Những Giải pháp chủ yếu để mở rộng & nâng cao chất lượng tín dụng NH đối với các doanh nghiệp vừa & nhỏ - Pdf 12

Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN là một chiến
lợc phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Thực hiện chủ trơng trên, từ đại hội Đảng lần thứ 6(Tháng 12 - 1990)
đến nay, Đảng và Nhà nớc đã ban hành một số chủ trơng chính sách nhằm
khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Từ đó, các
loại hình doanh nghiệp nh doanh nghiệp t nhân(DNTN),công ty trách nhiệm
hữu hạn(TNHH),công ty cổ phân(CTCP) đã phát triển nhanh chóng đang trở
thành lực lợng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nớc ta.
Song nhìn chung quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thì đến nay
ở nớc ta có tới 70% doanh nghiệp nhà nớc(DNNN) và hầu hết các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh(DNNQD) thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN)
Hiện nay, DNVVN ở nớc ta tuy có tốc độ phát triển tơng đối khá nhng
đang gặp khó khăn nhiều mặt: thiết bị, công nghệ lạc hậu, trình độ tổ chức
và quản lý yếu kém, năng suất lao động thấp, chất lợng sản phẩm kém , giá
thành sản phẩm cao, thị trờng không ổn định, bị hàng hoá nhập lậu và hàng
hoá của các doanh nghiệp lớn cạnh tranh gay gắt.
Nhng khó khăn lớn nhất hiện nay là vốn hiện có của hầu hết các
DNVVN rất ít trong khi đó nhu cầu vốn để các doanh nghiệp này mở rộng
sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ lại đòi hỏi rất lớn. Do đó, việc nghiên
cứu thực trạng tín dụng ngân hàng nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu để mở
rộng và nâng cao chất lợng tín dụng, hỗ trợ cho các DNVVN là một vấn đề
đặt ra hết sức cấp thiết.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về vai trò của tín dụng của
ngân hàng nói chung và của ngân hàng công thơng Ba Đình nói riêng đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh
1

Song việc xây dựng các chính sách đối với sự phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn gặp không ít khó khăn. Vì cho đến nay, chúng ta cha
có một định nghĩa tơng đối đầy đủ về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhìn một cách tổng quát việc định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ có
thể có hai cách tiếp cận chủ yếu sau đây: định nghĩa theo chức năng và định
nghĩa theo tính ứng dụng.
Khi định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chức năng, ngời ta dựa
vào những đặc trng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ nh trình độ chuyên
môn hoá sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phơng pháp tổ chức quản
lý, quan hệ giữa chủ và thợ, giữa ngời quản lý và ngời làm công trong hoạt
động kinh doanh.v.v... cách tiếp cận này còn có nhiều hạn chế vì nó mới chỉ
nêu đợc mặt định tính, còn mặt định lợng rất cần thiết nó cha thể hiện đợc.
Nếu dựa vào định nghĩa này thì chúng ta không có cơ sở để phân loại
ở Pháp ngời ta còn đa ra tiêu chuẩn để xếp loại những doanh nghiệp
siêu nhỏ. Doanh nghiệp siêu nhỏ chủ yếu là những doanh nghiệp cá nhân
3
(doanh nghiệp gia đình). Tài sản của doanh nghiệp là tài sản của cá nhân -
chủ gia đình. ở Pháp, tiêu chí phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ là những
doanh nghiệp có số công nhân dới 20 ngời.
Hiện nay ở nớc ta cha có một định nghĩa chính xác về doanh nghiệp
vừa và nhỏ; Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là
doanh nghiệp sử dụng dới 500 lao động. Nhng họ cha đa ra đợc luận cứ vì
sao lại chọn con số này làm mốc.
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng: Những doanh nghiệp trong các
lĩnh vực sản xuất và xây dựng đợc coi là doanh nghiệp nhỏ. Nếu chúng có số
vốn từ 100 - 300 triệu đồng và số công nhân từ 5 - 10 ngời; còn các doanh
nghiệp có số vốn lớn hơn 300 triệu đồng và số công nhân lớn hơn 50 ngời là
doanh nghiệp vừa. Nhng theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế khác thì
doanh nghiệp nhỏ là loại doanh nghiệp có số vốn dới 1 tỷ đồng và số công
nhân dới 100 ngời; còn doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có số vốn

