phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn cho đầu tư phát triển mạng lưới giao thông đường bộ vùng miền núi phía bắc giai đoạn 2001- 2010 - Pdf 10

Lời nói đầu
Vùng Miền núi phía Bắc nớc ta gồm 14 tỉnh là Hà Giang, Tuyên Quang,
Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc
Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình; diện tích tự nhiên xấp xỉ
95.000 km
2
, dân số năm 2000 là 10,3 triệu ngời, chiếm gần 29% diện tích và
13,1% dân số cả nớc. Đây là vùng phòng hộ, bảo vệ môi trờng sống cho hơn 30
triệu ngời dân miền núi, đồng bằng Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Nó là cơ
sở quyết định sự phát triển bền vững của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Vùng miền núi phía Bắc có đặc điểm địa hình tự nhiên phức tạp, có nhiều
khó khăn, tình hình kinh tế- xã hội còn nhiều yếu kém nên trong nhiều năm qua
đã đợc Đảng và Nhà nớc ban hành nhiều chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế-
xã hội của vùng, của từng địa phơng. Cùng với sự cố gắng vợt bậc của các dân
tộc, bộ mặt kinh tế- xã hội của vùng có bớc tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, cho đến
nay miền núi phía Bắc vẫn là một vùng nghèo khó nhất so với cả nớc. Một trong
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế- xã hội chậm phát triển là sự yếu
kém về hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó đặc biệt phải kể đến sự yếu kém của
mạng lới giao thông nhất là giao thông đờng bộ.
Việc đầu t phát triển giao thông đờng bộ cho vùng miền núi phía Bắc hiện
nay điều khó khăn nhất là làm thế nào để có vốn. Nhận thức đợc tính cấp thiết
của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Vụ Kinh tế Địa phơng và Lãnh thổ
Bộ Kế hoạch và Đầu t, tôi đã chọn đề tài "Phơng hớng và giải pháp nhằm tăng
cờng huy động vốn cho đầu t phát triển mạng lới giao thông đờng bộ vùng
miền núi phía Bắc giai đoạn 2001- 2010" để nghiên cứu làm báo cáo luận văn
tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu những yếu tố đặc thù, những thuận lợi
và khó khăn tác động đến sự hình thành và phát triển giao thông đờng bộ, từ đó
đa ra các giải pháp thích hợp thu hút vốn đầu t nhằm đẩy nhanh quá trình phát
triển mạng lới giao thông đờng bộ của vùng Miền núi phía Bắc Việt Nam trong
1

nguồn thủy năng, có điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào việc phát triển nền kinh tế
cả nớc.
Đất sản xuất nông nghiệp tuy hiện nay chỉ chiếm khoảng 10% diện tích tự
nhiên của vùng, nhng trong những năm đổi mới, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng vụ,
tăng giống mới, đầu t phát triển mạng lới đờng giao thông, thuỷ lợi nhằm phục
vụ cho sản xuất nên sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp ngày càng tăng, kể cả l-
ơng thực, cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi, Nhìn chung ở những vùng có
hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lới giao thông phát triển hơn thì kinh tế
hàng hoá ở đó cũng phát triển nhanh hơn.
Rừng của vùng miền núi phía Bắc là "mái nhà xanh" của khu vực phía Bắc
nớc ta, đặc biệt là cho đồng bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Vùng có diện tích
đất rừng và rừng lớn nhất so với cả nớc. Theo số liệu năm 1998, đất rừng có
khoảng 2.970.946 ha, chiếm 31,29% diện tích đất tự nhiên toàn vùng và 24,78%
diện tích đất lâm nghiệp của cả nớc. Rừng hiện có 291.200 ha chiếm 25% tổng
diện tích rừng của cả nớc, trữ lợng gỗ cây đứng khoảng 250 triệu m
3
, trong đó:
Hoà Bình có 49,3 triệu m
3
(46 triệu m
3
gỗ rừng tự nhiên và 3,2 triệu m
3
gỗ rừng
trồng), các tỉnh khác nh Lào Cai 12,6 triệu m
3
Rừng miền núi phía Bắc có vai
trò đặc biệt quan trọng trong công tác phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn rửa

