LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn thể nhân loại đã bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI- thế
kỷ văn minh, trong đó tri thức và công nghệ là hai đặc trưng chủ yếu nhất. Việt
Nam tuy còn nghèo về kinh tế nhưng những thành tựu đạt được trong hơn 15
năm đổi mới vừa qua cũng đã tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần để chuẩn
bị cải cách, bước vào thế giới văn minh, hoà nhập với cộng đồng. Nhưng cần có
chiến lược phát triển như thế nào để có thể khẳng định mình trên trường quốc tế,
đó là một câu hỏi lớn đặt ra cho Việt Nam cũng như cho các quốc gia khác trên
thế giới.
Chính trong Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định
mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001- 2010 là “đưa
đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất,
văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá”. Để đạt mục tiêu đó
thì “ con người và nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự phát
triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá nên cần tạo chuyển
biến cơ bản và toàn diện về giáo dục” (Văn kiện Đại hội Đảng IX).
Vì vậy có thể nói phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo là cơ sở đảm bảo
cho sự phát triển kinh tế ổn định, lâu dài và đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào
tạo là đầu tư cho con người - động lực trực tiếp của sự nghiệp phát triển kinh tế-
xã hội. Song việc đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là rất tốn kém mà hiệu
quả của nó lại không thấy ngay được, hơn nữa nguồn kinh phí dành cho phát
triển sự nghiệp giáo dục còn hạn hẹp nên việc mở rộng khai thác nguồn tài chính
cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng nhằm phát triển nền
kinh tế – xã hội ở nước ta.
1
Trong những năm qua, do ảnh hưởng của công cuộc “đổi mới” nên công
tác quan hệ quốc tế của nước ta, đặc biệt là trong ngành giáo dục và đào tạo có
giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng kết hợp phương pháp thống kê, phân tích hệ thống
và các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, tổng hợp để
giải quyết các nội dung nghiên cứu của khóa luận. Các phương pháp đó được
kết hợp chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối
ngoại và chính sách sử dụng nguồn vốn ODA của Đảng và Nhà nước.
5. Bố cục của khóa luận
Tương ứng với nội dung nghiên cứu, ngoài phần lời mở đầu, kết luận, tài
liệu tham khảo, mục lục, các từ viết tắt, khoá luận được kết cấu như sau:
Chương I: Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở Việt
Nam.
Chương II: Thực trạng tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
trong ngành giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1993- 2002.
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút và
hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở Việt Nam trong
thời gian tới.
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế , thời gian chuẩn bị không
nhiều, hơn nữa việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam còn khá
mới mẻ, chưa được tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên nên khoá luận
không tránh khỏi thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để em
3
có thể học hỏi, rút kinh nghiệm, hoàn thiện khoá luận cũng như trau dồi kiến
thức cho bản thân.
CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI NGÀNH
GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN VỀ ODA
1. Quá trình hình thành và phát triển của ODA.
thêm ủy ban cộng đồng Châu Âu EU. Các nước thành viên của nhóm DAC
thông báo cho ủy ban khoản đóng góp cho các chươmg trình phát triển và trao
đổi với nhau về những vấn đề liên quan đến chính sách viện trợ phát triển. Năm
1996, DAC cho ra đời bản báo cáo: “Kiến tạo thế kỷ XXI-Vai trò của hợp tác và
phát triển’’. Báo cáo này đã nói tới một vai trò khác của viện trợ ngoài vai trò
cung cấp vốn. Viện trợ phát triển phải chú trọng vào việc hỗ trợ cho các nước
tiếp nhận có được thể chế và những chính sách phù hợp chứ không phải chỉ
cung cấp vốn .
1.3. Các điều kiện cơ bản để được nhận tài trợ nguồn vốn ODA:
Các quốc gia thoả mãn hai điều kiện cơ bản sau thì sẽ được nhận tài trợ
nguồn vốn ODA:
- Điều kiện thứ nhất: GDP bình quân trên đầu người thấp, đặc biệt là
các nước có mức GDP bình quân trên đầu người dưới 220 USD/ người/ năm.
