Lời nói đầu
Việt Nam hiện nay đang trải qua một giai đoạn quan trọng trên bớc đ-
ờng phát triển. Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trờng quả là một bớc ngoặt Lịch Sử.
Sự chuyển đổi đó đã làm cho những quy trình tài trợ vốn thông thờng
(tài trợ của Nhà nớc trong khuôn khổ kế hoạch tập trung) thay đổi. Cơ chế
kinh tế thị trờng cũng có ảnh hởng tới lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, Việt Nam
cần một lợng vốn đủ lớn để "cất cánh", để hoà cùng nhịp phát triển của nền
kinh tế thế giới. Để phát triển, Việt Nam cần huy động các nguồn vốn trong n-
ớc, huy động tối đa các nguồn vốn từ nớc ngoài và phải quản lý và sử dụng
nguồn lực đó có hiệu quả nhất.
Trong cơ chế nền kinh tế thị trờng, có những chủ thể có nhu cầu tài
chính, trong khi đó có những chủ thể khác có vốn nhmg tạm thời cha có nhu
cầu sử dụng. Đối với một Doanh nghiệp (DN), muốn phát triển và mở rộng
sản xuất kinh doanh (SXKD) đòi hỏi phải có vốn, cần thiết phải huy động
nguồn vốn tạo sức bật trong kinh doanh. Hoạt động của DN sẽ bị ngng trệ tức
thời nếu không có vốn hoặc DN sẽ dần đi đến chỗ phá sản nếu tình trạng thu
không đủ chi kéo dài. Bộ phận tài chính của DN có trách nhiệm cung cấp ở
bất kỳ thời điểm nào thực trạng tài chính của DN để đảm bảo tốt các khả năng
thanh toán, hiệu suất vốn kinh doanh và sự ổn định cơ cấu tài chính tổng thể.
Do vậy, một DN luôn phải chú trọng đến vấn đề Quản lý tài chính.
Đối với các DN Nhà nớc hoạt động SXKD nói chung và Công ty Xây
dựng Bu điện nói riêng, một trong những vấn đề Quản lý tài chính nổi lên
hàng đầu là: Vốn lu động (VLĐ) và công tác quản lý VLĐ. Song hiện nay cha
có nhiều các nhà kinh tế hiểu rõ và đi sâu nghiên cứu về lý luận VLĐ cũng
nh Quản lý VLĐ.
Thực tiễn hiện nay ở các DN Việt Nam, VLĐ là vấn đề hằng ngày các
DN phải đơng đầu. Song vì một phần do ảnh hởng của làm ăn theo kiểu bao
cấp, một phần các DN cha nhận thức hết tầm quan trọng của công tác lập kế
hoạch Quản lý VLĐ nên dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao, thậm chí rơi
vào tình trạng ứ đọng vốn hoặc mất khả năng thanh toán và đi đến phá sản.
Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giành thắng lợi vĩ đại mùa xuân
năm 1975 giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc. Cả nớc chuyển sang thời
kì hàn gắn vết thơng chiến tranh xây dựng lại đất nớc
Thời kì hàn gắn vết thơng chiến tranh, xây dựng kinh tế, phát triển đất
nớc, đòi hỏi thông tin Bu điện phục vụ Đảng, Nhà nớc, phục vụ nhân dân càng
phải đợc nhanh chóng phát triển theo hớng hiện đại. Trong khi đó, các đơn vị
xây dựng của nghành Bu điện đợc phân tán nhỏ lẻ để thích ứng với điều kiện
chiến tranh đã không đủ sức đảm đơng đợc nhiệm vụ phát triển của nghành
trong điều kiện mới.
Các công việc xây dựng lại mạng lới truyền dẫn, xây dựng các trung tâm Bu
điện Tỉnh, huyện, các nhà cơ vụ, nhà ở, nhà làm việc, các cơ sở lắp đặt tổng
đài bị chiến tranh tàn phá với khối lợng xây dựng khổng lồ phải đợc nhanh
chóng bắt tay vào xây dựng. Trớc tình hình đó, Tổng cục bu điện thấy cần
Nguyễn Ngọc Thuý 2 Khoa Quản trị kinh doanh
thiết phải thành lập một công ty xây dựng chuyên nghành trực thuộc tổng cục
để đủ sức thực hiện các nhiệm vụ nói trên.
Công ty xây dựng nhà Bu điện đã đợc ra đời trong bối cảnh đó. Ngày
30/10/1976 Tổng cục trởng Tổng cục Bu điện đã kí quyết định số 1948/QĐ
thành lập Công ty Xây dựng nhà Bu điện và quyết định số 1949/QĐ quy định
nhiệm vụ của Công ty xây dựng nhà Bu điện.
