Những giải pháp chủ yếu để áp dụng chính sách thuế quan thích hợp thúc
đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
Lời nói đầu
Chính sách thuế quan của Việt nam đợc Quốc hội thông qua ngày
29-12-1987, đợc sử đổi và bổ sung vào năm 1991-1993 để phù hợp với
chính sách kinh tế hớng ngoại và thực thi thơng mại trong mỗi giai đoạn
phát triển kinh tế. Hàng năm chính sách thuế quan đã có những hoạt động
nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nớc, thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt nam và nó đã tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách
Nhà nớc.
Tuy thời gian qua chính sách thuế quan của Việt nam đã phát huy đ-
ợc tác dụng tích cực của nó. Nhng trớc những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đặc
biệt là xu thế thơng mại hoá toàn cầu, thì thuế suất của ta bộc lộ nhiều yếu
điểm còn tồn tại. Cho nên cần phải có những chính sách, giải pháp về thuế
quan thích hợp để khắc phục những yếu kém còn tồn tại, nhằm thúc đẩy sự
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
Với tầm quan trọng của thuế quan vào sự hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt nam, cùng những hiểu biết nhỏ của mình và sự hớng dẫn của thầy
giáo Nguyễn Thờng Lạng Em xin trình bày vấn đề: Những giải pháp chủ
yếu để áp dụng chính sách thuế quan thích hợp thúc đẩy hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt nam. Đây là một vấn đề đang đợc các nhà hoạch định
chính sách đặc biệt quan tâm.
Đây là một bài viết có nội dung rộng, đầu tay cùng với tầm quan
trọng của nó nên bài viết không thoát khỏi những sai sót, yếu điểm. Em
mong nhận đợc những ý kiến đóng góp, phê bình của thầy, cô giáo cùng các
bạn. Để bài viết sau đợc tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ch ơng I
Lý luận chung về thuế quan
I. Khái niệm - vai trò của thuế quan.
1
chủ nghĩa và tổng khủng hoảng của chủ nghĩa t bản, thuế quan bảo hộ
mang tính chất tấn công và biến thành công cụ xâm lợc trong cuộc đấu
2
tranh chống nớc mạnh chống nớc yếu. Thuế quan bảo hộ còn chia thành
thuế quan trừng phạt, thuế quan chống phá giá
b. Theo đối tợng đánh thuế:
Thuế quan chia thành thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu, thuế
quan quá cảnh:
- Thuế quan xuất khẩu: Là thuế quan đánh vào hàng hoá XK ra nớc
ngoài. Thuế quan XK chủ yếu nhằm mục đích hạn chế hàng hoá XK ra nớc
ngoài. Loại thuế quan này hiện chỉ còn một số ít nớc đang phát triển dùng
để tạo nguồn thu Ngân sách và dòng vận động hàng hoá giữa thị trờng trong
nớc và thị trờng nớc ngoài, nhất là những hàng hoá để đa đến sự khan hiếm
(gạo), hoặc ảnh hởng đến môi trờng sinh thái (gỗ)
- Thuế quan nhập khẩu: Là loại thuế đánh vào hàng hoá NK từ nớc
ngoài vào. Nó hoàn thành cả chức năng bảo hộ lẫn chức năng tài chính. Về
mặt lịch sử, thuế quan NK xuất hiện sớm hơn các biện pháp khác của chính
sách mậu dịch và ngày nay tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chính
sách ngoại thơng của các nớc. Nó đợc sử dụng nh một công cụ quan trọng
trong cuộc đấu tranh chống sự cạnh tranh của nớc ngoài và đảm bảo cho tổ
chức độc quyền đạt đợc lợi nhuận tối đa ở thị trờng trong nớc.
- Thuế quan quá cảnh: Là thuế đánh vào hàng hoá nớc ngoài khi qua
lãnh thổ của một nớc. Nhằm khuyến khích chuyên chở hàng hoá quá cảnh,
ngày nay các nớc ít dùng loại thuế này.
c. Theo phơng pháp đánh thuế.
Thuế quan chia thành: Thuế quan tính theo giá cả hàng hoá, thuế quan
tính theo lợng, thuế quan hỗn hợp.