54%, Kinh 18%, H'mông 12%, 9 dân tộc khác chiếm 16% dân số; Qua hàng
ngàn năm lịch sử, các dân tộc trong vùng đã kề vai sát cánh bên nhau, cùng đấu
tranh xây dựng và bảo vệ đất nớc, hình thành và phát triển một cộng đồng các
dân tộc anh em đoàn kết thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Nhân dân các dân tộc có lòng yêu nớc nồng nàn, có truyền thống cách mạng
kiên cờng; nhiều nơi trong vùng đã trở thành khu căn cứ cách mạng của cả nớc
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đồng bào các dân tộc đã có đóng
góp to lớn trong các cuộc khánh chiến chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vùng miền núi phía Bắc có nguồn nhân lực dồi dào, hiện tại số ngời trong
độ tuổi lao động có khoảng 5,49 triệu ngời, chiếm 54,4% dân số của vùng, trong
đó số lao động hiện đang làm việc là 4,91 triệu ngời. Đây là một tiềm năng, một
4
lợi thế so sánh của vùng sẽ đợc phát huy mạnh mẽ nếu có chiến lợc đầu t và giải
pháp phát triển thích hợp nhằm đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt, có chuyên
môn kỹ thuật, kỷ luật cho ngời lao động.
Mỗi dân tộc trong vùng đã hình thành và phát triển một loại hình văn hoá
riêng, với nhiều dân tộc đã tạo thành các bản sắc văn hoá đa dạng, phong phú,
độc đáo mà các vùng khác không thể có đợc.
Miền núi phía Bắc cũng là vùng có nhiều di tích lịch sử nh Tân Trào, Pắc
Bó, Điện Biên Phủ, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nh Vịnh Hạ Long,
Sapa, Mẫu Sơn, Hồ Ba Bể, Đây sẽ là tuyến du lịch hấp dẫn đối với khách du
lịch trong và ngoài nớc.
Miền núi phía Bắc tuy có nhiều tiềm năng thế mạnh nhng hiện nay vẫn là
vùng còn nhiều khó khăn nhất so với các vùng khác trong cả nớc, nền kinh tế- xã
hội của vùng đang ở điểm xuất phát thấp, thu không đủ chi, hàng năm hầu hết
các tỉnh vẫn phải nhận trợ giúp từ Trung ơng; địa hình tự nhiên hết sức phức tạp,
khí hậu thời tiết khắc nghiệt, sản xuất cha phát triển, đồng bào trong vùng vẫn
thiếu đói, kết cấu hạ tầng nhất là giao thông yếu kém và thiếu thốn; trình độ văn
hoá của phần lớn dân c thấp kém, tình trạng mù chữ còn khá phổ biến, còn tồn

Ba là, do địa hình của vùng phức tạp, dân c phân tán nên việc phát triển hạ
tầng phục vụ cho sản xuất nh giao thông, thủy lợi, đòi hỏi phải có sự đầu t rất
tốn kém. Tuy Nhà nớc đã hỗ trợ cho vùng nhiều mặt nhng vẫn không thể đáp ứng
đợc yêu cầu, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nên cha có điều kiện để nhân dân
trong vùng phát triển sản xuất, trao đổi hàng hoá, hình thành kinh tế thị trờng.
Nhiều hộ gia đình trồng cây ăn quả, chăn nuôi, đến mùa thu hoạch thì không có
nơi tiêu thụ, giá rất thấp, phải bán rẻ, đồng tiền thu đợc không bù nổi chi phí sản
xuất, có nơi phải chặt phá cây trồng.
Bốn là, công nghiệp của vùng miền núi phía Bắc phát triển thấp kém nhất
so với toàn quốc. Một số tỉnh nh Bắc Cạn, Hoà Bình, Lai Châu, Cao Bằng, Hà
Giang trong những năm gần đây không phát triển thêm một doanh nghiệp nào
đáng kể, bởi không có khả năng vay vốn, sản phẩm sản xuất ra không có thị tr-
ờng tiêu thụ, hoặc do vận tải quá xa nên chi phí sản xuất và lu thông quá lớn.
Bốn trung tâm công nghiệp đã có trong vùng là Bắc Giang, Thái Nguyên, Việt
Trì, Lào Cai nhng không có điều kiện phát triển nh đã nói phần trên, nên nguồn
thu ngân sách từ ngành công nghiệp của vùng chiếm tỷ lệ cha cao, cha có nguồn
thu chủ lực.
Năm là, về đầu t, nguồn lực đầu t của vùng miền núi phía Bắc rất thấp, chủ
yếu nhờ vào sự hỗ trợ của Nhà nớc. Vốn ngân sách Nhà nớc đầu t chiếm 40-
50% tổng mức vốn đầu t huy động từ các nguồn của vùng. Vì vậy, khả năng tái
đầu t của vùng rất hạn chế, việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất chậm so với các vùng
khác.
Sáu là, do đặc điểm tự nhiên, địa hình phức tạp, thu nhập thấp, cơ sở vật
chất thiếu thốn nên các dịch vụ về dạy, học, chữa bệnh, đi lại, ăn, ở của nhân dân
trong vùng còn thấp xa so với các vùng khác. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội, các
tập tục lạc hậu luôn là thách thức đối với các cấp lãnh đạo trong vùng. Đặc biệt
6
là việc truyền đạo trái phép ở các thôn bản thuộc các dân tộc đặc biệt khó khăn
trên vùng biên giới đã gây ảnh hởng cả về lòng tin, tập quán và an ninh quốc gia.
Trên đây là một số khó khăn chủ yếu của vùng, nhiệm vụ đặt ra cho Nhà