Công ty xây dựng nhà bu điện đợc thành lập trên cơ sở hợp nhất các
đơn vị xây dựng của nghành là: Đội xây dựng nhà cửa, Đội sản xuất gạch Tam
Đảo thuộc công ty công trình Bu điện và bộ phận tự làm thuộc Ban kiến thiết I
Cục kiến thiết cơ bản Tổng cục Bu điện.
Sau nhiều năm thay đổi trụ sở làm việc từ khu 3 tầng Thọ Lão đến
Trại Găng để ổn định việc chỉ đạo sản xuất, năm 1987 đợc Tổng cục đầu t
Công ty đã nhanh chóng khởi công xây dựng nhà chỉ đạo sản xuất và nhà kho
3 tầng tại Pháp Vân _ Thanh Trì (Công trình do Công ty tự thiết kế và thi
công), là trụ sở chính của công ty hiện nay. Đến năm 2000 công ty đổi tên
đài quốc tế AXE 105 Đà Nẵng.Nhà máy liên doanmh với nớc ngoài sản xuất
cáp thông tin, cáp sợi quang, các nhà máy sản xuất tổng đài. Dới sự giám sát
chất lợng của chuyên gia nớc ngoài, Công ty đã hoàn thành các công trình với
tiến độ thi công nhanh, phục vụ kịp thời yêu cầu lắp máy, tiết kiệm đợc ngoại
tệ phải thuê chuyên gia, chất lợng công trình đợc đánh giá tốt. Có công trình
đợc nóc ngoài cấp chứng chỉ Chất lợng quốc tế.
Công ty đã tích cực tham gia và hoàn thành tốt các trơng trình về nhà ở
của ngành, chơng trình xây dựng cơ sở vật chất cho công tác đào tạo: Đã xây
dựng toàn bộ Trờng công nhân Bu điện 1, Trung tâm đào tạo Bu chính viễn
thông 1, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật Bu điện
1.1.2 Quá trình phát triển
Kết quả hoạt động SXKD là biểu hiện rõ nhất, tổng hợp nhất về tình
hình hoạt động của DN. Để nêu đợc thực trạng hoạt động kinh doanh của
Công ty ta sẽ phân tích kết quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính
trung gian trong bảng 03 và sự biến động của các chỉ tiêu đó trong bảng 04.
Ta nhận thấy rằng quy mô hoạt động của năm 2001 bị thu hẹp lại khá
nhiều so với năm 2000 nhng đến năm 2002 lại đợc mở rộng rất mạnh. Có thể
nhận thấy rõ điều này qua 2 biểu đồ sau:
Biểu đồ 2: doanh thu bán hàng qua các năm
1
1
Biểu đồ 1 đợc xây dựng dựa trên số liệu ở bảng 01, Chỉ tiêu: Doanh thu thuần.
Nguyễn Ngọc Thuý 4 Khoa Quản trị kinh doanh
0
10000000000
20000000000
30000000000
40000000000
50000000000
B
i
ể
u
đ
ồ
I
.
2
:
S
ự
t
h
a
y
đ
ổ
i
c
ủ
a
4
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
6
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
8
0
0
0
0
0
0
0
8
N
ă
m
G
í
a
t
r
ị
Bớc sang năm 2001, doanh thu bán hàng giảm đi 11.172.495.480 đồng
tức 28,48% so với năm 2000 và tổng lợi tức trớc thuế giảm 60,12% tức là
926.876.402 đồng. Qua tìm hiểu về tình hình hoạt động của Công ty đợc biết
do năm 2001, Công ty tập trung xây dựng cơ bản nội bộ (tổng số tiền là 21 tỷ)
nên doanh thu, lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách giảm hẳn so với năm 2000
và quy mô hoạt động cũng bị thu hẹp.
Năm 2002 Công ty đã điều chỉnh lại định hớngSXKD, đa dạng hoá sản
phẩm và ngành nghề, mở rộng và phát triển lĩnh vực thi công , tạo nên một b-
ớc ngoặt lớn trong hoạt động kinh doanh cũng nh vợt trội về doanh thu bán
hàng và lợi nhuận so với năm 2001 và các năm trớc đây. Tổng doanh thu năm
2002 đạt 79.217.131.091 đồng, tăng hơn năm 2001 là 51.156.224.736 đồng,
vợt 41% so với kế hoạch tổng Công ty giao là 56.000.000.000 đồng. Các sản
phẩm mới theo định hớng đa dạng hoá sản phẩm chiếm tỷ trọng nh sau trong
doanh thu:
- Sản phẩm công nghiệp : 32.211.131.091 đồng.
- Các công trình xây dựng, thông tin truyền dẫn : 47.006.000 đồng
Nh vậy sản phẩm công nghiệp đã chiếm 40,6% doanh thu.