- Thuế quan tính theo giá: Đây là mức thuế tính theo tỷ lệ phần trăm
giá hàng trả cho ngời XK. Số tiền tỷ lệ thuận với giá hàng
P1 = P0 (1 + t)
trong biểu thuế của các nớc không thống nhất và gây trở ngại cho trao đổi
hàng hoá giữa các nớc. Nhằm mục đích thống nhất phân loại trong biểu
thuế quan, các nớc t bản họp ở Bruc- xen và đa ra một cách phân loại thống
nhất trong biểu thuế gọi là biểu thuế Bruc- xen. Hàng hoá trong biểu thuế
Bruc- xen đợc chia thành 21 mục và 99 nhóm.
Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, biểu thuế quan của các nớc đế quốc
mang tính chất bảo hộ rõ rệt. Điều này biểu hiện ở một số loại hàng chịu
4
thuế tăng lên, sự phân loại ngày càng tinh vi, mỗi loại hàng có nhiều mức
thuế Xu hớng này phản ánh những yêu cầu của chính sách thuế quan chủ
nghĩa siêu bảo hộ.
Mục Hàng hoá đợc phân loại Nhóm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
XV
XVI
XVII
XVIII
39- 40
41- 43
44- 46
47- 49
50- 63
64- 67
68- 70
71- 72
73- 83
84- 85
86- 89
90- 92
93
94- 98
99
Biểu thuế Bruc- xen.
3. Phân biệt giữa thuế, lệ phí và phí.
a. Điểm giống nhau cơ bản:
Cả ba khoản thu nói trên, tuy ở mức độ khác nhau, đều mang tính c-
ỡng bức mà mọi đối tợng trong quy định của pháp luật, kể cả trờng hợp
quy định không đúng pháp luật đều bắt buộc phải nộp. Đối với ngời nộp thì
cả ba khoản thu này dù mang tên gì, đều là những khoản mà họ phải nộp từ
túi tiền của mình. Họ không cần biết là nộp cho Ngân sách Trung ơng hay
Ngân sách địa phơng, vì nhu cầu chi tiêu cho lợi ích chung hay lợi ích cục
bộ của địa phơng, của ngành.
5
Số tiền thuế, lệ phí và phí phải nộp đều đợc quy định rõ trong các văn
bản pháp quy của Nhà nớc, bằng tỷ lệ hoặc bằng mức thu nhất định. Từ đó,
về nguyên tắc, các đối tợng trong diện đều có thể biết đợc mức tiền phải
nộp trong từng trờng hợp cụ thể.
P
K
Q
T
Q
W
Số lợng Q Số lợng Q Số lợng Q
Biểu đồ 1-1 minh họa cho các tác động của một loại thuế quan đánh
theo số lợng với mức $t đối với mỗi đơn vị hàng hoá (lúa mì). Khi không có
thuế, giá lúa mì ở Nội địa và Nớc ngoài sẽ cân bằng ở P
w
. Tuy vậy, khi có
thuế quan các nhà vận chuyển sẽ không muốn chuyển lúa mì từ Nớc ngoài
vào Nội địa trừ khi giá ở Nội địa vợt giá ở Nớc ngoài ít nhất là $t. Việc ban
hành thuế quan sẽ tạo ra một cái nệm ngăn cách các mức giá trên hai thị tr-
ờng. Thuế quan làm nâng mức giá của Nội địa lên P
t
và hạ giá ở nớc ngoài
xuống P
K
= P
t
- t. ở Nội địa khi giá cao hơn các nhà sản xuất sẽ cung ứng
nhiều hơn, trong khi ngời tiêu dùng có nhu cầu ít hơn, nên lợng cầu NK sẽ
giảm xuống. ở Nớc ngoài giá hạ xuống sẽ đa đến tình trạng giảm cung và
tăng cầu, do đó làm giảm mức cung XK. Vì vậy, khối lợng lúa mì trao đổi
sẽ giảm từ Q
w
(khối lợng khi buôn bán tự do) xuống Q
7
Biểu đồ 1- 2a: Cân bằng trong điều kiện mậu dịch tự do đối với nớc
nhỏ.Nớc này sản xuất tại điểm mà đờng giới hạn khả năng sản xuất tiếp xúc
với một đờng có độ dốc bằng với giá tơng đối và tiêu thụ ở điểm mà đờng
ngân sách tiếp xúc với đờng bàng quan cao nhất, có thể.