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn của nước tiếp nhận phù hợp với
chính sách bên cấp ODA về phương hướng ưu tiên sử dụng.
5
1.4. Mục tiêu của ODA:
Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ ODA luôn chứa đựng hai mục
tiêu cùng tồn tại song song.
-Mục tiêu thứ nhất: Thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở những
nước đang phát triển. Động cơ đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này là
do bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ,
giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và
thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế. Mỹ cũng như
nhiều nhà tài trợ khác qui định phải dùng khoản tiền viện trợ của họ để mua
hàng hoá của Mỹ, hoặc trực tiếp lấy hàng hoá dư thừa của Mỹ thay cho khoản
viện trợ.Mỹ còn đòi nước nhận viện trợ cung cấp vật tư chiến lược trọng yếu,
dành cho Mỹ những điều kiện đầu tư thuận lợi. Xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ
có lợi về mọi mặt: an ninh, kinh tế, chính trị khi các nước nghèo tăng trưởng.
1.5.1. Ưu đãi của ODA :
Vốn ODA có thời hạn cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả
nợ lãi, chưa trả nợ gốc). Vốn ODA của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển Châu á (ADB) có thời gian hoàn lại là 40 năm và thời gian ân hạn là
10 năm.
Thông thường, trong nguồn vốn ODA, có một phần là viện trợ không hoàn lại
(tức là cho không). Yếu tố cho không dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn
và so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu đãi
ở đây là so sánh với tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế. Cho vay ưu đãi
hay còn gọi là cho vay “mềm”. Các nhà tài trợ thường áp dụng nhiều hình thức
khác nhau để làm “mềm” khoản vay, chẳng hạn kết hợp một phần ODA không
hoàn lại và một phần tín dụng gắn với điều kiện thương mại thành tín dụng hỗn
hợp.
7
Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành cho những nước đang
và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển.
Thông thường, mỗi nước cung cấp viện trợ đều có những chính sách riêng của
mình, họ tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng (về
công nghệ, kinh nghiệm quản lý …). Đồng thời, mục tiêu ưu tiên của các nước
cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, nắm
được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất
cần thiết.
1.5.2. Trục lợi của ODA :
Các nước viện trợ đều không quên mưu cầu lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng
chính trị, vừa đem lại lợi nhuận cho hàng hoá, dịch vụ, và tư vấn trong nước. Bỉ,
Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ
của nước mình. Canada yêu cầu cao nhất (tới 65%); Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%,
Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải
mua hàng hoá và dịch vụ của nhà tài trợ thấp và thấp hơn cả là New – Zealand
định hoặc một số dự án cụ thể.
-ODA có thể ràng buộc một phần: một phần chi ở nước viện trợ, phần
còn lại chi ở bất kỳ nơi nào.
1.6.4. Theo hình thức:
-Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể, có thể là hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.
-Hỗ trợ phi dự án gồm các loại hình như sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ trực tiếp (chuyển giao
tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được
chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ cho ngân sách.
9
+Hỗ trợ trả nợ.
+Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ
được sử dụng như thế nào.
1.7. Các nhà tài trợ ODA:
Hiện nay có nhiều nước và tổ chức quốc tế cho vay, cung cấp tài trợ ODA.
Nhìn chung các nước đều có chiến lược tài trợ riêng, đồng thời cũng có những
điều kiện về thủ tục, quy chế cung cấp tài trợ khác nhau. Tiềm lực kinh tế là yếu
tố quan trọng nhất quyết định đến lượng vốn cho vay. Tuy nhiên, nguồn vốn vay
và cung cấp tài trợ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:
-Quan điểm chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi dựa trên vấn đề nhân
đạo và mối quan tâm dến việc ổn định tình hình kinh tế xã hội quốc tế.