Thêm vào đó, công tác tiếp thị, giao dịch và bán hàng năm 2002 đã đợc
Công ty chú trọng hơn, thể hiện ở sự tăng chi phí bán hàng và chi phí quản
1.2. Nhiệm vụ và chức năng
- T vấn thiết kế các công trình dân dụng, công nghiệp, Bu chính-Viễn
thông và các công trình kỹ thuật hạ tầng, trang trí nội ngoại thất
-Xây dựng các công trình dân dụng, công ngiệp, các công trình Bu
chính- Viễn thông điện, điện tử thông gió, điều hoà và cấp thoát nớc
-Xây dựng các trung tâm Bu điện Tỉnh, Huyện , các nhà cơ vụ, các nhà
máy sản xuất thiết bị Bu chính- Viễn thông, các nhà máy lắp đặt tổng đài, các
nhà trạm và cột cao phục vụ truyền dẫn thông tin
-Sản xuất và xây dựng các sản phẩm nhựa dùng trong xây dựng và Bu
chính- Viễn thông bao gồm:
* ống nhựa sóng các loại dùng để bảo vệ cáp ngầm, cáp quang, cáp
điện, cáp thoát nớc
* Các loại thanh profail, các loại nhà nhựa, các loại cửa nhựa nhiều màu
có lõi thép theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn Châu âu
2. Thực trạng quản lý vốn lu động tại công ty xây dựng b-
u điện
2.1 Phơng pháp xác định vốn lu động
Xác định quy mô các loại VLĐ:
Xác định VLĐ là tính toán số lợng cụ thể cho từng loại TSLĐ cụ thể,
sao cho vừa tiết kiệm đợc vốn đầu t cho TSLĐ, giảm chi phí lu giữ và bảo
quản vẫn đảm bảo để quá trình sản xuất kinh doanh đợc thông suốt, liên tục.
Cụ thể, là xác định lợng tiền mặt tối thiểu cần phải duy trì trên tài khoản và tại
quỹ, với mục tiêu là lu giữ tiền mặt càng ít càng tốt. Đối với kho, các khoản
phải thu cũng xác định tơng tự nh vậy.
Quy mô của từng hạng mục VLĐ phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề
kinh doanh, mùa vụ kinh doanh, và các biến động khác của thị trờng. Và đối
với tỷ trọng hạng mục của TSLĐ thì ngời ta có phơng pháp xác định lợng duy
trì đầu t khác nhau. Nhng do đặc điểm của các TSLĐ là chúng nằm trong thời
gian chờ để thực hiện giá trị và tạo ra lời nhuận, nên càng đầu t vào TSLĐ
nhiều, hoặc TSLĐ đợc quay vòng sử dụng càng chậm thì hiệu quả sử dụng
giáo, máy đầm nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lợng công
trình, đầu t trang bị một dây chuyền cửa gỗ của Đài loan, một dây chuyền gia
công cửa nhôm của Pháp với tổng vốn đầu t là 960 triệu đồng trang thiết bị.
Song còn xa mới đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi. Các phơng tiện thiết bị hiện đại
nhằm thắng thầu và để thi công công trình hầu nh không có gì. Nguy cơ về
cạnh tranh là rất lớn do thiếu cán bộ giỏi trong tiếp thị, đấu thầu, tụt hậu về
kiến thức và khả năng thi công công trình, lạc hậu về công nghệ xây dựng
hiện đại.
Đến năm 2000, tình hình đã đợc cải thiện hơn đôi chút do Công ty chú
trọng vào đầu t xây mới nhà xởng, mua sắm trang thiết bị hiện đại (Máy Vi
tính COMPAQ, máy xoa nền bê tông MACKER, máy khoan bê tông
MAKITA ) nhng vẫn cha bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh và mạnh của
công nghệ kỹ thuật hiện đại.
Trong 2 năm gần đây (2001, 2002), tỷ trọng TSLĐ đã giảm hơn so với 2
năm trớc nhng vẫn chiếm trên, dới 60%, cho thấy nhu cầu về VLĐ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty đang ổn định và khá cao so với nhu cầu
về vốn cố định. Với tỷ trọng TSLĐ và TSCĐ nh vậy, nhìn chung cơ cấu tài sản
của Công ty đã hợp lý hơn so với các năm trớc, đặc biệt về TSCĐ đợc chú
1
PTS. Vũ Duy Hào, PTS. Đào Văn Huệ, T sĩ Nguyễn Quang Ninh, Quản trị tài chính Doanh nghiệp, Khoa
NH- TC, ĐH Kinh tế Quốc dân, Năm 1999, Trang 135.
Nguyễn Ngọc Thuý 9 Khoa Quản trị kinh doanh
trọng đầu t mua sắm nhằm nâng cao chất lợng sản xuất và thi công công trình,
tạo uy tín để mở rộng thị trờng kinh doanh.