Sản xuất và tiêu dùng
Thực phẩm Q
F
,D
F
D
1
Q
1
độ dốc = - P
M
*
/P
*
F
Sản xuất và tiêu dùng
hàng công nghiệp Q
M
, D
MBiểu đồ 1- 2a: Minh hoạ tình trạng của nớc này khi không có thuế
quan. Nền kinh tế nớc này sẽ sản xuất ở một điểm nằm trên đờng giới hạn
.
Tác động đối với tiêu dùng sẽ phức tạp hơn, thuế quan sẽ tạo nên thu
nhập, mà thu nhập này sẽ đợc sử dụng phần nào. Nói chung, tác động chính
cách của thuế quan sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào việc Chính phủ sử dụng thu
8
nhập từ thuế quan nh thế nào. Hãy xem xét trờng hợp Chính phủ trả lại tất
cả thu nhập từ thuế trở lại cho ngời tiêu dùng. Trong trờng hợp này đờng
ràng buộc ngân sách cho ngời tiêu dùng sẽ không phải là đờng thẳng có độ
dốc -P*
M
/P
F
(1 + t) đi qua điểm sản xuất Q
2
; ngời tiêu dùng có thể sử dụng
nhiều hơn, bởi vì bên cạnh thu nhập có đợc từ sản xuất hàng hoá họ còn có
đợc thu nhập từ thuế quan do Nhà nớc cung cấp.
Q
F
, D
F
D
2
Q
2
Q
M
, D
P*
M
ì Q
M
+ P*
F
ì Q
F
= P*
M
ì Q
M
+ P*
F
ì Q
F
.
Sản xuất Q
2
, với độ dốc là P*
M
/D
F
điểm tiêu thụ phải nằm trên đờng
ràng buộc ngân sách mới (biểu đồ 1- 2b). Tuy vậy ngời tiêu dùng sẽ không
chọn điểm trên đờng ràng buộc ngân sách mới mà tại đó đờng này sẽ tiếp
xúc với một đờng bàng quan. Thay vào đó, thuế quan làm cho họ mua ít
thực phẩm và nhiều hàng công nghiệp hơn. Trong biểu đồ 1- 2b điểm tiêu
thụ sau khi có thuế quan đợc thể hiện ở D
2
có hiệu quả (a), là phần cân bằng chung tơng ứng của tổn thất do lệch lạc
trong sản xuất và tổn thất về phúc lợi do tiêu dùng không hiệu quả (b), là
phần tơng ứng của tổn thất do lệch lạc trong tiêu thụ.Ba là: Thuế quan làm
thu hẹp buôn bán. Sau khi có thuế quan XK và NK đều giảm.
10
2.Thuế quan trong một nớc lớn
Thuế quan làm cho đất nớc buôn bán ít hơn trong bất kỳ điều kiện
mậu dịch đợc đặt ra nào, vì vậy đờng chào hàng của nó dịch chuyển vào.
Tuy vậy, điều này hàm ý rằng, điều kiện mậu dịch phải đợc cải thiện. Cái
lợi có từ điều kiện buôn bán đợc cải thiện có thể bù cho tổn thất từ sự lệch
lạc trong sản xuất và tiêu thụ, đều làm giảm phúc lợi ở bất kỳ điều kiện mậu
dịch xác định nào.
Nhập khẩu thực phẩm nội địa D
F
- Q
F
NKTP Nớc ngoài Q
F
*
- D
*
F
. độ dốc =(P
*
M
/ P
*
F
)
. Cân bằng trong tự do buôn bán đợc xác định bởi giao
điểm của OF và OM
1
, ở điểm 1, với giá tơng đối của hàng công nghiệp trên
thị trờng thế giới (P*
M
/ P*
F
)
1
.
Bây giờ hãy giả định rằng nội địa đa ra một loại thuế quan. Đầu tiên
chúng ta đặt câu hỏi, nếu nh không có thay đổi trong điều kiện mậu dịch thì
thơng mại sẽ thay đổi nh thế nào? Chúng ta đã biết câu trả lời từ phân tích
trờng hợp nớc nhỏ; ở mức giá đợc ấn định ở thế giới, thuế quan làm giảm cả
11
NK lẫn XK. Vì vậy nếu nh giá tơng đối của hàng công nghiệp trên thế giới
vẫn ở mức (P*
M
/ P*
F
)
1
, chào hàng của nội địa sẽ chuyển từ điểm 1 sang
điểm 2. Nói một cách chung hơn, nếu nh nội địa đặt ra thuế quan toàn bộ đ-
ờng chào hàng của nó sẽ giãn ra thành OM
2
, đi qua điểm 2.