Việc phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nớc t
bản chủ nghĩa nói trên, trong những thập kỷ gần đây, là do nhiều nguyên
nhân:
Một là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính nhạy cảm cao đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh, linh hoạt và ứng phó kịp thời tình hình biến
động của thị trờng.
Hai là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chấp nhận mọi
sự rủi ro, mạo hiểm có thể xảy ra, nên chủ doanh nghiệp có thể mạnh dạn
đầu t vào những ngành mới, những ngành mà lúc đầu đem lại lợi nhuận ít và
những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt.
Ba là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng thực hiện sự đổi mới
thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh nghiệp lớn, vì yêu cầu vốn bổ
xung không nhiều; và giảm đợc sự thiệt hại trong việc thay đổi t bản cố định
khi có sự cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác.
Ngày nay do sự phát triển hết sức nhanh chóng của khoa học và công
nghệ nên nhiều khi thời gian tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian
tồn tại của thế hệ máy móc sản xuất ra nó. Vì vậy đòi hỏi phải khấu hao
nhanh để chuyển sang sản xuất mặt hàng mới với thiết bị và công nghệ mới.
Bốn là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng những kỹ
thuật tiên tiến, có thể kết hợp giữa tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ
5
công, có thể sản xuất ra sản phẩm có chất lợng cao trong điều kiện cơ sở hạ
tầng kêm.
Hiện nay, có ngời cho rằng: Sự phát triển các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở các nớc t bản phát triển là hiện tợng phi tập trung hoá và học đi đến
kết luận rằng: Luận điểm của Lênin về tích tụ tập trung t bản dẫn tới độc
quyền ngày nay không còn đúng nữa. Nghiên cứu sâu bản chất kinh tế của
hiện tợng này chúng ta thấy rằng: Đó chẳng qua là sự biển hiện của độc
quyền dới dạng mới mà thôi.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng thiếu vốn, thiếu cán bộ khoa học

hút lao động và đóng góp thu nhập quốc dân cho đất nớc.
Theo số liệu thống kê của nhiều nớc cho thấy doanh nghiệp vừa và
nhỏ chiếm 95% tổng số các doanh nghiệp, thu hút từ 75 đến 90% số nhân
viên làm việc trong các doanh nghiệp và đóng góp từ 40 đến 50% thu nhập
quốc dân ở mỗi nớc. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 1(9) tháng
1,2 năm 1995 cho biết: ở Mỹ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ về số ngời lao
động chiếm 78,5%, về thu nhập quốc dân chiếm 34% so với toàn bộ doanh
nghiệp nớc Mỹ; ở Cộng hoà liên bang Đức (không kể Đông Đức) con số đó
là 75% và 45%; ở Nhật Bản con số đó là 92,8% và 56%; ở Pháp số nhân
việc làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 83,5% trong toàn bộ
các doanh nghiệp nớc này.
Do có lợi thế là: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập đợc
công ty, nhà xởng; có thể mở văn phòng, xởng sản xuất tại gia đình với chi
phí quản lý thấp, tính năng động và tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng
với nhu cầu thờng xuyên thay đổi của ngời tiêu dùng v.v.... nên số doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua phát triển khá nhanh. Đặc biệt là
loại doanh nghiệp mang tính chất gia đình, cá thể chiếm một tỷ lệ lớn.
Kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là nửa cơ
giới, lao động sống chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng,
chế biến nông, lâm, hải sản; xây dựng và giao thông vận tải v.v... nên nó có
khả năng thu hút nhiều lao động, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và
tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho ngời lao động. Trong khi đó các doanh
nghiệp lớn kỹ thuật sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các
xí nghiệp tự động hoá sản xuất và sử dụng công nghệ ngời máy đã làm cho
số ngời thất nghiệp ngày càng tăng, phát sinh nhiều tiêu cực xã hội.
7
2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã
hội ngày càng phong phú, đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm
đợc.

doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì vậy hệ thống cửa hàng kinh doanh thơng
mại - dịch vụ vừa và nhỏ đặt khắp các đờng phố khu công nghiệp, các tụ
điểm dân c, đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng một cách nhanh chóng và
thuận tiện.
ở Nhật năm 1995, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 51% trong các
ngành sản xuất, 62% đối với ngành buôn bán, 80% đối với ngành bán lẻ.
ở Việt Nam, chúng ta có thể đánh giá vai trò của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh thơng mại - dịch vụ qua tỷ trọng bán lẻ
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh so
với tổng mức bán lẻ của toàn xã hội qua các năm:
Năm 1980: 70,8%.
Năm 1989: 57,3%.
Năm 1994: 67,6%.
Năm 1998: 76%.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã
làm cho lực lợng sản xuất phát triển có tính nhảy vọt, vợt ra khỏi biên giới
quốc gia và đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Cho nên bất kỳ nớc nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp
cũng đều phải thực hiện chiến lợc kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận
dụng lợi thế so sánh tích cực tham gia vào việc phân công lao động quốc tế,
chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ và kinh
nghiệm tốt của nớc ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nớc. Đặc trng
cơ bản của chiến lợc kinh tế mở là mức bảo hộ thấp, khuyến khích xuất khẩu
(hớng ngoại).
Thực tiễn cho thấy rằng hàng chục năm qua, ở các nớc đang phát
triển, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan trọng trong việc sản
xuất, chế biến các mặt hàng xuất khẩu. Nhất là những mặt hàng đợc sản xuất
ra bằng những nguyên liệu do các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản
cung cấp.
9

và kỹ thuật nên việc đầu t khai thác các nguồn lực của đất nớc, Đảng ta chủ
10
trơng: Chú trọng quy mô nhỏ và vừa, vốn đầu t ít, thu hồi nhanh theo phơng
châm lấy ngắn nuôi dài .(5 tr 15)
Doanh nghiệp vừa và nhỏ do vốn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém
nên tỷ lệ lao động sử dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng lớn rất
thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công nh chế biến thuỷ sản
đông lạnh, may mặc, da giầy, công nghiệp chế biến.
Theo số liệu của Tổng cục thống kế ở thời điểm cuối năm 1998, số
doanh nghiệp đợc cấp giấy phép kinh doanh phân theo ngành nghể nh sau:
(6)
Số doanh nghiệp Số vốn đăng ký (tỷ đ)
Tổng số 26.282 56.331
- Nông lâm nghiệp 1.004 2.810
- Thuỷ sản 2.189 610
- Công nghiệp chế biến 8.886 18.314
- Xây dựng 2.407 2.924
- Thơng nghiệp 5.535 6.677
Nh vậy ngành công nghiệp chế biến là ngành công nghiệp phát triển
nhất của Việt Nam nhằm khai thác các khả năng về tài nguyên, về sức lao
động của từng địa phơng, về từng vùng kinh tế, ngành công nghiệp này chủ
yếu thích hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.4. Một số khó khăn và hạn chế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Trong điểm 1.1.3, chúng tôi đã trình bày vị trí và vai trò của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế, khai thác tài
nguyên lao động, tạo ra nhiều việc làm. sản xuất ra nhiều hàng hoá, tăng thu
nhập cho Nhà nớc và cho ngời lao động. Nhng hiện nay, ở các nớc cũng nh ở
nớc ta, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp một số khó khăn và hạn
chế:

nguồn vốn lớn.
Nh vậy là khó khăn về thiếu vốn nói trên dẫn đến khó khăn trong việc
ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
12
Do thiếu vốn, nên mức trang bị kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ rất thấp so với các doanh nghiệp lớn: mức trang bị kỹ thuật đợc biểu
hiện bằng số vốn cố định bình quân cho một công nhân trong doanh nghiệp.
Nó đợc tính theo công thức:
i)(dồng/ngườ
nghiệp doanhcủa nhan công số Tổng
nghiệp doanhcủa dịnh cố vốn số Tổng
thuật kỹbị trang Mức =
Hàng năm, vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ, nói chung có tăng lên. Nhng
mức trang bị kỹ thuật của nó so với mức trang bị kỹ thuật của các doanh
nghiệp lớn lại giảm xuống một cách tơng đối.
Chẳng hạn, ở Nhật Bản nếu năm 1963 mức trang bị kỹ thuật của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng 35% mức trang bị kỹ thuật của các doanh
nghiệp lớn, thì sau 30 năm tức là năm 1997 con số đó đã tụt xuống, chỉ còn
5%.
Nguyên nhân của tình hình trên là do mấy thập kỷ qua, dới tác động
mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới, các doanh
nghiệp lớn phải thích ứng bằng cách ra sức tích cực và tập trung t bản để
nâng cao cấu tạo kỹ thuật t bản, nhằm tăng cao năng suất lao động để giành -
u thế trên thị trờng cạnh tranh trong nớc và quốc tế.
Trong nớc năm tới, nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ không giải quyết
đợc tình trạng lạc hậu về kỹ thuật và công nghệ thì sự lệ thuộc vào doanh
nghiệp lớn càng nhiều và do đó có thể bị doanh nghiệp lớn thôn tính hoặc bị
phá sản.
Do vốn ít, nên cấu tạo kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp
hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn. Có nghĩa là doanh nghiệp vừa và nhỏ

đứng có lợi để tiêu thụ hàng hoá trên thị trờng thế giới.
4. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức độ rủi ro cao hơn so với
các doanh nghiệp lớn.
Theo số liệu thống kê hàng năm, ở nhiều nớc, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có tỷ lệ phá sản cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Chẳng hạn nh ở
Pháp, hàng năm có khoảng 200 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời thì
cũng chính thời gian ấy lại có chừng ấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản.
Những doanh nghiệp phá sản thờng là những doanh nghiệp vốn ít, kỹ
thuật lạc hậu, chất lợng lao động và năng lực của cán bộ quản lý kém, thiếu
14
hiểu biết về thị trờng và nhất là do sai lầm nghiêm trọng trong việc quản lý
điều hành của chủ doanh nghiệp.
ở nớc ta, từ khi thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc
theo Nghị định 388/HĐBT (tháng 11 - 1993) đến tháng 7-1999 đã có khoảng
6000 doanh nghiệp nhỏ và quá nhỏ thuộc nhóm các doanh nghiệp có dới 100
lao động và dới 500 triệu đồng vốn đã ngừng hoạt động hoặc đang trong tình
trạng làm ăn thua lỗ kéo dài. Phần lớn các doanh nghiệp này do cấp huyện
quản lý.
Đến nay, trong tổng sô khoảng 6000 doanh nghiệp nhỏ nói trên, đã
có khoảng 4000 doanh nghiệp đợc sát nhập lại thành doanh nghiệp có quy
mô lớn hơn; và số còn lại khoảng 2000 doanh nghiệp phải chuyển sang hình
thức sở hữu khác hoặc bị giải thể.
Những khó khăn và hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
trên, suy cho cùng đều bắt nguồn từ khó khăn về vốn để sản xuất kinh
doanh. Vì thiếu vốn nên không có khả năng đổi mới thiết bị, ứng dụng
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, do đó không thể tạo ra đợc
những sản phẩm có sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trờng
thế giới; và cuối cùng tất yếu phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn các doanh
nghiệp lớn.