Về cơ cấu nguồn vốn ta nhận thấy rằng: Tỷ trọng nợ phải trả trong tổng
nguồn vốn của Công ty luôn lớn hơn tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu (thờng
chiếm trên 70% trong tổng nguồn vốn) và ngày càng tăng. Tại thời điểm năm
1999, tỷ trọng nợ phải trả chiếm 72,23%, năm 2000 chiếm 75,92%, năm 2001
chiếm 82,98% và năm 2002 chiếm 82,49%. Điều này cho thấy để tài trợ cho
50000000000
60000000000
70000000000
80000000000
Đồng
1999 2000 2001 2002 Năm
Qua biểu đồ này có thể thấy tài sản và nguồn vốn Công ty có xu hớng
tăng dần và khá cao (cuối năm 2002 lên tới 77.365.097.767 đồng), điều này
chứng tỏ Công ty chú trọng vào việc mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thật vậy, trong 2 năm gần đây (2001, 2002), Công ty đã thành lập
thêm 01 Xí nghiệp công trình thông tin, 01 Xí nghiệp Xây dựng nhà, thành lập
nhà máy nhựa Bu điện và chi nhánh Công ty Xây dựng Bu điện tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Đầu t 03 dây chuyền sản xuất công nghiệp là: Dây chuyền sản
xuất thanh nhựa cửa thay thế gỗ, Dây chuyền gia công lắp ghép cửa nhựa có
lõi thép và dây chuyền sản xuất ống PVC sóng bảo vệ cáp ngầm. Ngoài ra,
Công ty còn mua sắm thêm nhiều thiết bị hiện đại phục vụ nhu cầu trao đổi
thông tin, phơng tiện giao dịch, đi lại nh: Máy điện thoại di động, máy Vi
tính, máy điều hoà, ôtô, máy phát điện
Trở lại bảng 02, ta thấy:
Về mặt tài sản: cuối năm 2000 hầu hết các loại TSCĐ đều giảm, trừ các
khoản phải thu tăng 48,32% tức 7.697.719.409 đồng, đặc biệt là tiền tại quỹ
và tiền gửi ngân hàng giảm 74,34%, TSLĐ khác giảm 144,69% trong khi đó
TSCĐ lại tăng khá cao (121,91%). Điều này cho thấy nguyên nhân các khoản
phải thu tăng có thể do chính sách tín dụng khách hàng của Công ty, cũng có
thể do nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng không có khả năng trả nợ.
Đến cuối năm 2002, các khoản phải thu tăng cao tới 67,88% tức
17.473.494.858 đồng, nh vậy Công ty đã để tình trạng chiếm dụng vốn quá
lớn, cần phải có biện pháp nh thay đổi chính sách tín dụng, hoàn tất các thủ
tục Xây dựng cơ bản để nhanh chóng thu hồi vốn
Cuối các năm 2001 và 2002 hầu hết các loại tài sản đều tăng lên so với
22,96%, và năm 2002 tơng ứng là 80,78% và 17,34%. Nh vậy, chính sách tín
dụng khách hàng có liên quan chặt chẽ đến khả năng tiêu thụ của Công ty.
Tuy chính sách tín dụng khách hàng có lợi nh vậy (giải toả hàng lu kho), song
cần phải sử dụng với mức độ hợp lý. Tỷ trọng các khoản phải phải thu cuối
các năm 2000, 2001 là quá cao (trên 72%) đặc biệt là cuối năm 2002 tỷ trọng
này chiếm tới 80,78%. Công ty cần phải điều chỉnh khoản mục này vì nó
không những liên quan đến khả năng thanh toán, mà thờng các khoản nợ càng
lớn đi đôi với rủi ro đạo đức càng cao. Mặt khác, tuy chính sách tín dụng
khách hàng đợc coi nh một trong các biện pháp để đẩy nhanh tiêu thụ nhng vì
thế lại làm chập kỳ luân chuyển vốn, giảm số vòng quay VLĐ.
Để hiểu rõ hơn về tình hình quản lý hàng lu kho tại Công ty trong thời
gian qua. Chúng ta sẽ xem xét cụ thể sự biến động của hàng lu kho qua biểu
đồ thể hiện giá trị nguyên vật liệu trong hàng lu kho - một thành phần chủ yếu
trong tổng số hàng lu kho của Công ty.
1
BIểU Đồ 4: giá trị nguyên vật liệu trong hàng lu kho
Qua biểu đồ 4 cho thấy: Trong 4 năm qua, giá trị nguyên vật liệu lu kho
luôn chiếm trên 70% tổng số giá trị hàng lu kho. Có nghĩa là công tác đảm
1
Biểu đồ đợc xây dựng dựa trên số liệu của bảng 07 - Chỉ tiêu Hàng tồn kho, Nguyên vật liệu tồn kho.
