Giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hai Bà Trưng – Hà Nội - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và hội nhập mạnh
mẽ với nền kinh tế thế giới. Năm 2007 vừa qua Việt Nam đã là thành viên
chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO). Hội nhập là cơ
hội để chúng ta có thể tiếp cận những nền khoa học công nghệ hiện đại,
những nền kinh tế phát triển trên thế giới, cơ hội để kinh tế nước ta có thể
sánh vai cùng các cường quốc Năm châu.
Ngân hàng là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế. Ngành
ngân hàng của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập, đây chính là vấn đề gây khó
khăn nhất cho chúng ta trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Tuy nhiên
đây cũng chính là vấn đề nóng nhất khi sức mạnh hội nhập lan toả trên toàn
bộ nền kinh tế nước ta.
Sức cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng thương mại trong
nước với nhau mà còn cả các ngân hàng nước ngoài, các định chế tài chính
khác như công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các tập đoàn tài chính…khác nữa.
Muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế năng động đó, mỗi ngân hàng
cần phải xác định cho mình con đường đi phù hợp và hiệu quả nhất. Nâng cao
vị thế trên thị trường, nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động luôn là vấn đề cốt
lõi. Đó chính là việc xác định lượng vốn huy động được và vấn đề sử dụng
vốn đó như thế nào của các ngân hàng thương mại. Huy động vốn là cơ sở để
tiến hành hoạt động, là cơ sở để đảm bảo thanh toán, là uy tín và cũng chính
là tiền đề cho sự sống còn của ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và NHNN&PTNT nói
riêng trong quá trình hoạt động của mình luôn xác định được vai trò quan
trọng của việc huy động vốn. Hoà chung vào không khí đó, NHNN&PTNT
Hai Bà Trưng – Hà Nội luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, để
1
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2
từ đây có thể đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của hệ thống

tổ chức hay doanh nghiệp đều gửi tiền tại đây, nguốn vốn của họ phần lớn
xuất phát từ đây. Các cá nhân gửi tiền với mục đích tăng thu nhập. thêm lợi
nhuận, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội gửi phục vụ thanh toán, chi tiêu,
trả lương…Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội.
Bên cạnh đó ngân hàng còn là tổ chức cho vay chủ yếu đối với doanh
nghiệp, cá nhân và có thể là cả nhà nước nữa. Cho vay tiêu dùng , cho vay để
đầu tư, cho vay để phục vụ sản xuất, cho vay để xây dựng cơ sở hạ tầng…
phần lớn các nguồn vay ấy đếu được thực hiện tại ngân hàng.
Mặt khác Ngân hàng còn là một trung gian tài chính quan trọng nhất
trong nền kinh tế, ngân hàng là trung gian cho người dư thừa vốn gặp những
người đang cần vốn và tạo điều kiện đem lại lợi ích cho họ. Chính sách tiền tệ
là bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế trong mỗi quốc gia và ngân hàng
đóng vai trò quyết định chính sách ấy.
Như vậy có thể nói ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhất, thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2005 Nước CHXHCN Việt Nam đã chỉ
rõ: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tièn gửi và sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ tiền tệ”.
3
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4
NHTM là bà đỡ cho mọi nền kinh tế, Một nền kinh tế phát triển và tăng
trưởng mạnh là một nền kinh tế mà ở đó NHTM đóng vai trò chủ chốt và
quyết định nhất.
1.1.2. Chức năng của NHTM
NHTM có ba chức năng cơ bản đó là:
- NHTM là một trung gian tài chính: NHTM là cầu nối giữa người dư
thừa vốn và người đang có nhu cầu vốn. Với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết

họ. Ngân hàng luôn là điểm tựa vững chắc cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó
ngân hàng cũng chính là trung gian thanh toán cho các cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế.
1.1.3. Hoạt động của NHTM
a. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn (HĐV) là các hoạt động nhằm tạo vốn cho ngân hàng,
hình thành tài sản nợ cho ngân hàng. Huy động vốn là hoạt động nền tảng cho
sự hoạt động và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng dùng nhiều hình thức
huy động vốn khác nhau:
Huy động tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán
Huy động tiền gửi có kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi tiết kiệm
Vay từ Ngân hàng trung ương (NHTW) và các tổ chức tín dụng (TCTD)
Phát hành kỳ phiếu hoặc trái phiếu
Huy động thêm vốn chủ sở hữu
Huy động theo các nguồn khác
Hiên nay các ngân hàng thương mại đang đưa ra nhiều chương trình,
nhiều biện pháp để đẩy mạnh huy động vốn.