Những thay đổi này trong đờng chào hàng của nội địa sẽ làm thay
đổi điều kiện mậu dịch cân bằng. Trong biểu đồ 1- 4b, cân bằng mới là ở
t
i
F =
1-a
i
Trong đó: t: Thuế quan đánh vào hàng hoá hoàn chỉnh
t
i
: Thuế quan đánh vào hàng hoá trung gian
12
a
i
: Tỷ lệ giữa sản phẩm trung gian với giá trị sản phẩm cuối
cùng khi cha có thuế quan.
III- Chi phí và lợi ích của thuế quan.
1. Thặng d của ngời tiêu dùng và ngời sản xuất.
Thặng d của ngời tiêu dùng khi mua hàng do sự chênh lệch về giá
thực tế phải trả giá và ngời đó sẵn sàng trả. Ví dụ: nếu nh một ngời sẵn sàng
trả 8 đôla cho một giạ lúa mì, nhng giá thực tế chỉ có 3 đôla, thặng d tiêu
dùng có đợc từ việc mua hàng sẽ là 5 đô la.
Có thể xác định thặng d của ngời tiêu dùng từ đờng cầu của thị trờng
(biểu đồ 1-3). Ví dụ, hãy cho rằng giá cao nhất mà ở mức đó ngời tiêu dùng
sẽ mua 10 đơn vị hàng hoá là 10 đôla. Lúc đó đơn vị hàng hoá thứ 10 phải
có giá trị 10 đôla đối với ngời tiêu dùng. Nếu nh nó đánh giá ít hơn, họ sẽ
không mua đơn vị này; nếu nh nó đáng giá nhiều hơn, họ sẽ sẵn sàng mua
ngay cả khi giá cao hơn. Bây giờ cho rằng để làm cho ngời tiêu dùng mua
11 đơn vị hàng hoá giá sẽ phải giảm xuống 9 đôla. Lúc này đơn vị thứ 11
chỉ đáng giá 9 đôla đối với ngời tiêu dùng.
Biểu đồ 1- 3a: xác định thặng d của ngời tiêu dùng từ cầu.
Thặng d của ngời tiêu dùng từ mỗi đơn vị đợc bán ra là chênh lệch
tính theo cách trừ đi P nhân với Q từ diện tích miền bên dới đờng cầu tính
đến điểm Q (Biểu đồ 1- 3b). Nếu nh giá là P
1
, số lợng cầu là Q
1
và thặng d
của ngời tiêu dùng đợc đo bằng diện tích có vùng tên là a. Nếu nh giá là P
2
14
số lợng cầu tăng lên Q
2
và thặng d của ngời tiêu dùng sẽ tăng lên bằng diện
tích a cộng với diện tích bổ sung b.
Thặng d của ngời sản xuất cũng là một khái niệm tơng tự. Một nhà
sản xuất sẵn sàng bán hàng với giá là 2 đô la nh lại bán đợc giá là 5 đô la sẽ
có thặng d sản xuất là 3 đô la. Cách thức dùng để biểu diễn thặng d của ng-
ời tiêu dùng từ đờng cầu có thể đợc sử dụng để xác định thặng d của ngời
sản xuất từ đờng cung. Nếu P là giá và Q là số lợng đợc cung cấp từ mức
giá này, thì thặng d của ngời sản xuất là P nhân với Q trừ đi diện tích khu
vực nằm dới đờng cung tính tới Q (biểu đồ 1- 3c). Nếu nh giá là P
1
, số lợng
đợc cung cấp sẽ là Q
1
và thặng d của ngời sản xuất sẽ đợc đo bằng diện tích
c. Nếu nh giá tăng lên P
2
số lợng cung cấp Q
2
và thặng d của ngời sản xuất
1
lên S
2
,
trong khi tiêu thụ trong nớc giảm từ D
1
xuống D
2
. Chi phí và lợi ích đối với
các nhóm khác nhau có thể thể hiện bằng tổng diện tích của 5 vùng, đợc gọi
là a, b, c, d, e.