Nguyễn Ngọc Thuý 12 Khoa Quản trị kinh doanh
0
2000000000
4000000000
6000000000
8000000000
10000000000
Hàng tồn kho
10000000000
20000000000
30000000000
40000000000
50000000000
60000000000
Đồng
1999 2000 2001 2002 Năm
phẩm. Hơn nữa, quy mô kinh doanh của Công ty đợc mở rộng nh đã nói ở
trên, nên các khoản phải thu khách hàng và hàng lu kho tăng lên là tất nhiên.
Song, với xu hớng tăng các khoản phải thu và hàng lu kho nh vậy cho thấy
công tác quản lý, theo dõi công nợ và quản lý tài sản kho của Công ty cha tốt.
Khoản mục trả trớc cho ngời bán và tạm ứng tăng ở cuối năm 2001 và
2002 cho thấy, Công ty đã dự đoán là nhu cầu khách hàng sẽ cao hơn nên đã
có hoạch đặt hàng trớc, song thực tế lại ngợc lại bởi tỷ trọng thành phẩm lu
kho tăng lên đáng kể nh : Năm 2001 là 507.112.094 đồng và năm 2002 là
1.227.632.794 đồng chứng tỏ Công ty không tiêu thụ đợc sản phẩm nhiều nh
dự đoán. Qua tìm hiểu hoạt động của Công ty cho biết do ảnh hởng của khủng
hoảng kinh tế tài chính khu vực Đông Nam á và đứng trớc sự cạnh tranh
quyết liệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng nên năm 2002, sản phẩm xây lắp
của Công ty bị tồn đọng, các công trình xây dựng nhà trong nghành hầu nh
không thắng thầu.
Ngoài ra, ta còn thấy các khoản thế chấp, ký gửi vào cuối năm 2000 và
2001 tăng lên cao (năm 2000 tăng 100% so với cuối năm 1999, năm 2001
tăng 94,18% so với cuối năm 2000) chứng tỏ Công ty rất chú trọng đến phơng
thức bán hàng qua các kênh trung gian, tạo điều kiện để tiêu thụ thêm hàng
hoá. Song tại thời điểm cuối năm 2002, tỷ trọng của khoản thế chấp, ký gửi lại
giảm xuống 21,74%, đó là một điểm yếu của Công ty. Bởi trong khi quy mô
mặt hàng kinh doanh của Công ty đợc đa dạng hoá, phát triển lĩnh vực thi
công và mở rộng sản xuất các sản phẩm công nghiệp mà hệ thống tiêu thụ lại
nghĩa là TSLĐ lớn hơn nợ ngắn hạn nên Công ty hoàn toàn có khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn. Tình hình tài chính của Công ty nh vậy là lành
mạnh.
Tuy nhiên, với tỷ trọng nguồn VLĐ thờng xuyên chiếm dới 20% tổng
nguồn vốn (năm 1999: 14,46%, năm 19996: 12,34%, năm 2001: 17,1%), trừ
năm 2002 nguồn VLĐ thờng xuyên chiếm 22,14% tổng nguồn vốn, do đó
VLĐ của Công ty đợc tài trợ chủ yếu bằng nguồn VLĐ tạm thời (thờng chiếm
trên dới 80% tổng nguồn VLĐ).
Cũng qua bảng 09 cho thấy, trong cơ cấu nợ ngắn hạn thì các khoản vay
ngắn hạn ngân hàng chiếm tỷ trọng cao (thờng trên 35%), giá trị của chúng
ngày một tăng tơng ứng với sự gia tăng giá trị của nguồn VLĐ tạm thời.Có thể
thấy rõ điều này qua biểu đồ sau.
Bên cạnh nguồn vốn vay ngắn hạn, một nguồn vốn nữa cũng góp phần
đáng kể trong việc tài trợ cho nhu cầu về VLĐ của Công ty là các khoản phải
trả cho các đơn vị nội bộ (chiếm trên 20% > trên 30% trong nguồn VLĐ
tạm thời). Nh vậy, để giảm chi phí huy động vốn, Công ty phải dùng tới hình
thức chiếm dụng một phần vốn của các đơn vị nội bộ. So với việc đi vay ngân
Nguyễn Ngọc Thuý 15 Khoa Quản trị kinh doanh
0
5000000000
10000000000
15000000000
20000000000
25000000000
30000000000
35000000000
40000000000
45000000000
2001 Công ty đã có biện pháp hạn chế việc vay ngắn hạn ngân hàng. Nhìn vào
bảng 10, có thể nhận ra rằng, Công ty đã dùng hình thức chiếm dụng vốn của
các đơn vị nội bộ thay vì vay ngân hàng, tỷ trọng khoản phải trả các đơn vị nội
bộ năm 2000 tăng 66,05% so với năm 1999, năm 2001 tăng thêm 36,68% so
với năm 2000.