lại cho ngời chủ của nó và kèm theo một khoản lợi tức; Còn đối với ngời đi
vay thì nó là t bản hoạt động, vì nó đợc ngời đi vay sử dụng vào sản xuất
kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận này không phải do t bản của anh
ta sinh ra, mà do anh ta sử dụng t bản của ngời khác, do đó anh ta phải trích
một phần lợi nhuận thu đợc trả cho ngời cho vay dới hình thức lợi tức. Lợi
tức đợc coi nh giá cả của hàng hoá t bản cho vay.
Từ sự phân tích trên cho thấy: Khi kinh tế hàng hoá phát triển đến một
trình độ nhất định, tự nó làm nảy sinh những mâu thuẫn trong sự vận động
của vốn dới hình thái tiền tệ. Từ đó đòi hỏi một cách khách quan sự ra đời
của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng đợc thực hiện thông qua vai
trò trung gian của ngân hàng. Đó là việc ngân hàng đứng ra huy động mọi
nguồn vốn nhàn rỗi và phân tán trong nền kinh tế; rồi bằng nguốn vốn đó và
nguồn vốn tự có của mình tiến hành cho các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
và cá nhân vay để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, nhằm mục tiêu th-
ơng mại.
16
Nh vậy, tín dụng ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực
hiện chức năng mua tiền tức là đi vay và bán tiền tức là cho vay để thu lợi
nhuận. Lợi tức gửi tiền ( Z
ng
) là giá cả mua tiền, còn lợi tức cho vay (Z
CV
) là
giá cả bán tiền.
Lợi nhuận của tín dụng ngân hàng đợc tính theo công thức sau đây:
P
TDNH
= Z
CV

của nền kinh thị trờng. ở một số nớc trong khu vực khi chúng tôi có dịp đến
nghiên cứu và khảo sát, thì lợi nhuận của các ngân hàng thu đợc qua hình
thức tín dụng cho vay vốn chỉ có 60%, còn 40% là thu từ các loại hình tín
dụng khác. Nhng ở Việt Nam hiện nay các loại hình tín dụng khác nhau cha
phát triển, nên hoạt động tín dụng của các ngân hàng thơng mại đan xen với
với hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác xã tín dụng là
chủ yếu.
1.2.2 Tính chất đa dạng hoá các hoạt động tín dụng ngân hàng.
Các ngân hàng thơng mại quốc doanh này tuy mang tên ngân hàng
chuyên doanh, ví dụ: Ngân hàng Công thơng, Ngân hàng Ngoại thơng, Ngân
hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Đầu t v.v... nhng hoạt động tín dụng của các
ngân hàng này và các ngân hàng cổ phần đều kinh doanh và dịch vụ đa dạng.
Tuỳ theo năng lực nghiệp vụ và kỹ thuật nghiệp vụ công nghệ của từng ngân
hàng mà đi theo hớng chuyên doanh một số nghiệp vụ hay kinh doanh tổng
hợp, bao gồm: Cho vay cả ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay ngoại tệ, nội
tệ, hoạt động đối nội và đối ngoại v.v... Chỉ riêng ngân hàng nớc ngoài cha
đợc phép kinh doanh nội tệ nh ngân hàng trong nớc.
Tín dụng ngân hàng Việt Nam tuy đã phát triển theo hớng đa dạng
hoá các hoạt động kinh doanh, kinh doanh tổng hợp, nhng sự phát triển các
hình thức tín dụng còn chậm. Hớng tới bên cạnh các hình thức tín dụng
truyền thống sẽ mở ra các hình thức tín dụng mới nh: Chiết khấu, tái chiết
khấu và chuyển nhợng giấy tờ có giá, tài trợ mua bán hàng trả góp, đấu thầu
trái phiếu kho bạc và trái phiếu công ty, t vấn, bảo lãnh, bảo hiểm, tín dụng
thu mua, cung ứng thông tin. Trên thị trờng chứng khoán, các ngân hàng th-
ơng mại trở thành ngân hàng đa dạng vừa có thể làm dịch vụ môi giới cho
khách hàng, vừa trực tiếp kinh doanh chứng khoán của mình, đồng thời làm
dịch vụ nh tổ chức thanh toán, lu giữ chứng từ và dữ liệu v.v...
Tính chất đa dạng hoá các hoạt động tín dụng ngân hàng còn thể hiện
ở chỗ phục vụ đa thành phần khách hàng, đa đối tợng vay vốn. Ngân hàng
thơng mại quốc doanh không chỉ đầu t cho kinh tế quốc doanh mà còn đầu t