5
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
b. Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng vốn là việc ngân hàng sử dụng nhưng nguồn đã huy động được
để đưa vào kinh doanh thu lợi nhuận, đây là ngiệp vụ hình thành tài sản có
trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng vốn cho hoạt động ngân quỹ( bản chất là dự trữ),
hoạt động này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng chi trả cho ngân
hàng. Các nước trên thế giới thường duy trì tỉ lệ dự trữ bắt buộc là
8%/năm.Ngân hàng sử dụng một phần tiền gửi của khách hàng để dự trữ theo
quy đinh bắt buộc của Ngân Hàng trung ương.

uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng…Các hoạt động này bên cạnh
việc đem lại nguồn thu nhập lơn cho ngân hàng còn góp phần nâng cao vị thế
của ngân hàng trên thương trường.
1.2 Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Vốn là cơ sở và nền tảng cho mọi hoạt động của ngân hàng. Đây là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản có của ngân hàng, nó được xác định
từ nhiều nguồn khác nhau. Để thuận lợi cho mọi quá trình vận hành và xác
định người ta đã chia ra thành hai loại vốn cơ bản đó là vốn chủ sở hữu và
vốn vay.
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu
Ngân hàng hay bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào muốn thành lập và
hoạt động được phải có một lượng vốn nhất định. Vốn này có vai trò quyết
định trong quá trình tiến hành đăng kí kinh doanh, quá trình thành lập hay quá
trình hình thành nên tài sản, trang thiết bị, nhà xưởng, hay máy móc thiết bị…
cho mỗi tổ chức. Ngân hàng thương mại cũng vậy, nguồn vốn chủ sở hữu là
điều kiện tiên quyết cho mọi vấn đề. Nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng
được cụ thể thành các loại như sau:
a. Nguồn vốn hình thành ban đầu
7
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
Theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu
khác nhau. Ngân hàng thương mại nhà nước là Ngân hàng được sở hữu bởi
nhà nước, vốn do ngân sách nhà nước cấp. Ngân hàng cổ phần là ngân hàng
có số vốn góp do các cổ đông hợp sức lại, Ngân hàng liên doanh do các bên
liên doanh góp vốn, Ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
Vốn hình thành ban đầu hay vốn tự có là điều kiện pháp lý cơ bản, là
xuất phát điểm cơ bản cho mọi hoạt động của ngân hàng và cũng đồng thời là
yếu tố tài chính quan trọng để đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, là

nhà nước. Khi đó NHTM sẽ yêu cầu các cổ đông đóng góp hoặc đi xin được
cấp thêm…Tuy vậy cách huy động nguồn vốn này thường phức tạp, khó khăn
và không đem lại hiệu quả cao, chỉ những khi quá cần thiết thì ngân hàng mới
áp dụng.
c. Các quỹ
Ngân hàng hay bất kỳ một tổ chức nào hoạt động đều phải có các quỹ
riêng: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc, quỹ dự phòng,…Bên
cạng đấy ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - một lĩnh vực nhạy cảm
nên các quỹ của nó cũng mang nhiều đặc thù riêng.
- Quỹ dự phòng tổn thất: Loại quỹ này đựơc trích lập hàng năm, dùng để
bù đắp những tổn thất xảy ra. Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng là rất lớn,
nguồn quỹ này rất được chú trọng và quan tâm, Ngân hàng Trung ương ở mỗi
quốc gia thường phải đặt ra một tỷ lệ cố định cho việc trích lập dự phòng này.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì quỹ dự phòng tổn thất
của các ngân hàng tại Việt nam bao gồm hai loại quỹ đó là quỹ dự phòng để
xử lý rủi ro và quỹ dự phòng tài chính.
- Quỹ bảo toàn vốn là loại quỹ được hình thành nhằm bù đắp hao mòn
của vốn dưới tác động của lạm phát.
9
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10
- Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và phần chênh
lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Quỹ này
cũng có vai trò quan trọng vì theo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền và nó
liên quan tới việc đánh giá lại tài sản của ngân hàng.
- Ngoài ra còn có các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc...
mang tính chất động viên khích lệ các cá nhân, nhóm tổ chức trong ngân hàng
để họ có điều kiện thuận lợi phát triển và cống hiến.Các quỹ này được hình
thành trên cơ sở thu nhập hàng năm của ngân hàng.
d. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