Trớc hết hãy xét cái lợi ích đối với nhà sản xuất trong nớc. Họ nhân
giá cao hơn và vì vậy có thặng d sản xuất lớn hơn. Nhớ lại 1- 3c, cái lợi của
họ có thể đo đợc bởi a, đó là mức tăng trong chênh lệch giữa P ì Q và diện
tích miền bên dới đờng cung.
Những ngời tiêu dùng trong nớc cũng phải đối diện với một mức giá
cao hơn và vì vậy sẽ bị thiệt. Liên hệ với 1- 3b thua thiệt của ngời tiêu dùng
trong nớc bằng tổng a + b + c + d, đó là mức giảm trong chênh lệch giữa
diện tích bên dới đờng cầu và P x Q.
ở đây còn có nhân vật thứ ba: Đó là Chính phủ, Chính phủ đợc lợi từ
việc thu thuế NK. Doanh thu thuế bằng tỷ lệ thuế quan t nhân với số lợng
nhập khẩu Q
T
= D
2
- S
2
. Do t = P
T
- P
thuộc vào việc đánh giá nh thế nào giá trị lợi ích tính bằng đồng đô la đối
với mỗi nhóm. Ví dụ, nếu mỗi lợi ích của ngời sản xuất chủ yếu dồn vào
những ngời chủ sở hữu giàu có, trong khi ngời tiêu dùng lại là những ngời
nghèo thì ngời ta sẽ nhìn nhận về thuế quan theo một cách khác so với khi
hàng hoá là một thứ xa sỉ đợc mua sắm bởi những ngời giàu và đợc sản xuất
ra bởi những công nhân có mức lơng thấp. Vai trò của Chính phủ tạo nên sự
mơ hồ nhiều hơn: Liệu Chính phủ có sử dụng thu nhập của mình để cung
cấp tài chính cho các ngành dịch vụ công cộng quan trọng hay lại lãng phí
nó vào những chi tiêu quá mức của mình ? Bất chấp những vấn đề này, các
phân tích về chính sách ngoại thơng thờng cố gắng tính toán các tác động
ròng của một loại thuế đối với phúc lợi của một quốc gia bằng cách giả
định rằng ở mức biên thì giá trị lợi ích hay tổn thất đối với mỗi nhóm cũng
là giá trị của xã hội.
Lúc này, hãy xem xét tác động ròng của một loại thuế quan đối với
phúc lợi. Chi phí ròng của một loại thuế quan là: Tổn thất của ngời mua-
nguồn lợi của ngời sản xuất- thu nhập của Chính phủ hay thay thế các khái
niệm này bằng các diện tích trong biểu đồ 1- 3d.
(a + b + c + d)- a- (c + e) = b + d - e.
ở đây sẽ có hai tam giác mà diện tích của chúng để đo lờng tổn
thất và một hình chữ nhật mà diện tích của nó dùng để đo lờng khoản lời
đền bù. Một cách có ích để giải thích các khoản lợi và các tổn thất là nh
sau: Các tam giác thể hiện sự mất mát cho tổn thất hiệu năng hiện do thuế
17
quan làm sai lạc những khuyến khích, trong khi hình chữ nhật tiêu biểu cho
nguồn lợi ngoại thơng xuất hiện do thuế quan làm giảm hàng XK của nớc
ngoài. Nếu nh nớc đó không có khả năng tác động đến giá của thế giới (tr-
ờng hợp nớc nhỏ), miền e, tiêu biểu cho các khoản lợi ngoại thơng, sẽ mất
đi và rõ ràng là thuế quan sẽ làm giảm phúc lợi. Nó làm lệch lạc những
khuyến khích đối với cả những ngời sản xuất lẫn ngời tiêu dùng bằng cách
thức đẩy họ hành động nh thế hàng NK đắt hơn thực tế. Chi phí về một đơn
những tổn thất này là các khoản lợi ngoại thơng đợc thể hiện bằng hình chữ
nhật (e), kết quả của việc thuế quan làm giảm giá XK của nớc ngoài.