Năm 2002, so với các năm trớc đó, tỷ trọng mỗi khoản mục của nguồn
VLĐ đều có biến động tăng thêm, trừ khoản phải trả các đơn vị nội bộ giảm đi
8,58% so với năm 2001. Trong khi đó, nh đã phân tích ở trên, tỷ trọng khoản
phải trả các đơn vị nội bộ ở các năm 1999, 2000, 2001 đều tăng lên đáng kể và
khoản vay ngắn hạn chiếm vị trí quan trọng trong nguồn VLĐ tạm thời ở năm
2002.
Ngoài ra, ta còn thấy năm 2002 khoản phải trả cho ngời bán cũng tăng
không kém cả về giá trị lẫn tỷ trọng so với năm 2001 (tăng 4.265.860.096 tức
là 203,18%), nghĩa là thay vì chiếm dụng vốn của các đơn vị nội bộ, Công ty
đã tích cực chiếm dụng vốn của các đơn vị bên ngoài để tài trợ cho hoạt động
SXKD của đơn vị mình.
Hơn nữa, sự tăng tỷ trọng của các khoản mục nguồn VLĐ cho thấy,
mục tiêu của Công ty năm 2002 là mở rộng phạm vi hoạt động SXKD. Quả
vậy, năm 2002 Công ty thấy trớc đợc diễn biến phức tạp của thị trờng Xây
dựng, đã điều chỉnh lại định hớng SXKD với mục tiêu Nâng cao chất lợng
Nguyễn Ngọc Thuý 16 Khoa Quản trị kinh doanh
Xây dựng công trình để cạnh tranh đợc ở các công trình vừa và nhỏ, đa dạng
hoá sản phẩm và ngành nghề. Phát triển thi công sang lĩnh vực chuyên ngành
Bu chính Viễn thông, sản xuất các sản phẩm công nghiệp mà thị trờng Bu
chính Viễn thông và thị trờng Xây dựng còn tiềm năng .
1
2.3 Quản lý vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Để giúp cho việc quản lý đợc các khoản phải thu thì phải biết cách theo dõi
1
Phần 5 Những ảnh hởng quan trọng đến tình hình kinh doanh trong năm 2002, Thuyết minh Báo cáo tài
chính, Công ty Xây dựng Bu Điện.
1
George E. Pinches, Essentials of Financial Management, Harpen & Row, New York, 1992, Trang 486.
Thuật ngữ nguyên bản bằng tiếng Anh: The Average Collection Period
Nguyễn Ngọc Thuý 17 Khoa Quản trị kinh doanh
Bảng 2.1 cho thấy công tác quản lý các khoản phải thu của Công ty
trong thời gian qua cha đợc tốt. Công ty đã để cho khách hàng chiếm dụng
khá lớn gây hiện tợng ứ đọng vốn trong khâu thanh toán lam cho việc sử dụng
đồng vốn kém hiệu quả. Để thu hồi đợc một khoản phải thu, Công ty phải mất
tới trên 7 tháng. Nh vậy tốc độ luân chuyển VLĐ thấp. Tuy nhiên ta biết rằng
do đặc điểm sản xuất của Công ty là sản phẩm cung cấp trong ngành Bu chính
- Viễn thông và cung cấp ngoài ngành là rất ít. Khách hàng thờng mua dới
dạng cung cấp cho công trình dự án và thờng các công trình này kéo dài ít
nhất là một năm mới hoàn thành. Khi hoàn thành phẩi hoàn tất các thủ tục
XDCB thì khách hàng mới quyết toán cho Công ty hoặc tạm ứng mỗi quý 1
lần, do vậy mà gây ra việc các khoản phải thu lớn trong tổng TSLĐ, làm chậm
kỳ thu tiền bình quân. Năm 1999, kỳ thu tiền bình quân ngắn nhất so với các
năm sau (189 ngày) do các khoản phải thu chỉ chiếm 61,27%, chiếm tỷ trọng
ít nhất so với 3 năm sau.
Bớc sang năm 2002, thời gian thu hồi vốn bình quân đã giảm hẳn so với
năm 2001 (giảm 141 ngày) và 202 ngày là khoảng thời gian có thể chấp nhận
đợc đối với một DN nh Công ty Xây dựng Bu điện. Nh vậy, công tác quản lý
các khoản phải thu của Công ty đã có biến chuyển tốt hơn, việc thu hồi nợ có
bài bản hơn, kết quả khá hơn các năm trớc nhng so với nợ đọng hiện đang
nằm ở các công trình, ở các chủ đầu t thì đòi hỏi Công ty phải nỗ lực hơn nữa.