cuối cùng mà ngân hàng thương mại có thể đến vay. Tại đây hình thức cho
vay chủ yếu là tái chiết khấu hay còn gọi là tái cấp vốn. Các thương phiếu
trên thị trường đã được ngân hàng thương mại chiết khấu hoặc tái chiết khấu
sẽ trở thành tài sản của họ. Khi nhu cầu vốn cấp bách NHTM đến NHTW vay
bằng hình thức đem các thương phiếu đã chiết khấu ấy đến NHTW tái chiết
khấu. Tuy nhiên không phải bất kỳ thương phiếu nào cũng được NHTW chiết
khấu, chỉ những thương phiếu có chất lượng tốt, có thời gian đáo hạn ngắn,
khả năng trả nợ cao thì NHTW mới đồng ý tái chiết khấu.
- Vay các tổ chức tín dụng khác:
Đây là nguồn mà các ngân hàng thương mại vay muợn của lẫn nhau và
vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên nhân hàng. Khi ngân
hàng đang thiếu hụt về dự trữ, hay đang phải đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách
trong khi nguồn vốn của họ không đủ, họ phải ngay lập tức vay mượn để kịp
thời chi trả. Bên cạnh đó lại có những ngân hàng khác , các tổ chức tín dụng
khác như công ty bảo Hiểm, công ty Tài chính…đang có dự trữ vượt yêu cầu
do kết số dư tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ
có thể sẵn sàng cho vay để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. Và thế là họ gặp
11
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12
nhau, trao đổi cho nhau để cả hai bên cùng có lợi. Các khoản vay này thương
có thủ tục đơn giản, thuận lợi, xác định dựa trên uy tín của các ngân hàng với
nhau, do vậy nó thường hay được sử dụng và mang lại hiệu quả cao.
- Vay trên thị trường vốn:
Đây là các khoản vay trung và dài hạn, nó hoàn toàn phụ thuộc vào khả
năng và uy tín của ngân hàng. Ngân hàng nào có uy tín trên thị trường hoặc
có khả năng trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều và ngược lại các ngân
hàng nhỏ thưòng khó vay hơn và họ thường phải dựa vào các ngân hàng đại
lý hoặc nhờ các ngân hàng lớn bảo lãnh. Sở dĩ như vậy vì đây là hình thức
Ngân hàng vay bằng cách phát hành giấy nợ ra công chúng, Một hình thức