-Mối quan hệ truyền thống đối với các nước khác.
-Tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách bạn hàng (thị
trường, nơi cung cấp nguyên vật liệu, lao động).
-Chính sách đối ngoại, an ninh, lợi ích kinh tế xã hội.
-Các nhà tài trợ ODA gồm các nước viện trợ song phương và các tổ chức
viện trợ đa phương
Các tổ chức viện trợ đa phương đang hoạt động gồm có các tổ chức thuộc
hệ thống Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu, các tổ chức phi chính phủ và các
tổ chức tài chính quốc tế.
a. Các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc:
Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UNDP,
UNESCO, UNICEF, WEP, ) đều được thực hiện dưới hình thức viện trợ
không hoàn lại, ưu tiên cho cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp và
không ràng buộc về các điều kiện chính trị nặng nề. Viện trợ thường tập trung
11
cho các nhu cầu có tính chất xã hội như xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, văn
hoá- xã hội, sức khoẻ- dân số, bảo vệ môi trường
b. Liên minh Châu Âu (EU):
Liên minh Châu Âu là tổ chức có tính chất kinh tế xã hội của 15 nước công
nghiệp phát triển ở châu Âu, EU có quỹ lớn, song chủ yếu ưu tiên viện trợ cho
các thuộc địa cũ ở châu Phi, Nam Thái Bình Dương. Những lĩnh vực mà EU coi
trọng là dân số, bảo vệ môi trường, phát triển dịch vụ, phát triển nguồn nhân lực,
xoá đói giảm nghèo.
c. Các tổ chứcphi chính phủ (NGOs- Non Governmental Organization):
Trên thế giới hiện có hàng trăm tổ chức NGOs hoạt động theo các tôn chỉ,
mục đích khác nhau: nhân đạo, tri thức, y tế, tôn giáo. Các tổ chức phi chính phủ
thường có số vốn nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của
các chính phủ, thường muốn hoạt động giữa các cá nhân với cá nhân của nước
viện trợ và các nước nhận viện trợ. Quy mô viện trợ thường nhỏ, khả năng cung
cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thay đổi tuỳ từng thời kỳ nhưng thủ tục viện
trợ thường đơn giản, thực hiện lại nhanh.
d.Các tổ chức tài chính quốc tế:
- Ngân hàng thế giới (WB- World Bank):
- Ngân hàng phát triển châu á (ADB- Asian Development Bank)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Monetary Fund)
cần đầu tư của ngành. Căn cứ vào hướng dẫn của BKH & ĐT, bộ, ngành, cơ
quan nào có nhu cầu về ODA thì lập công văn đề nghị và kèm theo đề cương dự
án, tham khảo ý kiến của các cơ quan tổng hợp và các bộ có liên quan trình lên
để Chính phủ quyết định. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục dự
án ODA, BKH & ĐT thông báo cho bên nước ngoài. Trường hợp bổ sung, điều
chỉnh danh mục dự án sử dụng ODA đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,
13
BKH & ĐT phải trình lại trên cơ sở tổng hợp ý kiến bằng văn bản của các cơ
quan có nhu cầu ODA và thoả thuận của bên nước ngoài. Trường hợp ngoại lệ,
bên nước ngoài chủ động đề xuất dự án với cơ quan có nhu cầu ODA, BKH &
ĐT trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của cơ
quan có nhu cầu về vốn ODA và đề cương dự án kèm theo. Từ đó số tiền giải
ngân sẽ được bên nước ngoài quyết định.