Ch ơng II
Thực trạng chính sách thuế quan
hiện hành của Việt nam
I. Nội dung chủ yếu của chính sách thuế quan hiện hành
19
Cơ cấu thuế quan XK, NK chính thức của Việt nam bao gồm khoảng
3200 loại thuế. Mức thuế thấp nhất là 0% và cao nhất là 150%, giữa hai
mức này có khoảng 100 mức ở giữa. Trong đó thuế XK ở Việt nam cao nhất
là 45% (áp dụng đối với hàng phế liệu kim loại màu), 35% (phế liệu kim
loại đen), 0% đối với các mặt hàng nông sản (gạo, ngô, cà phê, đào lộn hột,
ớt, tiêu, điều), 1% áp dụng đối với: cá, mực, mủ cao su tự nhiên , 3% với
tôm, cua tơi; 4% đối với dầu thô; 5% đối với đá quý. Tổng là có 11 mức
thuế suất tính trên giá FOB.
Đối với thuế nhập khẩu có khoảng 28 thuế suất danh nghĩa khác
nhau tính theo giá CIF. Mức thuế cao nhất áp dụng cho ô tô, đồ uống và các
hàng sa sỉ khác, cụ thể: 150% áp dụng với: bia, rợu mạnh, ô tô < 5 chỗ;
100% đối với ô tô từ 5 đến 24 chỗ; xe máy, máy thu hình từ 40 đến 50%.
Còn thuế quan đánh vào các nguyên liệu thô, các thiết bị cơ bản và các sản
phẩm trung gian nói chung thấp hơn nhiều, ví dụ nh 0% đối với: thiết bị
dụng cụ y tế; 5% đối với dầu ăn; 8% đối với sơn chống rỉ Trên một nửa
thuế quan thuộc các hạng mục sau và điều đó có nghĩa là thuế quan trung
bình tơng đối thấp.
II. Đánh giá chính sách thuế quan hiện hành.
1. Ưu điểm và những hạn chế.
Luật thuế xuất nhập khẩu của Nhà nớc ta ban hành năm 1987, đã đợc
sửa đổi và bổ sung nhiều lần. Trong quá trình thực hiện luật thuế xuất nhập
khẩu đã phát huy đợc tác dụng tích cực trong việc bảo hộ sản xuất trong n-
ớc hớng dẫn ngời tiêu dùng và đạt kết quả khá cao trong việc tăng thu ngân
cho doanh nghiệp thiếu yên tâm đầu t phát triển sản xuất.
- Diện thu thế XK còn rộng, 60 nhóm mặt hàng với 10 thuế suất từ
1% đến 45% cha góp phần khuyến khích đẩy mạnh XK.
- Việc kết hợp mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách với việc giải
quyết nhiều chính sách kinh tế- xã hội khác nhau đã làm cho chính sách
thuế xuất nhập khẩu trở nên phức tạp do có nhiều thuế suất, nhiều ngoại tệ,
nhiều trờng hợp miễn giảm không đảm bảo đợc tính tập trung, công bằng
của thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý thu thuế và tạo khe hở tránh
thuế, trốn thuế cho ngời nộp thuế.
Chính sách thuế quan hiện hành cho thấy thuế quan bình quân gia
quyền thấp (khoảng 19% năm 1995 và khoảng 16% năm 1996) cho thấy
hàng rào buôn bán của Việt nam không cao lắm so với hàng rào buôn bán ở
các nớc đang phát triển khác ở Châu á. Tuy nhiên chính sách thuế xuất
nhập khẩu luôn luôn bị bổ sung sửa đổi theo thực tế tình hình nên thiếu ổn
21
định, chắp vá, gây khó khăn cho việc theo dõi thực hiện và gây tâm lý thiếu
an tâm trong sản xuất kinh doanh nói chung, cho các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu nói riêng.
2. Hội nhập vào AFTA của ngành thuế Việt nam.
Kể từ 1/1/1996, Việt nam tham giá AFTA và đợc phép kéo dài thời
hạn hoàn thành việc giảm thuế quan còn 0- 5% trong 3 năm, tức là vào năm
2006. Bớc đầu tiên của Việt nam sẽ là giảm mức thuế đối với 15 loại mặt
hàng trong danh mục giảm thuế nhanh của SEPT. Tiếp đó, sẽ phải sắp xếp
lại hệ thống đối với 2800 mặt hàng trong phạm vi AFTA. Danh mục những
sản phẩm thuộc diện TEL sẽ giảm dàn trong 5 năm, từ đầu tháng 1 năm
1999 đến cuối tháng 1 năm 2003. Nông sản cha chế biến thuộc TEL cũng
sẽ dần dần đợc đa vào danh mục trong giai đoạn từ đầu tháng 1 năm 2000
đến cuối tháng 1 năm 2006.