phần khác trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình.
1.2.2.1 Các hình thức huy động vốn
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta có thể chia hoạt động huy động
vốn theo các hình thức khác nhau,sau đây là một vài tiêu chí cơ bản hay được
quan tâm:
a. Huy động vốn theo thời gian
- Vốn ngắn hạn
Đây là loại vốn có thời gian huy động dưới 12 tháng. Để thoả mãn nhu
cầu của khách hàng thì ngân hàng có thể chia ra nhiều kỳ hạn nhỏ: Dưới 1
tháng, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, hoặc khách hàng có thể rút
ra bất kỳ khi nào nếu họ cần. Nguồn này mang tính chất nhạy cảm cao nhưng
lại luôn thu hút được nhiều vì nó phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tuy
vậy chi phí cho nguồn này cũng lớn, nguồn huy động này chủ yếu để cho vay
ngắn hạn., nếu muốn cho vay dài hơn thì ngân hàng thường phải chuyển đổi
kỳ hạn tương ứng.
- Vốn trung hạn
13
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
Vốn trung hạn là nguồn vốn có thời hạn lớn hơn 12 tháng và đến 5năm.
Nguồn này chủ yếu phục vụ cho các khoản vay trung hạn, tạo ra các sản phẩm
với mức kỳ hạn từ 1 năm đến 5 năm cho ngân hàng. Đây là nguồn rất quan
trọng cho khách hàng và ngân hàng thường phải đặt ra các hình thức huy
động rất hấp dẫn để thu hút nguồn vốn này.
- Vốn dài hạn
Vốn dài hạn là những khoản tiền mà ngân hàng huy động có thời hạn từ
5 năm trở lên, được sử dụng cho các dự án dài hạn. Đây là nguồn vốn ổn định,
ngân hàng có thể sử dụng trong thời gian dài. Tuy nhiên việc huy động nó
cũng gặp nhiều khó khăn và chi phí mà họ bỏ ra cũng tương đối lớn. Nguồn
này thường chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn huy động của ngân hàng.

- Huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài
Ngân hàng tham gia liên kết với các tổ chức, các doanh nghiệp nước
ngoài, hay cũng có thể làm trung gian, làm đại lý cho họ. Giữ vốn cho công
trình đầu tư, giữ vốn uỷ thác, vốn để thanh toán hộ cho họ. Nghiệp vụ này tuy
không sôi nổi nhưng nó cũng có thể huy động được số vốn khá lớn mặc dù nó
không phải là nguồn vốn ổn đinh.
c. Huy động vốn theo phương thức huy động
- Huy động qua tiền gửi
Tiền gửi là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng. Từ trước đến nay ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để gia tăng
nguồn tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau, cụ thể là:
+ Tiền gửi thanh toán:
Đây là một trong những dich vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng
cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán cho hộ cho khách hàng. Cá
nhân hay doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích nhờ ngân hàng
giữ hộ và thanh toán hộ. Khi khách hàng có nhu cầu, ngân hàng mở cho họ
15
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16
một tài khoản tiền gửi thanh toán, trên tài khoản này, tất cả các nghiệp vụ thu
chi của khách hàng sẽ được cụ thể hoá. Khi có yêu cầu ngân hàng lập tức phải
thanh toán các lệnh rút tiền cho 1 cá nhân hay bên thứ ba được chỉ rõ là người
thụ hưởng trên số dư cho phép.
Hiện nay để đa dạng hoá các tài khoản tiền gửi và tối đa hoá lợi ích
người gửi tiền ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức tiền gửi thanh toán khác
nhau. Ví dụ như tiền gửi thanh toán có thể phát hành Séc, tài khoản tiền gửi
thanh toàn kết hợp với tài khoản cho vay…
Tiền gửi thanh toán có đặc điểm lãi suất thấp hoặc có thể bằng không,
tức là chi phí mà ngân hàng bỏ ra thấp mà lại mang lai nhiều tiện ích cho
khách hàng và cả ngân hàng.