2.3 Sử dụng ODA
Sau khi đã thu hút được nguồn vốn ODA, công việc giải ngân cũng đã bắt
đầu tiến hành thì việc sử dụng nguồn vốn ODA như thế nào là rất quan trọng,
quyết định hiệu quả của toàn bộ công việc. Số vốn ODA đã được giải ngân sẽ
được Chính phủ lên kế hoạch phân bố sử dụng cho các ngành, lĩnh vực, dựa trên
yêu cầu phát triển của ngành cũng như của đất nước. Từ đó, các bộ ngành lại lên
những kế hoạch cụ thể theo định hướng ưu tiên cho các vấn đề cần giải quyết
trước. Đồng thời, từ trung ương đến địa phương phải lập ra bộ máy quản lý hệ
thống các vấn đề, các chương trình, dự án có liên quan đến nguồn vốn ODA. Hệ
thống quản lý này sẽ thường xuyên theo dõi, giám sát xem nguồn vốn ODA đã
được phân bổ cho các ngành, các lĩnh vực được sử dụng như thế nào, từ đó rút ra
những kết quả đã đạt được và những vấn đề cần khắc phục. Tất cả những công
việc trên luôn được tiến hành phối hợp giữa hai phía là Việt Nam và phía nhà tài
trợ nước ngoài.
3. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển đất nước.
Thời gian qua, nguồn vốn ODA đã có ý nghĩa quan trọng và có tác dụng
vĩ mô, môi trường pháp lý, v.v Các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ nhiều
nước cung cấp ODA cho Việt Nam với khối lượng cam kết cho vay lớn thể hiện
sự tin tưởng của các bên cung cấp ODA vào sự phát triển của Việt Nam, kéo
theo lòng tin của một loạt các nhà đầu tư tư nhân. Đồng thời nguồn vốn ODA
15
góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế và giải quyết
các khó khăn tài chính của Chính phủ Việt Nam, góp phần giảm nhẹ và xua tan
những mối lo lắng của các nhà đầu tư, làm họ quan tâm hơn khi đầu tư vào Việt
Nam. Hơn nữa, việc hình thành và thực hiện các chương trình, các dự án có vốn
ODA đã tạo ra những cơ hội lớn lao cho các công ty, các nhà sản xuất trong và
ngoài nước, đó là tạo ra nhu cầu lớn về các loại dịch vụ và hàng hoá đủ loại. Các
nhu cầu này được đảm bảo tương đối chắc chắn về khả năng thanh toán như các
chương trình có vốn ODA đã từng được thực hiện trên thế giới và các nước xung
quanh Việt Nam. Vì vậy, có thể nói Việt Nam là mảnh đất vàng cho các nhà đầu
tư trong và ngoài nước. Đối với nước ta, nhu cầu về vốn để thực hiện công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất lớn. Vì vậy, chúng ta cần phải tranh thủ mọi
nguồn vốn, trong đó có cả nguồn vốn ODA và các nguồn viện trợ khác. Trong
những năm trước đây, nguồn viện trợ chủ yếu là từ NGOs và nguồn ODA từ các
nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (lớn nhất là Liên Xô cũ) và các nước
DAC, OPEC (3 tỷ USD thời kỳ 1980- 1981 và 3,9 triệu USD thời kỳ 1995-
1996). Gần đây, chỉ riêng việc Nhật Bản tăng vốn ODA đã thúc đẩy các nhà đầu
tư Nhật Bản tăng nhanh vốn FDI. Với việc Mỹ xoá bỏ cấm vận và với những
thành tựu đạt được trong việc thực hiện chiến lược kinh tế- xã hội và hoạt động
đối ngoại vừa qua, chúng ta có cơ hội dự đoán rằng nguồn vốn ODA sẽ tiếp tục
tăng lên cùng với nguồn FDI.