và vùng dân tộc
- Ngày 24/12/1996 Thủ tớng Chính phủ ra Quyết định 960/TTg về định h-
ớng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996- 2000 phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh
7
miền núi phía Bắc với nhiệm vụ trọng tâm xây dựng mở rộng và củng cố hệ
thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là hệ thống các tuyến đờng giao thông làm tiền đề
thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển.
- Chỉ thị số 393/TTg ngày 10/6/1996 của Thủ tớng Chính phủ về Quy
hoạch dân c, tăng cờng quy hoạch hạ tầng sắp xếp lại sản xuất ở vùng dân tộc và
miền núi phải phối hợp chặt chẽ với việc sắp xếp lại sản xuất.
- Quyết định 721/TTg ngày 30/8/1997 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát
triển phát triển kinh tế- xã hội vùng Tây Bắc thời kỳ 1996- 2010.
- Quyết định 2/1998/QĐ- TTg ngày 6/1/1998 phê duyệt Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế- xã hội vùng Đông Bắc đến 2010.
- Quyết định 133/1998/QĐ- TTg ngày 13/7/1998 phê duyệt chơng trình
quốc gia Xoá đói giảm nghèo (XĐGN) bao gồm cả công tác định canh, định c và
hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi,
phù hợp để hỗ trợ ngời nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xoá đói giảm
nghèo.
- Quyết định 135/1998/QĐ- TTg ngày 31/7/1998 phê duyệt chơng trình
phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) miền núi, vùng sâu,
vùng xa với mục tiêu: nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào
các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều
kiện để đa nông thôn các xã này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm
phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nớc; góp phần đảm bảo trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
Ngoài ra còn có nhiều Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị và các văn bản có
liên quan khác.
Những chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành trong
10 năm qua về phát triển kinh tế- xã hội của vùng miền núi phía Bắc đã hớng

đất đai, rừng và khoáng sản để phát triển kinh tế, nhờ đó đời sống của đồng bào
các dân tộc đã đợc cải thiện hơn, môi trờng sinh thái trong vùng từng bớc đợc
phục hồi, hạn chế đợc những đột biến lớn về thiên tai, đảm bảo cho các quá trình
phát triển trong vùng và hạ lu đồng bằng Bắc Bộ. Vị trí chiến lợc của vùng về an
ninh quốc phòng đợc tăng cờng, vùng biên giới và tình hình an ninh trật tự an
toàn xã hội đã đợc giữ vững ổn định. Kinh tế của nhiều tỉnh đã có sự chuyển biến
tích cực, xuất hiện những nhân tố mới, mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp
và dịch vụ nh mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình.
Bên cạnh những thành tích, còn một số mục tiêu lớn của Quy hoạch phát
triển kinh tế- xã hội đề ra cha thực hiện đợc:
- Năm 2000 giá trị gia tăng toàn vùng đạt 29.300 tỷ đồng, bình quân đầu
ngời đạt 2,9 triệu đồng, bằng 55% mức bình quân đầu ngời cả nớc.
Tốc độ tăng trởng kinh tế toàn vùng bình quân thời kỳ 1991- 2000 chỉ đạt
6,18% so với mức bình quân cả nớc 7,5%, trong đó thời kỳ 1996- 2000 mới đạt
5,7%, rất thấp so với phơng án ở mức thấp nhất của kế hoạch 5 năm đề ra là
8,5%.
9
Năm 1999 tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 39,3% GDP, đạt kế hoạch đề ra là
39%, nhng công nghiệp chuyển dịch chậm, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây
dựng mới chiếm 24% GDP.
- Các chỉ tiêu lớn về tài chính và thu chi ngân sách hàng năm của các tỉnh
đã đợc thực hiện và vợt kế hoạch, nhng nguồn thu không lớn, cho nên đến nay tất
cả các tỉnh đều cha tự cân đối về thu chi ngân sách. Vì vậy tỷ lệ tích luỹ đầu t từ
nội bộ nền kinh tế của vùng tăng không đáng kể, năm 1996 toàn vùng đạt
khoảng 4,3% GDP, đến năm 1999 chỉ tăng lên ở mức 4,5% GDP.
Mặc dù đã có sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của
vùng, đời sống của nhân dân đã đợc cải thiện, thu nhập có tăng lên nhng để có
thể hoà mình vào sự phát triển chung của cả nớc đòi hỏi kinh tế của vùng phải có
sự tiến bộ hơn rất nhiều. để đạt đợc mục đích đó đòi hỏi Đảng, Nhà nớc và các
địa phơng phải hết sức quan tâm đến vấn đề đầu t cho cơ sở hạ tầng nói chung và