tiêu xã hội, tức là vừa phải tuân thủ các quy luật của cơ chế thị trờng, vừa
phải hớng hoạt động phục vụ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
19
1.3. Vai trò của tín dung ngân hàng đối với sự hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng hoá, tín dụng
ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
riêng.
1.3.1. Tín dụng ngân hàng là một công cụ tích tụ và tập trung vốn
để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và
theo chiều sâu.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng, việc mở rộng sản xuất theo
chiều rộng và theo chiều sâu là yêu cầu khách quan của việc tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp. Nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thực hiện yêu cầu ấy, nếu chỉ dựa vào sự tích luỹ lợi nhuận thu đợc
trong nội bộ từng doanh nghiệp thì rất lâu, không phải doanh nghiệp nào
cũng làm đợc. Nhng nếu thông qua sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng thì việc
đó có thể thực hiện một cách nhanh chóng.
ở nớc ta hiện nay, tuy đã qua 10 năm đổi mới, các doanh nghiệp Nhà
nớc cũng nh các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vẫn còn
đang trong quá trình tổ chức và tổ chức lại. Một số doanh nghiệp quy mô
nhỏ cần vốn để tăng thêm máy móc thiết bị, vật t nguyên liệu, năng lợng và
lực lợng lao động. Một số doanh nghiệp khác đang trong tình trạng lạc hậu
về kỹ thuật, cần vốn để đổi mới thiết bị và công nghệ, nâng cao cấu tạo kỹ
thuật, từng bớc hiện đại hoá. Và một số doanh nghiệp đã hình thành nhng
còn đang trong tình trạng thiếu vốn hoạt động.
Với t cách là một trung tâm tín dụng, các ngân hàng thơng mại có vai
trò rất quan trọng trong việc tích tụ và tập trung mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong các cơ sở sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế,

Tất cả những việc đó, chỉ có thể thực hiện đợc với điều kiện là phải có nguồn
vốn tơng ứng.
Giải quyết vốn cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nớc ta hiện
nay, có nhiều nguồn, nhiều kênh. Nhng do bản chất của tín dụng ngân hàng
là vay bảo đảm hoàn trả kèm theo lãi cho ngời vay nên nó có thể huy động đ-
ợc một khối lợng lớn vốn nhàn rỗi rất lớn.
Tín dụng ngân hàng, bằng các hình thức huy động vốn linh hoạt, áp
dụng nhiều phơng thức nhận gửi, chi trả cho khách hàng nhanh chóng, thuận
21
tiện; có một hệ thống kinh doanh tiền tệ bao gồm các quỹ tiết kiệm, các
phòng giao dịch, các trụ sở ngân hàng rộng khắp, nên có khả năng huy động
đợc mọi khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, để đa vào sản xuất lu
thông có mục tiêu, có trọng điểm. Qua đó, tín dụng ngân hàng góp phần đẩy
nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế quốc dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế quốc dân hợp lý, có hiệu quả.
Ưu thế nổi bật của hoạt động tín dụng ngân hàng là không làm tăng
khối lợng tiền mặt trong lu thông. Với chức năng đi vay, tín dụng ngân hàng
hút tiền thừa trong lu thông; và với chức năng cho vay, tín dụng ngân hàng
đẩy tiền ra lu thông, khi lu thông thiếu tiền.
Nh vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà
lu thông tiền tệ làm cho quan hệ tiền hàng cân đối với nhau. Chính vì lý do
này, tín dụng ngân hàng là một công cụ tổng thể chống lạm phát, ổn định
tiền tệ và giá cả, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhất là đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh có hiệu quả.
Để thấy rõ vai trò chống lạm phát bằng công cụ tín dụng ngân hàng,
chúng ta hãy xem chỉ số tăng giá ở nớc ta qua các năm từ Đại hội Đảng lần
thứ VI đến 1999.
Năm Chỉ số tăng giá
1990 400%