Thứ ba, nguồn vốn ODA đã góp phần nâng cao điều kiện sống cho người
dân. Mục tiêu chủ yếu của các dự án hay chương trình sử dụng nguồn vốn ODA
đều nhằm cải thiện sống cho người dân, tăng phúc lợi công cộng và cải thiện
điều kiện môi trường. Nhờ có nguồn vốn ODA, điều kiện về cơ sở hạ tầng, y tế,
17
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn cần đẩy mạnh xây dựng sự
nghiệp xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì vị trí ngành giáo dục
lại càng trở nên quan trọng hơn. Chính trong Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII cũng đã khẳng định “để đảm bảo thành công của sự nghiệp này, cần phải
lấy việc phát huy nguồn nội lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững”. Như vậy, thông qua giáo dục và đào tạo dân trí thành
nguồn lực con người, trong đó có cả người tài, là sức mạnh nội sinh của từng
người, của cả cộng đồng, của cả dân tộc và cả đất nước Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), các đại biểu cũng đã nhất trí quyết
định đưa nước ta vào một thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Và việc thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá bằng giáo dục, đào tạo bằng khoa học công nghệ là tư tưởng của thời đại
ngày nay. Vì thế, dựa trên tình hình thực tế của đất nước cũng như những yêu
cầu của thời đại, Đảng ta cũng đã chọn giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ làm “khâu đột phá” của thời kỳ mới. Hơn nữa, thực tế phát triển của các
nước trong khu vực đã chứng minh một điều rằng phát triển giáo dục phải luôn
đi trước một bước so với phát triển kinh tế. Vì vậy, việc đầu tư phát triển giáo
dục là rất quan trọng.
Nghị quyết của Đảng còn khẳng định: “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản
quan trọng nhất, không chỉ về tài chính mà là đầu tư về mọi mặt”. Do đó,sự ưu
tiên cho giáo dục phải thể hiện bằng sự ưu tiên về chính sách, ưu tiên về đội ngũ
cán bộ và ưu tiên về quản lý. Nếu thực hiện được những ưu tiên đó thì giáo dục
mới đúng là quốc sách hàng đầu và quốc sách đó mới được thực hiện.
2. Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục
Với định hướng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo của Đảng và Nhà
nước là thực hiện xã hội hoá trong giáo dục đào tạo, đa dạng hoá các hình thức
huy động vốn trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần trong cơ chế thị
18
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tû lÖ chi cho gi¸o dôc
trong tæng chi NSNN
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Khoảng 85% chi công cộng cho giáo dục - đào tạo là từ ngân sách nhà
nước. Nhà nước đang cố gắng để nâng tỷ lệ chi cho giáo dục trong ngân sách nhà
nước lên ít nhất 18% vào năm 2005 và 20% vào năm 2010. Những khoản chi
ngân sách nhà nước này được phân bổ rộng rãi theo sự phân bố trách nhiệm hành
chính của hai cấp Chính phủ: Trung ương và địa phương.
2.1.2. Nguồn vốn đóng góp của các doanh nghiệp
Thực tiễn của Việt Nam trước đây cũng như nhiều nước cho thấy đào tạo
tại nhà máy, công ty là một hình thức tổ chức đào tạo rất có hiệu quả về ngành
nghề và chất lượng đào tạo gắn với thực tiễn. Qua đó, huy động được nguồn vốn
20
đáng kể cho công việc này. Tuy nhiên, ở Việt Nam sự huy động vốn cho phát
triển giáo dục bằng phương pháp này còn rất hạn chế. Mới chỉ có những công ty
lớn như FPT, các công ty kiểm toán là thực hiện phương pháp này. Nhờ thế
mà một số sinh viên đã nắm được công việc trước khi ra làm việc, góp phần tăng
hiệu quả công việc, giảm thời gian đào tạo.