tiện cơ giới, xe máy, xe đạp, xe thô sơ và cho vận tải thủ công.
Các phơng thức vận tải khác ở vùng miền núi phía Bắc nh đờng sắt, đờng
thuỷ và đờng hàng không đều phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật riêng có của ngành
đó, phụ thuộc khá lớn vào hệ thống điều khiển và điều kiện tự nhiên. Vận
chuyển bằng máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ, đều phụ thuộc vào thời tiết, địa hình,
phải dừng tại các ga, các cảng và phải bốc dỡ hàng hoá nhiều lần nhng cũng
không thể đến thẳng tới điểm dừng cuối cùng, mà muốn thực hiện nó đều phải
thông qua vận tải đờng bộ. Chỉ có vận tải đờng bộ thì có thể vận chuyển thẳng từ
điểm xuất phát tới đích cuối cùng. Đây là tính liên tục và sự linh hoạt của loại
hình vận tải đờng bộ.
Với tính liên tục và sự linh hoạt của vận tải đờng bộ hoàn toàn phù hợp với
đặc điểm và điều kiện của vùng miền núi phía Bắc. Nó phục vụ cho nhiều mục
đích, nhiều đối tợng sử dụng, vì vậy đờng bộ của vùng mang tính xã hội cao.
1.4. Về sự thuận tiện trong đầu t
Xét về khía cạnh đầu t xây dựng công trình đờng bộ đơn giản hơn so với
các loại hình giao thông khác. Nó không đòi hỏi một công nghệ xây dựng cao
hoặc tiêu chuẩn hoá chặt chẽ, có thể vừa xây dựng vừa huy động sử dụng. Tuỳ
theo khả năng vốn đầu t mà có thể đầu t hoàn chỉnh hoặc đầu t phân kỳ nhng vẫn
đảm bảo đợc yêu cầu vận tải tối thiểu.
Có nhiều cấp hạng kỹ thuật của đờng từ cấp I, II, III, IV, V, đến các đờng
liên huyện, xã đều tuỳ thuộc vào nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội và khả năng
vốn đầu t mà xác định quy mô đầu t cho hợp lý.
1.5. Về phơng thức xây dựng
Đối với việc xây dựng mạng lới đờng bộ cũng rất đa dạng và phong phú.
Đờng cấp hạng kỹ thuật cao, đòi hỏi thiết kế thi công phức tạp do Nhà nớc đảm
nhận. Đờng cấp thấp hơn có thể do địa phơng tính toán xây dựng quản lý. Những
con đờng huyện, xã nhân dân có thể tự góp vốn và góp công sức để xây dựng.
Mặc dù giao thông đờng bộ có nhiều u điểm nhng chúng cũng có nhiều
nhợc điểm nh gây ô nhiễm môi trờng, gây tai nạn giao thông, chiếm dụng đất
ngày càng lớn, gây ảnh hởng tới hoạt động của dân c nơi có đờng giao thông qua

đờng bộ là ngành dịch vụ và khi nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của các
ngành dịch vụ trong xã hội càng giữ vai trò quan trọng. Điều đó đợc chứng minh
rất rõ thông qua việc các nớc đang chuyển đổi nền kinh tế theo hớng ngày càng
tăng tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP, trong đó có dịch vụ vận tải.
Vấn đề đặt ra là cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, ngành giao thông
vận tải đờng bộ phải làm thế nào để thoả mãn các điều kiện sau:
12
- Tỷ lệ đóng góp của vận tải đờng bộ trong GDP ngày càng tăng.
- Đầu t cơ sở hạ tầng tiết kiệm.
- Chi phí vận tải và các dịch vụ vận tải trong cấu thành sản phẩm ngày
càng giảm.
Nh vậy, đối với mọi quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, xã hội,
giao thông vận tải đờng bộ đều giữ vị trí rất quan trọng, vừa tạo tiền đề cơ sở vật
chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế phát triển vừa có cơ hội để phát triển thông
qua việc xuất hiện các nhu cầu vận tải tiếp thu các thành tựu, tiến bộ khoa học-
công nghệ của loài ngời.
Riêng đối với Việt Nam, đặc biệt là đối với miền núi phía Bắc giao thông
vận tải đờng bộ phát triển là tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng của vùng.
Hệ thống giao thông miền núi phía Bắc khá đa dạng, có nhiều loại hình
nh đờng bộ, đờng sông, đờng hàng không, đờng sắt (Xem Phụ lục 1). Do địa
hình phức tạp, sông suối lắm thác ghềnh, có độ dốc lớn nên giao thông đờng
thủy phát triển rất chậm. Đờng hàng không hiện nay mới có hai tuyến là Hà Nội-
Điện Biên Phủ và Hà Nội -Nà Sản chủ yếu phục vụ hành khách nhng thời tiết của
vùng luôn luôn bất ổn, sơng mù dày đặc nên thời gian hoạt động của hàng không
trên các tuyến này bị hạn chế, mặt khác việc đầu t cơ sở vật chất cho ngành này
đòi hỏi chi phí rất lớn nhng số lợng hành khách và hàng hoá không lớn. Đờng sắt
chủ yếu là chuyên chở hàng hoá và hành khách nhng đến nay cũng chỉ có một số
tuyến đã đợc xây dựng từ lâu nh tuyến Hà Nội- Đồng Đăng, Hà Nội- Lào Cai,
Hà Nội- Thái Nguyên, do địa hình phức tạp nên mạng lới đờng sắt ở vùng miền

