghiệp với những người cho vay và các nhà đầu tư muốn
cấp tiền cho các hoạt động kinh doanh và chia sẻ một số rủi ro của họ. Ngược
lại, việc thiếu tài chính và cơ sở hạ tầng tạ ra những rào cản cơ hội và làm
tăng các chi phí đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ thậm chí ngay cả đối với các
công ty lớn hay tập đoàn đa quốc gia. Những thể chế hay những quy tắc và cơ
chế cũng như các tổ chức thực hiện việc điều tiết các hoạt động của thị trường
tài chính nếu như nó gây ra những chi phí bằng việc ngăn cản việc thâm nhập
24
mới vào các thị trường sẽ làm giảm những khuyến khích nhằm đổi mới và đầu
tư. Những can thiệp của chính phủ đối với thị trường tài chính không phải lúc
nào cũng thành công. Thị trường tài chính bị bóp méo khi việc thực hiện tín
dụng chỉ đạo một cách tràn lan. Từ đó làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp
khác, họ có thể phải mất chi phí để thực hiện vận động hành lang để có được
những khoản tín dụng chỉ định như vậy. Việc làm này đương nhiên hạn chế
các cơ hội tiếp cận nguồn tài chính của các doanh nghiệp khác . Mặt khác đối
với một thể chế thị trường hoạt động tốt hay phát triển, nó sẽ cung cấp các
dịch vụ thanh toán hộ, trong đó Ngân hàng sẽ cấp cho các doanh nghiệp giấy
chấp nhận thanh toán đó. Nó là giấy bảo đảm rằng Ngân hàng sẽ thanh toán
vô điều kiện khoản tiền mà bên mua còn thiếu vào một ngày xác định. Khi
các thị trường tài chính này hoạt động tốt chúng tạo ra cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp khả năng nắm bắt cơ hội đầu tư tốt hơn. Chúng làm giảm sự lệ