từng năm. Nguồn vốn ODA đầu tư cho giáo dục này tăng nhanh vào những năm
1990, với những dự án đầu tư có mục tiêu rất đa dạng, phong phú và kích cỡ dự
án cũng rất khác nhau. Có dự án có tổng vốn đầu từ hơn 100 triệu USD (dự án
giáo dục Đại học vay vốn của WB) kéo dài hơn 5 năm, cũng có cả những dự án
chỉ vài chục ngàn USD (dự án cấp trang thiết bị học tiếng cho trường Đại học
Ngoại ngữ Hà Nội) nhưng lại giải quyết được những vấn đề thiết thực và cụ thể
cho ngành giáo dục. Nhờ những dự án quốc tế này mà BGD & ĐT đã thực hiện
được các mục tiêu quan trọng, góp phần nghiên cứu tổng thể và hoạch định chiến
lược giáo dục - đào tạo Việt Nam, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài
liệu thông tin khoa học cho các cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
2.2.2 Nguồn vốn FDI
Cho đến nay, vẫn còn rất ít dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực
giáo dục đào tạo ở Việt Nam. Vì thế chúng ta cần tìm ra những biện pháp để có
thể thu hút phần nào nguồn tài chính này cho giáo dục.
2.2.3 Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường đóng góp vào quỹ đào
tạo, hợp đồng đào tạo với các cơ sở để tăng nguồn tài chính cho giáo dục. Ví dụ
như công ty tin học NITT, công ty sữa Cô gái Hà Lan là những công ty đã tài
trợ học bổng cho sinh viên các trường đại học và cho học sinh nghèo trong cả
nước.
22
2.2.4 Đóng góp của những người Việt Nam ở nước ngoài
Những người Việt Nam ở nước ngoài cũng có một phần đóng góp cho
giáo dục đào tạo ở Việt Nam. Họ thường xuyên đóng góp tài chính cho việc xây
dựng mới trường lớp cũng như nâng cấp những phòng học cũ nát. Công ty
thương mại Bến Thành ( Matxcơva - Nga) đã đầu tư 500 triệu đồng xây dựng
trường cấp III Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Họ cũng có thành lập một số quỹ
học bổng dành cho học sinh nghèo hiếu học hoặc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
để tạo điều kiện học tập tốt hơn cho trẻ em, góp phần giúp đỡ tài chính cho
song phương. Nhờ có nguồn vốn ODA mà không những quy mô giáo dục không
ngừng tăng lên mà chất lượng giáo dục giáo dục cũng đã có nhiều chuyển biến
tích cực, giúp thực hiện vấn đề xã hội hoá giáo dục cũng như công bằng xã hội
trong giáo dục. Nhờ thế mà vị thế của giáo dục Việt Nam dần được nâng cao trên
thế giới. Như vậy, có thể nói nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng trong việc
giải quyết các khó khăn về vốn đầu tư cho giáo dục trong giai đoạn vừa qua cũng
như trong giai đoạn sắp tới. Vì thế chúng ta phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn này để nó phát huy tác dụng tốt hơn nữa những vai trò tích cực của nó đối
với ngành giáo dục cũng như đối với toàn thể nền kinh tế nước ta.
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
ODA TRONG NGÀNH GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-
2002
I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
ODA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993- 2002
1. Tình hình thu hút nguồn vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 1993- 2002
Những thành tựu đạt được trong cuộc đổi mới đã tạo điều kiện cho Việt
Nam mở rộng quan hệ với các quốc gia, cũng như các tổ chức trên thế giới,
khiến cho việc thu hút nguồn vốn ODA vào đất nước ngày càng tăng.
Chúng ta đều biết rằng cho đến năm 1989, Việt Nam tiếp nhận nguồn vốn
ODA chủ yếu từ Liên Xô cũ, các nước XHCN Đông Âu, Trung Quốc và một số
nước tư bản phát triển (như Thụy Điển), một số tổ chức quốc tế (như UNDP), và
một số tổ chức NGOs Nhưng từ năm 1991, nguồn vốn ODA từ các nước
XHCN chấm dứt, khiến cho Việt Nam hầu như không còn nguồn ODA lớn.
Nhưng bắt đầu từ năm 1993 trở đi, quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt
Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế được nối lại trên cơ sở tinh thần Nghị quyết
của Đại hội Đảng lần thứ VII. Tiếp theo đó, các Đại Hội Đảng lần thứ VIII và
lần thứ IX tiếp tục khẳng định chủ trương đường lối đối ngoại của Đảng ta, đó là