Ngoài ra, Việt nam cũng đã chấp nhận điều kiện tối huệ quốc (MFN)
cho ASEAN với mức thuế thấp nhất có thể. Mặc dù đang áp dụng mức thuế
là XK.
Mặc dầu danh mục cắt giảm thuế của Việt nam chiếm tỷ lệ thấp so
với các nớc thành viên khác khi họ bắt đầu thực hiện chơng trình CEPT, nh-
ng đây là biện pháp an toàn nhất để Việt nam có thời gian nghiên cứu, rút
kinh nghiệm.
Để thực hiện đúng cam kết của Chính phủ Việt nam với
ASEAN ngày 1/1/1996, tại Hội nghị Bộ trởng kinh tế các nớc ASEAN ở
Ôsaka, Việt nam đã đệ trình danh mục hàng hoá tham gia chơng trình
CEPT 1996. Danh mục này gồm 857 nhóm mặt hàng, chủ yếu là hàng hoá
đang có mức thuế xuất nhập khẩu từ 0%- 5% tức là các mặt hàng đã đạt
mức thuế cuối cùng của chơng trình CEPT, nên trên thực tế là không giảm
thuế NK.
Ch ơng III
23
Những giải pháp để áp dụng thuế quan thúc đẩy
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
I. Quan đểm cơ bản khi đa ra chính sách thuế quan mới.
Trớc hết cần nhận thức rằng việc đa ra chính sách thuế mới (cải cách
thuế) là công việc rất phức tạp và khó khăn. Đặc biệt là thuế XNK động
chạm đến chẳng những lợi ích quốc gia, doanh nghiệp và dân c trong nớc
mà còn động chạm đến quyền lợi của bạn hàng nớc ngoài. Việt nam đã
tham gia ASEAN, đã ký kết nhiều hiệp định song phơng với nhiều quốc gia,
khu vực. Những yếu tố đó cần đợc xem xét khi cải cách hệ thống thuế của
Việt nam hiện nay. Do vậy cải cách hệ thống thuế XNK cần đợc thực hiện
với quan điểm sau:
1. Thuế XK, NK phải bảo đảm thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo hộ
chính đáng sản xuất nội địa, nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hoá trong nớc
Để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi khi ban hành một sắc thuế quan
cần quy định rõ đối tợng nộp thuế, đối tợng tính thuế, biểu thuế, hệ thống
C
1
10000P P
1
Biểu đồ 3- 1a: Trờng hợp nhập khẩu
Trong biểu đồ, trục X chỉ thời gian bằng số năm trục Y là chi phí cho
mỗi xe ô tô tính bằng đô la Mỹ (USD). P là giá cả thế giới qua thời gian, giả
thiết là ở mức 10 nghìn USD.
Nếu các doanh nghiệp Việt nam muốn nhập khẩu ô tô họ có thể nhập
ở mức giá 10 ngàn USD từ Nhật hoặc Mỹ. Đờng cc
1
biểu thị cho chi phí
sản xuất mỗi ô tô tại Việt nam. Tình huống trong biểu đồ 3-1a chi phí sản
xuất ô tô tại Việt nam bắt đầu ở mức 15 ngàn USD và vẫn còn cao hơn mức
giá nhập khẩu 10 ngàn USD, thậm chí cả 10 năm sau đó. Trong tình huống
này, Việt nam cần nhập ô tô thay vì cố sản xuất ra chúng. Bởi vì 10 năm
sau, nếu có sản xuất ô tô con thì chi phí vẫn còn cao hơn mức giá ngoại
quốc. Trong thời gian đó, một lợng tài nguyên (trên đồ thị là diện tích
cc
1
pp
1
) lẽ ra đợc dùng vào các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế sẽ cho
hiệu quả kinh tế cao hơn.
Một tình huống khác đợc mô tả trong biểu đồ 3-1b. Nớc ta học đợc
cách chế tạo ô tô loại nhỏ và chi phí của chúng ta giảm mạnh. Vào năm thứ
hai Việt nam đã có thể sản xuất ô tô con với chi phí 8 ngàn USD/chiếc,
25