xuyên, liên tục với quy mô ngày càng mở rộng.
- Phát triển giao thông đờng bộ tạo ra sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh
tế của vùng, tạo điều kiện để ngành nghề mới ra đời và phát triển, đặc biệt là
ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời phân bổ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
mới với công nghệ- kỹ thuật hiện đại nhằm đem lại hiệu quả cao hơn.
- Nông thôn miền núi phía Bắc có đờng giao thông đi lại thuận tiện hơn,
có đờng ô tô vào trung tâm xã, đó là những thay đổi có ý nghĩa về mặt kinh tế,
chính trị, tâm lý, xã hội và tăng cờng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Phát triển giao thông đờng bộ góp phần tạo ra sự phát triển đồng đều
giữa vùng miền núi phía Bắc so với các vùng khác trong cả nớc. Có điều kiện
khai thác gần 30 cửa khẩu trên bộ phục vụ giao lu kinh tế giữa nớc ta với các nớc
láng giềng, trong đó có các cửa khẩu quốc tế nh: Móng Cái, Đồng Đăng, Hữu
Nghị, Tân Thanh, Lào Cai. Đờng bộ giữa nớc ta và các nớc láng giềng đợc thông
thơng, khối lợng hàng hoá xuất nhập khẩu lớn sẽ tạo nên những điểm kinh tế
phát triển trên hành lang biên giới và tăng thêm khả năng hoạt động du lịch, giao
lu văn hoá, tăng nguồn thu cho ngân sách,
- Giao thông đờng bộ miền núi phát triển tạo ra các cơ hội cho các nhà đầu
t trong nớc và ngoài nớc đầu t vào vùng nhằm phát triển kinh tế- xã hội của
vùng, cung cấp các sản phẩm hàng hoá, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động
trong vùng. Hơn nữa, các tiềm năng trong vùng đợc khơi dậy, khai thác có hiệu
quả sẽ làm thay đổi bộ mặt của toàn vùng.
14
2.2. Giao thông đờng bộ với phát triển văn hoá, xã hội của vùng
Giao thông phát triển tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. ở
vùng đồng bằng, các đô thị nhờ giao thông phát triển mà các lĩnh vực kinh tế-
văn hoá- xã hội đợc phát triển nhanh. ở miền núi do địa hình phức tạp, giao lu
khó khăn, các thôn bản phân tán, không những làm cho sản xuất chậm phát triển
mà giao lu kinh tế, văn hoá, xã hội cũng bị hạn chế. Phát triển giao thông sẽ tạo
cơ hội cho:
- Các hoạt động văn hoá, xã hội thờng bị giới hạn trong mỗi vùng nhỏ bé của