nguồn an toàn nhất, đảm bảo nhất và cũng là chủ đạo nhất đối với nguồn vốn
của họ.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác:
Cùng tồn tại trong một nền kinh tế, cùng chịu ảnh hưởng của cơ chế thị
trường đặc biệt cùng kinh doanh trên lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế,
các NHTM cùng địa bàn không thể tách rời nhau mà họ cùng nhau hợp tác,
trao đổi và liên kết với nhau. Họ có thể vay mượn lẫn nhau,thanh toán hộ cho
nhau hay bù trừ cho nhau. Để quá trình ấy diễn ra mang lại hiệu quả cao, các
ngân hàng thường mở cho họ một tài kkhoản tại ngân hàng bạn, khi co nhu
cầu thanh toán với khách hàng họ có thể bù trừ cho nhau một cách nhanh gọn
và thuận tiện nhất. Đây chính là một biện pháp tăng vốn hữu hiệu nhất cho
ngân hàng.
- Huy động bằng cách phát hành giấy tờ có giá
+ Trái phiếu ngân hàng: Là việc ngân hàng phát hành ra công chúng một
loại công cụ nợ dài hạn thường là 5 đến 10 năm. Trên trái phiếu sẽ ghi rõ
mệnh giá, lãi suất, thời gian đáo hạn. Lãi suất trái phiếu ngân hàng thường cao
17
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
hơn hoặc ngang bằng trái phiếu Chính Phủ. Nguồn huy động này mang tính
chất ổn định về thời gian, lượng vốn thu về lớn song chi phí bỏ ra cũng khá
lớn.
+ Kỳ phiếu ngân hàng: Đây là hình thức huy động với kỳ hạn ngắn hơn,
lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm, dễ chuyển thành tiền mặt khi cần thiết và nó
được các nhà đầu tư rất ưa thích.
+ Chứng chỉ tiền gửi: Đây là giấy xác nhận khoản vay của ngân hàng, có
xác nhận về lãi suất, số tiền vay, ngày đáo hạn. Trước đây lãi suất của các loại
chứng chỉ này là cố định nhưng để phù hợp với điều kiện và thích hợp hơn
cho khách hàng thì nó có thể mang lãi suất theo thoả thuận. Hình thức này
mang tính chất đầu tư ngắn hạn, hấp dẫn các nhà kinh doanh nhỏ và hộ gia

- Tiền gửi bằng VNĐ
- Tiền gửi bằng ngoại tệ
Trên cơ sở xác định mức phí ngân hàng sẽ đưa ra lãi suất và kỳ hạn hợp
lý với từng loại tiền.
1.2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá huy động vốn
- Quy mô huy động vốn
Câu hỏi đầu tiên khi giới thiệu về một doanh nghiệp dù hoạt động trong bất
kỳ một lĩnh vực nào cũng đều là: Quy mô hoạt động như thế nào? Nhắc đến
ngân hàng thì quy mô đó chính là quy mô về vốn. Mục đích cuối cùng của họ
là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản, mà để làm được điều đó thì
phải mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu quả và chất lượng huy động vốn.
Mỗi ngân hàng có một quy mô và tốc độ thay đổi quy mô vốn khác nhau. Các
ngân hàng lớn có quy mô nguồn vốn lớn nhưng tốc độ tăng nguồn thường
không cao như các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở trung tâm hoạt động
tiền tệ tín dụng thường có quy mô và tốc độ tăng vốn cũng khác.
- Cơ cấu huy động vốn
19
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
Gia tăng nguồn vốn theo chuẩn mực nào đó là một chỉ tiêu phản ánh
chất lượng hoạt động của ngân hàng, là điều kiện cơ bản để ngân hàng mở
rộng quy mô hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn
vốn. Vì vậy các ngân hàng luôn phải lập cho mình một cơ cấu vốn hợp lý và
an toàn. Nguồn vốn có nhiều kỳ hạn khác nhau, mỗi loại có một đặc điểm
riêng, để xác định nguồn nào sử dụng cho chiến lược nào là hợp lý thì tuỳ
thuộc vào cách xác định của chủ ngân hàng. Khi ngân hàng thường xuyên huy
động nguồn vốn ngắn hạn, tính lỏng cao thì sẽ khó khăn trong việc cho vay
trung và dài hạn, Ngân hàng sẽ phải chuyển đổi kỳ hạn sao cho hợp lý nhất.
Xác định cơ cấu vốn thế nào cho phù hợp nhất với danh mục đầu tư, phong
tránh rủi ro thanh khoản luôn là yêu cầu cần thiết.