Trong năm qua Công ty đã bảo vệ tốt quyết toán của 20 công trình XDCB trớc
cơ quan kiểm toán, số thu thanh quyết toán, thu nợ đợc 46.335 triệu đồng nh
quản lý hàng lu kho trong thời gian qua, ta hãy xem xét chỉ tiêu Vòng quay
hàng lu kho.
Bảng 2.3: Sự thay đổi của vòng quay hàng lu kho
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002
Vòng quay hàng lu kho (Vòng) 3,72 5,34 3,31 8,27
Thời gian 1 vòng quay (ngày) 97 67 108 43
Bảng 2.3 cho thấy: Vòng quay hàng lu kho có xu hớng tăng dần, ngoại
trừ năm 2001, vòng quay này giảm xuống còn 3,31 do Công ty chỉ chú trọng
vào đầu t xây dựng cơ bản nội bộ, không có điều kiện quan tâm tới tình hình
bán hàng. Đây cũng là thiếu sót trong công tác quản lý chung của lãnh đạo
Công ty vì đã không phối hợp nhịp nhàng các hoạt động sản xuất với hoạt
động đầu t phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật.
Tuy vậy, nhờ sự đầu t xây dựng cơ bản nội bộ, trang bị thêm máy móc,
thiết bị của năm 2001, nên năm 2002 tốc độ luân chuyển hàng hoá của Công
ty tăng nhanh, hàng hoá bán đợc nhiều hơn với doanh thu rất cao.
Đồng thời, ta cũng thấy trừ năm 2001 thì thời gian một vòng quay giảm
dần, chứng tỏ công tác quản lý hàng lu kho của Công ty đang có chuyển biến
tốt và có nhiều triển vọng.
2.4.2 Quản lý thanh khoản
Khả năng thanh toán của Công ty tốt hay xấu ảnh hởng trực tiếp tới hoạt
động của Công ty. Bởi vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ, không thể
không đánh giá tình hình và khả năng thanh toán của Công ty trong 4 năm gần
đây.
Để phân tích dợc chính xác hơn chúng ta tiến hành tính toán các nhóm
chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán sau.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
1
Tổng TSLĐ
Khả năng thanh toàn hiện hành =
1
1,21
0,93
0,04
1,28
1,06
0,02
Bảng 2.4 cho thấy, hệ số thanh toán hiện hành tại Công ty luôn lớn hơn
1, có nghĩa là Công ty luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Tuy nhiên, hệ số này ở mức thấp cho thấy Công ty luôn ở trong tình trạng tài
chính căng thẳng, khả năng thanh toán các năm của Công ty cha thật sự bảo
đảm. Tuy nhiên, hệ số này tăng dần trong 3 năm gần đây cho thấy Công ty đã
sử dụng VLĐ có hiệu quả hơn và công tác quản lý VLĐ cũng tốt hơn.
Bên cạnh đó, hệ số thanh toán nhanh của năm 1999, 2000, 2001 đều
nhỏ hơn1. Nh vậy trong những năm đó nếu Công ty có thu hồi đợc hầu hết các
khoản phải thu thì cũng không đáp ứng đợc nhu cầu thanh toán nhanh. Năm
2002, hệ số này khả quan hơn và lớn hơn 1 (=1,28), có nghĩa là lợng hàng lu
kho năm qua chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng TSLĐ (chiếm 17,37%) và công
tác tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm của Công ty tốt hơn, bán đợc nhiều hàng hơn.
Nh vậy năm vừa qua Công ty đã có khả năng đáp ứng đợc yêu cầu thanh toán
nhanh.
Nguyễn Ngọc Thuý 20 Khoa Quản trị kinh doanh
Thêm vào nữa, hệ số thanh toán tức thời trong thời đoạn qua đều rất
thấp (nhỏ hơn 0,1). Năm 1999, hệ số này đợc 0,084 (cao nhất trong 4 năm),
các năm sau giảm mạnh và thấp nhất vào năm 2000 (= 0,018). Đặc biệt phải l-
u ý đến hệ số này ở năm 2002, bởi nh đã biết đây là năm quy mô SXKD của
Công ty đợc mở rộng, cơ cấu tài sản và nguồn vốn cũng lớn hơn song lợng
tiền mặt lại qúa ít, chỉ chiếm 1,57% với trị giá là 838.802.540 đồng do đó mà
hệ số thanh toán tức thời rất thấp (bằng 0,02). Điều đó chứng tỏ lợng tiền mặt
tồn quỹ và gửi ngân hàng đóng vai trò rất mờ nhạt trong thanh toán và dễ đẩy
làm tăng nhanh doanh thu bán hàng, đồng thời quản lý chặt chẽ VLĐ sao cho
phù hợp với năng lực cũng nh nhu cầu SXKD của mình. Chỉ tiêu này còn đợc
gọi là Hệ số luân chuyển VLĐ.