đã cải thiện đợc phần nào mức sống của những ngời nông dân trong vùng. Tuy
15
vậy, bớc vào cơ chế thị trờng với sự cạnh tranh mạnh mẽ, ngời sản xuất gặp phải
hàng loạt các vấn đề bức xúc: thị trờng nhỏ bé, thiếu thông tin, giá cả không ổn
định, Do cha đợc tiếp cận trực tiếp và dự đoán đợc dung lợng thị trờng, nên vào
những lúc đợc mùa giá sản phẩm nông nghiệp hạ tới mức thấp nhất gây thiệt hại
lớn cho ngời nông dân. Chính phủ đã có hàng loạt các biện pháp để giải quyết
vấn đề này, trong đó phát triển giao thông nông thôn, nối liền các tỉnh lộ là một
biện pháp hữu hiệu nhất. Giao thông thuận tiện, ngời nông dân tiếp cận đợc với
thị trờng, tự mình điều chỉnh đợc hoạt động sản xuất, tránh đợc tình trạng d
cung. Giao thông phát triển giúp cho việc vận chuyển hàng hoá thuận tiện hơn
nhiều, các sản phẩm nông nghiệp đã đợc tiêu thụ tốt hơn kể cả những sản phẩm
tơi, sống vận chuyển đi xa. Nhờ đó đã kích thích đợc sản xuất, lu thông thuận lợi
hơn, giúp ngời nông dân có điều kiện tăng thu nhập từ lao động. Ngợc lại việc
tăng thu nhập cho ngời dân cũng góp phần tạo điều kiện phát triển giao lu văn
hoá rộng rãi, tiếp thu nền văn minh hiện đại cho nông thôn, cải thiện đợc đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong vùng.
Đô thị hoá, cải thiện mạng lới giao thông đờng bộ cùng với sự gia tăng
đầu t vào nông thôn nên việc mở mang các ngành nghề phụ cũng góp phần làm
tăng thu nhập của nông dân. Điều này sẽ thu hẹp đợc sự chênh lệch giữa thành
thị với nông thôn và nh vậy một mối quan tâm trong phát triển kinh tế đợc giải
quyết.
2.4. Giao thông đờng bộ với vấn đề dân tộc
Đồng bào dân tộc thiểu số đã có truyền thống đoàn kết, đùm bọc, thơng
yêu lẫn nhau trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhng hiện nay vấn đề dân
tộc đang là vấn đề nổi cộm không chỉ đối với nớc ta mà ở cả nhiều quốc gia khác
trên thế giới . Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này Đảng và Nhà nớc ta
đã chủ trơng đoàn kết, tơng trợ cùng phát triển, tạo đợc sự hoà hợp giữa các dân
tộc, mở rộng quan hệ giao lu, giảm bớt khoảng cách giữa các vùng dân tộc thiểu
số sống ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Để khuyến khích đầu t vào

1. Về điều kiện tự nhiên
Về mặt địa hình:
Vùng miền núi phía Bắc có địa hình chia cắt phức tạp, có dãy núi Hoàng
Liên Sơn với đỉnh Fanxipăng cao hơn 3100m chia thành hai tiểu vùng Đông Bắc
và Tây Bắc. Vùng Tây Bắc là vùng núi cao dốc nhất nớc ta, vùng Đông Bắc có
nhiều dãy núi cao hình cánh cung tạo nên địa hình hiểm trở.
Căn cứ theo địa hình có thể phân chia đất đai các tỉnh miền núi phía Bắc
thành ba vùng:
- Vùng núi đá, có độ cao trung bình từ 1000- 1600m, chủ yếu là núi đá
vôi, chiếm khoảng 30- 35% tổng diện tích đất tự nhiên của vùng tập trung ở các
tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái.
- Vùng núi đất, có độ cao trung bình từ 500- 900m, chiếm khoảng 40%
diện tích tự nhiên của vùng miền núi phía Bắc, phân bổ ở hầu hết các tỉnh trong
vùng. Vùng này đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, phần lớn diện tích là
17
đất rừng, nhng chủ yếu là rừng cạn kiệt càng gây khó khăn cho sản xuất nông
nghiệp vì thiếu nớc.
- Vùng thấp có độ cao trung bình từ 100- 500m, địa hình đồi núi thấp, gần
các con sông suối, nên tơng đối thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, giao
thông thuận lợi. Tuy nhiên, vùng đất thấp chỉ chiếm khoảng 30% diện tích đất tự
nhiên của vùng, chủ yếu đợc sử dụng làm đất ở, sản xuất nông nghiệp, nhất là
sản xuất lơng thực.
Với vị trí địa lý, địa hình của vùng đã gây nên những khó khăn trong việc
phát triển mạng lới giao thông đờng bộ, đờng lắm đèo, dốc, cầu, cống ngầm,
làm cho suất đầu t (mức đầu t/1km đờng) và tổng mức đầu t quá cao; đờng bộ
miền núi phía Bắc phần lớn đi qua vùng núi non hiểm trở, không an toàn cho ng-
ời, hàng hoá và các phơng tiện tham gia hoạt động giao thông trên các tuyến đ-
ờng.
Về thời tiết, khí hậu:
Miền núi phía Bắc là thợng nguồn của các con sông lớn nh sông Lô, sông