diều lệ quốc tế. Ngoài ra, lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực có nhân tố quyết
định đến toàn bộ nền kinh tế, hoạt động dưới sự chi phối của chính sách tiền
tệ quốc gia, tuỳ từng thời kỳ mà NHTW đưa ra các biên pháp và chính sách
nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ quốc gia. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.3.1.2 Môi trường kinh tế:
Tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh tế năng động là cơ sở để
ngân hàng vươn lên, cơ hội để ngân hàng có thể triển khai các hoạt động của
mình, cơ hội để nắm trong tay những công nghệ hiện đại và là cơ hội để hội
nhập với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên nó cũng đi đôi với những khó khăn
như khó khăn về cạnh tranh, khó khăn về khách hàng…
Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho hoạt động tạo vốn của
NH, hoạt động kinh doanh cũng được tiến hành thuận lợi hơn, có khả năng
phát triển cao hơn và ổn định hơn. Khi đó thu nhập cũng như tài sản mà người
lao đọng nắm giữ cũng sẽ lớn hơn, họ sẽ có nhiều tiền hơn đẻ gửi vào ngân
hàng và đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ thu hút được nhiều vốn hơn.
21
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22
Và ngược lại khi nền kinh tế gặp phải nhiều vấn đề, tình hình lạm phát
gia tăng, đồng tiền trong nước bị mất giá so với nước ngoài hay vì bất cứ một
lý do nào đó sẽ ;làm cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng thay đổi, rất
có thể người dân sẽ cho rằng nắm giữ vàng, đầu tư bất động sản… tốt hơn gửi
tiền vào ngân hàng.
1.3.1.3 Những nhân tố từ phía khách hàng
Khách hàng là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến huy động vốn. Quy mô
vốn huy đọng lớn là do có nhiều khách hàng đến gửi tiền tại ngân hàng hay
quy mô vốn huy động ít tức là phần lớn khách hàng đã không chon ngân hàng
là điểm đến của họ. Khách hàng chọn ngân hàng vì chất lương phục vụ tốt -
đến đây họ được chào đón một cách nhiệt tình nhất, được phục vụ một cách

phú như lãi tuần, lãi tháng, lãi năm… được triển khai liên tục và rất được
người dân và các tổ chức quan tâm. Ngoài ra trong lĩnh vực tiền gửi thanh
toán hay tiền gửi giao dịch cũng được nghiên cứu và bổ sung nhiều hình thức
phù hợp hơn.
1.3.2.2 Chính sách lãi suất huy động
Người dân gửi tiền vào ngân hàng bên cạnh mục đích cất trữ an toàn thì
lợi nhuận thu được lại là điều đầu tiên, là nhân tố quyết định. Ngân hàng nào
lãi suất cao, hấp dẫn thì vốn sẽ chảy vào đó. Khung lãi suất ngân hàng đưa ra
phụ thuộc vào mức lãi suất trần, lãi suất sàn theo quy định của NHTW và nó
được điều chỉnh theo chế độ của chính ngân hàng ấy. Lãi suất huy động còn
phải căn cứ và dựa trên lãi suất của nguồn sử dụng, hay cụ thể hơn đó là lãi
suất cho vay hay lãi suất đầu tư. Nhiều ngân hàng sử dụng nhiều hình thức lãi
suất khác nhau. Nhưng cạnh tranh theo lãi suất là loại hình cạnh tranh có
nhiều rủi ro và thường có giới hạn nên việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp là
yêu cầu đòi hỏi đối với từng ngân hàng.
Tuy nhiên để thu hút được lượng khách hàng lớn và duy trì đựơc mối
quan hệ lâu dài với họ thì ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất có tính chất
23
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24
cạnh tranh và linh hoạt, nhạy cảm nhất, hay có thể là thực hiện những ưu đãi
nhất định vế lãi suất cho các khách hàng tiềm năng.
1.3.2.3 Chính sách về Marketing Ngân hàng
Như ta đã biết, kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh nhạy
cảm, phụ thuộc chủ yếu vào uy tín và khả năng. Lĩnh vực huy động vốn
không ngoại lệ: khách hàng cho rằng lãi suât càng cao càng tốt thì họ sẽ lập
tức gửi vào ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất. Nhưng một khách hàng
khác lại thích gửi tiền vào một ngân hàng có uy tín, ngân hàng có thương hiệu
đã được khẳng định. Chính điều này đã đặt ra một yêu cầu cho hoạt động
Marketing trong NHTM tính đặc thù. Quá trình hình thành nên một sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status