Thời gian của một vòng luân chuyển (kỳ luân chuyển bình quân)
Thời gian của kỳ phân tích 360
1
Nguyễn Ngọc Thuý 21 Khoa Quản trị kinh doanh
K = = (ngày/lần)
Số vòng của VLĐ trong kỳ Vv
Chỉ tiêu này càng nhỏ tức là số ngày của một vòng (kỳ) luân chuyển
VLĐ càng ngắn thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao, DN tiết kiệm đợc VLĐ
sử dụng trong kỳ.
Mức tiết kiệm VLĐ (M):
M = Mức lu chuyển VLĐ bình quân ngày x Số ngày giảm của 1 vòng
luân chuyển
Hệ số đảm nhiệm VLĐ (H):
VLĐ bình quân
H =
Tổng số doanh thu thuần
Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn
tiết kiệm đợc càng nhiều. Qua chỉ tiêu này ta biết đợc để có 1 đồng doanh thu
thì cần có bao nhiêu đồng VLĐ
Hệ số sinh lợi của VLĐ (Hsl)
Lợi nhuận trớc thuế
Hsl =
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của VLĐ. Chỉ tiêu này
càng cao thì khả năng tạo ra lợi nhuận của VLĐ càng lớn.Do vậy, muốn tăng
hệ số sinh lợi của VLĐ thì DN phải tối đa hoá lợi nhuận, đó chính là phơng
.Lợi tức gộp
.VLĐ bình quân
.Hệ số luân
chuyển VLĐ
.Thời gian 1 vòng
luân chuyển
.Hệ số đảm nhiệm
VLĐ
.Hệ số sinh lợi
VLĐ
đồng
đồng
đồng
lần/
năm
ngày/
lần
đồng
%
30322604883
2236667001
24538464150
1,24
290,3
0,8
9,1
37903256083
236666704
28597222085
1,33
với năm 2001, trong khi đó mức tăng của VLĐ bình quân lại thấp hơn nhiều
so với mức tăng của doanh thu thuần (tăng 33,45%). Bởi thế mà các chỉ tiêu
khác cũng khả quan hơn so với năm 2001 và các năm trớc đó: Thời gian một
vòng luân chuyển VLĐ chỉ bằng 211,7 ngày/lần (Năm 2001 bằng 450
ngày/lần), 1 đồng doanh thu chỉ cần 0,58 đồng VLĐ, với hệ số sinh lợi của
VLĐ khá cao (bằng 26,6%). Có thể kết luận rằng, năm 2002 là năm có hiệu
quả sử dụng VLĐ cao nhất, chứng tỏ công tác quản lý VLĐ chặt chẽ hơn, tốt
hơn, phù hợp với năng lực cũng nh nhu cầu SXKD của Công ty.
Nguyễn Ngọc Thuý 24 Khoa Quản trị kinh doanh
3. Những tồn tại chủ yếu trong quản lý vốn lu động
3.1 Cha xác đinh đợc kế hoạch thu chi ngân quỹ một cách hợp lý, công
tác lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn lu động cha hiệu quả
Trong những năm gần đây do có sự chuyển đổi cơ chế, tự hạch toán
độc lập nên Công ty còn nhiều lúng túng trong công tác xác định và lập kế
hoạch sử dụng vốn nói chung và vốn lu động nói riêng. Hiện nay, Công ty
không chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách cấp vì thế mà công tác lập kế
hoạch vốn lu động không thể bị sao nhãng. Bởi thực chất công tác lập kế
hoạch vốn lu động là nhằm xác định nhu cầu hoạt động kinh doanh, giúp cho
Công ty xác dịnh đợc phơng hớng, biện pháp huy động vốn.
Hiện nay cơ cấu nguồn vốn của Công ty là cha hợp lý. Vốn ngắn hạn của
Công ty chiếm tỷ trọng khá cao so với nguồn vốn lu động thờng xuyên và th-
ờng chiếm trên 70% trong tổng nguồn vốn lu động. Do đó, nó làm ảnh hởng
đến tình hình tài chính cũng nh khả năng thanh toán của Công ty. Bởi tỷ lệ nợ
phải trả cao có nghĩa là khả năng tự tài trợ của Công ty đạt thấp nên sự độc lập
về tài chính không cao. Đồng thời Công ty cũng phải đối mặt với áp lực về yêu
cầu thanh toán các khoản nợ. Mặt khác, trong nợ phải trả thì đa số là nợ vay
ngân hàng. Điều này không những buộc Công ty phải chịu chi phí trả lãi vay
lớn mà còn làm hạn chế kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể đạt đợc.
Đó là do dự trữ tiền mặt của Công ty quá thấp trong tổng tài sản có, kế hoạch