trong lòng núi đá, theo những hang động ngầm chảy ra sông, suối và đổ về đồng
bằng, làm cho dòng chảy mặt ở đây rất thấp và rất ít.
Trong nhiều thập kỷ qua Nhà nớc đã hỗ trợ cho các tỉnh trong vùng xây
dựng đợc một số công trình thuỷ lợi có quy mô lớn nh hồ Núi Cốc (Thái
Nguyên), hồ Pa Khoang (Lai Châu), hồ Tử Hiếu (Yên Bái), cùng với việc huy
động sức dân nên các công trình này đã phát huy tác dụng tốt trong việc cung
cấp nớc cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, các công trình thuỷ lợi ở miền
núi phía Bắc còn nhiều hạn chế bởi địa hình phức tạp, đầu t xây dựng các công
trình thuỷ lợi rất tốn kém mà hiệu quả sử dụng không lớn, trong khi đó các cánh
đồng cần tới rất nhỏ hẹp, công trình dẫn nớc đi xa.
Tuy nhiên, các công trình thuỷ lợi đó phải đi qua một số đoạn đờng, hơn
nữa ở nông thôn ngời dân thờng tự ý đào đờng để làm cống nên đòi hỏi phải phá
đờng, đào đờng giao thông để xây dựng. Chính vì vậy, vào những lúc có ma gió,
lũ lụt gây hậu quả nghiêm trọng cho mạng lới giao thông của vùng và các phơng
tiện đi lại trong vùng.
Về tài nguyên:
Đây là vùng tập trung nhiều loại tài nguyên khoáng sản lớn nhất cả nớc
(90% về than; gần 100% về apatit, thiếc, đất hiếm; 60% tiềm năng về thuỷ điện;
70% về chè, quế, hồi, sơn, ). Có nhiều khoáng sản, tài nguyên có giá trị để phát
triển công nghiệp của cả nớc.
Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trờng sinh thái
bị huỷ hoại nghiêm trọng. Nạn phá rừng, đốt nơng làm rẫy, khai thác rừng bừa
bãi cũng đã gây ra các trận lũ quét nghiêm trọng làm sạt lở, thiệt hại các công
trình giao thông đờng bộ của vùng. Từ đó dẫn đến việc xây dựng đờng bộ cũng
rất khó khăn: chi phí cho xây dựng đờng rất cao trong khi vốn đầu t lại ít, điều
kiện địa hình phức tạp hơn rất nhiều so với các vùng khác trong cả nớc, chi cho
công tác bảo vệ công trình giao thông nh kè, tờng chắn, cầu, cống, cọc tiêu, biển
báo khá tốn kém.
19
2. Đặc điểm kinh tế- xã hội

sống ở nhiều vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, tình trạng du canh, du c ở vùng miền
núi phía Bắc vẫn còn khá phổ biến, hiện còn khoảng 60 nghìn hộ đồng bào dân
tộc sống du canh.
Do đất rộng, ngời tha, tập quán sống rải rác, nhất là trên các vùng núi cao,
nên xây dựng các tuyến đờng giao thông rất phức tạp và tốn kém. Do dân c sống
tha thớt nên mức độ sử dụng các công trình rất thấp, hiệu quả kinh tế mang lại
không cao. Tuy nhiên, hệ thống giao thông đờng bộ vẫn cần phải đợc phát triển
bởi vì: hệ thống giao thông không chỉ phục vụ các hoạt động kinh tế mà nó còn
phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Trình độ phát triển kinh tế- xã hội:
20
Tốc độ tăng trởng kinh tế toàn vùng bình quân thời kỳ 1990- 1999 đạt
6,18% so với mức bình quân cả nớc 7,5%. Trong cơ cấu kinh tế đầu năm 1999 tỷ
trọng nông nghiệp vẫn còn lớn, chiếm xấp xỉ 39% GDP, trong khi cả nớc chỉ còn
25%. Mặc dù tốc độ tăng trởng công nghiệp bình quân giai đoạn 1991- 1999 t-
ơng đối nhanh, đạt trên 12%/năm, song do điểm xuất phát thấp, nên đến năm
1999 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP của toàn vùng chiếm khoảng
22%.
Nhìn chung các tỉnh của vùng miền núi phía Bắc có trình độ phát triển
kinh tế thấp, dới mức trung bình của cả nớc. Mặc dù dân số của vùng chiếm 13%
dân số cả nớc nhng GDP theo giá hiện hành năm 1999 chỉ chiếm 7,9% GDP cả
nớc. GDP bình quân đầu ngời bằng 54,4% mức bình quân cả nớc. Có nhiều tỉnh
đặc biệt khó khăn nh Bắc Cạn, Lào Cai, Hà Giang, Sơn La có mức GDP bình
quân đầu ngời vào loại thấp nhất so với cả nớc nh Hà Giang: 1.475,1 nghìn
đồng/ngời, Bắc Cạn: 1.814,1 nghìn đồng/ngời, Sơn La: 2.032,2 nghìn đồng/ngời.
21
Biểu 1: GDP các tỉnh miền núi phía Bắc năm 1999.
Tỉnh GDP (tỷ đồng, giá
hiện hành)
GDP/ngời