hình kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, chẳng những tạo cơ hội thuận lợi
cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mà còn có
lợi cho ngời tiêu dùng, nhất là đối với ngời lao động có thu nhập thấp.
1.3.3. Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc
tự do di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác.
Trong cơ chế thị trờng Mác đã chỉ rõ: việc sản xuất kinh doanh vì
động cơ lợi nhuận tất yếu sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trong nội bộ ngành và
cạnh tranh giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh trong cùng một ngành, sản xuất ra cùng một
23
loại hàng hoá. Mục đích của cạnh tranh là giành u thế trong sản xuất để có u
thế trong tiêu thụ, nhằm thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Điều kiện để giành
thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này là doanh nghiệp phải có vốn khá lớn để
đổi mới kỹ thuật và công nghệ, cải tiến tổ chức và quản lý, nâng cao năng
suất lao động, tăng số lợng và chất lợng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất, làm
cho giá trị cá biệt của hàng hoá do doanh nghiệp của mình sản xuất ra thấp
hơn giá thị trờng. Thực hiện yêu cầu này, các doanh nghiệp, nhất là những
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đợc sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng mà chúng
tôi đã trình bày ở điểm 1.3.1. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cơ sở của
cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh trạnh giữa các
doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất khác nhau, sản xuất ra những hàng
hoá có giá trị sử dụng khác nhau, nh cạnh tranh giữa các ngành dệt, dự án,
may mặc, cơ khí điện tử v.v... Mục đích của cạnh tranh này là nhằm giành
giật lĩnh vực đầu t thu hút nhiều lợi nhuận.
Nh chúng ta đã biết, trong các ngành sản xuất khác nhau do điều kiện
kinh tế, kỹ thuật, tổ chức quản lý khác nhau; do đó cùng một lợng vốn đầu t
vào các ngành nh nhau, nhng khối lợng lợi nhuân thu đợc trong cùng một
thời gian (một năm chẳng hạn) lại không bằng nhau. Từ đó dẫn đến dự cạnh
tranh di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất

cơ bản chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng. Quyết định số 55/CT ngày
10/03/1993 của HĐBT cho phép Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc quy định
mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân c phù hợp với sự biến động của giá cả
thị trờng xã hội. Sau đó quyết định 39 của HĐBT ngày 10 - 3 - 1993 đã đa ra
các nguyên tắc cơ bản để xác định lãi suất tiền gửi và tiền vay của ngân
hàng. Nội dung cơ bản của các nguyên tắc đó nh sau:
1. Mức lãi suất nhận gửi của tín dụng ngân hàng phải đủ bảo tồn
vốn và có lãi cho ngời gửi. Hay nói cách khác lãi suất nhận gửi của tín dụng
ngân hàng phải bằng chỉ số trợt giá cộng với lãi suất cơ bản. Nguyên tắc này
nhằm khuyến khích những ngời có tiền cha dùng đến đem gửi vào ngân
hàng. Vì đây là việc làm vừa ích nớc vừa lợi nhà.
2. Chính sách lãi suất áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh
tế, nhằm tạo ra môi trờng cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,
thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng
và Nhà nớc, triệt để khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội,
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3. Mức lãi suất cho vay của tín dụng ngân hàng phải lớn hơn mức
lãi suất nhận gửi nhằm bù đắp đợc chi phí hợp lý nghiệp vụ ngân hàng và
25

Trích đoạn Sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những thành tựu đạt đợc của tín dụng ngân hàng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Về nguyên nhân chủ quan: Tạo vốn để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tăng cờng huyđộng vốn ngắn hạn, dài hạn trong các tổ chức kinh tế và dân c.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status