22
3. Về nguồn vốn
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà hội nhập vào tiến trình phát triển kinh tế
chung của khu vực và thế giới. Tuy vậy, nớc ta đang ở điểm xuất phát thấp, kinh
tế chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp là chính. Do vậy, nhu cầu về vốn là rất cần
thiết. Trớc hết để giúp các vùng kinh tế phát triển thì đòi hỏi sự đầu t vốn cho
phát triển cơ sở hạ tầng, mà quan trọng là phát triển giao thông vận tải phải đi tr-
ớc một bớc.
Riêng đối với kinh tế vùng miền núi phía Bắc chủ yếu phụ thuộc nhiều vào
việc phát triển nông nghiệp nhng nền nông nghiệp ở đây trong nhiều thời kỳ còn
thiếu lơng thực thực phẩm để cung cấp cho nhân dân trong vùng. Muốn phát
triển đợc nông nghiệp để tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực và hoà
nhập vào tiến trình công nghiệp hoá của cả nớc, trớc tiên phải phát triển mạng lới
giao thông đờng bộ của cả vùng. Giao thông phát triển, tạo điều kiện mở rộng
giao lu, mở mang dân trí từ đó các nhu cầu khác cũng phát triển, kinh tế- xã hội
của miền núi phía Bắc cũng dần dần phát triển theo đà đi lên chung với các vùng
khác trong cả nớc.
Muốn phát triển đợc đòi hỏi phải có vốn đầu t. Trên thực tế, nguồn vốn để
đầu t cho vùng là hết sức quan trọng nhng khả năng huy động và thu hút vốn cho
phát triển giao thông rất hạn chế. Hiện nay giao thông của vùng chỉ chủ yếu là đ-
ờng bộ, giao thông đi lại trong từng tỉnh, từng huyện, xã, đều bằng đờng bộ, tỷ
lệ đờng đất, đá nhiều, chất lợng thấp kém còn chiếm tỷ lệ cao. Nhu cầu về vốn
cho vùng nhằm phát triển mạng lới giao thông đờng bộ là hết sức cần thiết và
cấp bách nhng hiện nay mức huy động đợc hết sức nhỏ bé, chủ yếu là dựa vào sự
hỗ trợ của trung ơng; các địa phơng cũng đã chú trọng huy động vốn của địa ph-
ơng nhng cũng chỉ đủ để đầu t sửa chữa hoặc tập trung đầu t phát triển ở vùng
kinh tế phát triển là chính.
4. Về khoa học công nghệ
Khoa học- kỹ thuật- công nghệ ngày nay phát triển nh vũ bão, nhiều phát
minh sáng chế ra đời, những phát minh sau bao giờ cũng đợc dựa trên những

24
Chơng II
Thực trạng huy động và sử dụng vốn cho đầu t phát
triển mạng lới giao thông đờng bộ vùng miền núi phía
Bắc trong thời gian qua
I. Thực trạng mạng lới giao thông đờng bộ của vùng
miền núi phía Bắc
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 đã đề ra: "Phát
triển kết cấu hạ tầng vừa bảo đảm các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển
kinh tế- xã hội 5 năm 1996- 2000, vừa chuẩn bị những điều kiện cho bớc phát
triển sau năm 2000 Đảm bảo sự lu thông trong mọi thời tiết trên các tuyến giao
thông huyết mạch, tuyến xơng sống và các tuyến nhánh đến các vùng, các trung
tâm miền núi". Đây là chủ trơng quan trọng của Đảng ta nhằm thực hiện công
cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Cụ thể hoá chủ trơng của
Đảng, Chính phủ đã có nhiều Quyết định, Chỉ thị quan trọng ra đời nh Chỉ thị số
393/ TTg; Quyết định số 960/ TTg; Quyết định 35/TTg
Từ các Quyết định, Chỉ thị trên, trong vòng 5 năm trở lại đây, ngành giao
thông vận tải ở cả Trung ơng và địa phơng đã tập trung triển khai thực hiện nhiều
dự án và hạng mục công trình giao thông đờng bộ, đờng sông kể cả giao thông
nông thôn ở vùng miền núi phía Bắc, góp phần không nhỏ vào quá trình phát
triển kinh tế- xã hội của vùng.
1. Tình hình phát triển mạng lới giao thông đờng bộ của vùng
Đến nay mạng lới đờng bộ của vùng khá phát triển, riêng khu Đông Bắc
mật độ xấp xỉ mức trung bình của cả nớc (0,29 km/km
2
so với 0,32 km/km
2
), có
một số trục đờng quan trọng nh Quốc lộ 1A, Quốc lộ 2, 3, 6, 18, 32 và đờng
sắt qua nhiều tỉnh trong vùng phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status