Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
Lời nói đầu
Mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc ta đặt ra cho đến năm 2020 là phải hoàn
thành nhiệm vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc đa Việt Nam từ một nớc
nông nghiệp trở thành một nớc công nghiệp tiên tiến.
Để thục hiện đợc mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất
quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trởng kinh tế, mức tăng trởng kinh tế phụ
thuộc vào qui mô và hiệu quả vốn đầu t. Vì vậy để đáp ứng nhu cầu phát triển
và cạnh tranh các doanh nghiệp việt nam cũng đòi hỏi phải đợc mở rộng, phát
triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới dây truyền công nghệ, nâng cao chất l-
ợng hàng hoá, dịch vụ, vơn lên cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của các nớc
khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi vậy nhu cầu vốn đầu t cho nền kinh tế
ngày càng tăng. Một địa chỉ quen thuộc và tiện ích nhất mà ngời cần vốn nghĩ
đến đó là các Ngân hàng thơng mại.
Vốn cho đầu t phát triển có thể đợc tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên
trong điều kiện thị trờng tài chính nớc ta đang trong giai đoạn bớc đầu hình
thành và phát triển thì huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và
hiệu quả nhất. Ngân hàng thơng mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh
doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại vừa với danh
nghĩa là một tổ chức hạch toán kinh tế - kinh doanh, vừa với vai trò trung gian
tài chính. Với vai trò trung gian tài chính, Ngân hàng thơng mại tập trung mọi
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu
cầu đầu t, sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp và cá
nhân, tổ chức trong nền kinh tế theo các nguyên tắc tín dụng.
Nhu cầu vốn đầu t ngày càng tăng của nền kinh tế cũng tơng đơng với
việc huy động vốn của các Ngân hàng thơng mại phải đợc tăng cờng, mở rộng
cho phù hợp. Mặt khác việc tăng cờng huy động và sử dụng vốn hợp lý cũng
giúp cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đợc an toàn, hiệu quả hơn.
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày càng
tăng và đòi hỏi phải đợc đáp ứng nhanh chóng kịp thời. Do vậy, trong thời gian
hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách
của nền kinh tế và đời sống con ngời. Mọi công dân đều chịu tác động từ các
hoạt động của Ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một ngời vay hay
đơn giản là ngời đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng
các dịnh vụ Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng
hoá trong kinh tế thị trờng, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền
kinh tế. Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng hầu
nh là giống nhau song quan niệm về ngân hàng lại không đồng nhất giữa các n-
ớc trên thế giới.
1.1.1. NHTM và vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.1.1. Khái niệm.
Để đa ra đợc một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, ngời
ta thờng phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài
chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tuợng hoạt động. Ví
dụ: Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: Ngân hàng là
những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thờng xuyên nhận của công chúng d-
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
ới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào
các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay theo nh Luật
Ngân hàng của ấn Độ năm 1959 đã nêu: Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản
tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu t...
Nh vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM,
nó tuỳ thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhng
khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, ngời ta dễ dàng
nhận thấy rằng: Tất cả các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận
tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ
cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng.
Trên thế giới các ngân hàng thơng mại hoạt động với chức năng, nghiệp
thực hiện đối với các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng
cá nhân. Số lợng các giao dịch của ngân hàng bán lẻ lớn song giá trị một giao
dịch thờng nhỏ.
* Căn cứ theo cơ cấu tổ chức
Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty. Sự phân
chia này là do pháp luật ở nhiều nớc cấm không cho ngân hàng trực tiếp tham
gia vào một số hoạt động kinh doanh nh: buôn bán chứng khoán, bất động
sản... nên các ngân hàng tổ chức ra các công ty riêng, có t cách pháp nhân để
kinh doanh.
Việt Nam, với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mọi
ngời đợc tự do kinh doanh, bình đẳng trớc pháp luật. Nhà nớc ta quan niệm:
(Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng của Việt nam ban hành 02/ 1997/QH
10) Ngân hàng th ơng mại là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ,
làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán .
*Hiện nay, ở Việt Nam có các loại hình ngân hàng sau:
- Ngân hàng thơng mại quốc doanh: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo
trong hệ thống ngân hàng ở nớc ta. Các ngân hàng này đợc nhà nớc cấp vốn và
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
hoạt động chịu sự quản lý của nhà nớc. Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình
thờng: huy động vốn, cho vay và các dịch vụ khác, ngân hàng còn phải thực
hiện các nhiệm vụ khi nhà nớc giao cho. Hiện nay có các ngân hàng thơng mại
quốc doanh sau: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng
Ngoại Thơng Việt Nam, Ngân hàng Công Thơng Việt Nam, Ngân hàng Đầu T
và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển nhà
đồng bằng sông Cửu Long.
- Ngân hàng thơng mại cổ phần: Đây là các ngân hàng đợc thành lập và hoạt
xuất hiện ngời thì có vốn nhàn rỗi, ngợi thì cần vốn để tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh. Điều này giải quyết bằng cách nào? NH thơng mại ra đời
là chìa khoá giúp cho ngời cần vốn có đợc vốn và ngời có vốn tạm thời nhàn rỗi
có thể kiếm đợc lãi từ vốn. Các ngân hàng cũng cân đối đợc vốn trong nền kinh
tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển. Các ngân hàng đứng ra
huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ
cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại
hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn. có lợi nhuận cao hơn. Xã hội càng phát triển nhu
cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng
đợc. Chỉ có ngân hàng - một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra
điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát
triển nhịp nhàng, cân đối.
b. Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trờng
Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp không phải là cứ sản xuất
bất cứ cái gì mà phải luôn trả lời đợc 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất nh thế
nào ? và sản xuất cho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của thị trờng. Thị
trờng yêu cầu các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm với chất lợng tốt
hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng. Để đợc nh vậy
các doanh nghiệp phải đợc đầu t bằng dây truyền công nghệ hiện đại, trình độ
cán bộ, công nhân lao động phải đợc nâng cao... Những hoạt động này đòi hỏi
doanh nghiệp phải có một lợng vốn đầu t lớn và để đáp ứng đợc thì chỉ có các
ngân hàng. Ngân hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp thực hiện đợc các cải tiến
của mình, có đợc các sản phẩm có chất lợng, giá thành rẻ, nâng cao năng lực
cạnh tranh.
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
c. NHTM là công cụ đièu tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, NHTM với t cách là trung tâm tièn tệ của
toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát tiển hài hoà cho tất cả các thành phần
kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự giao
vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo
nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xem
lẫn nhau trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống
nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.2.1. Nghiệp vụ huy động vốn.
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
* Nghiệp vụ tiền gửi:
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền
gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản
mà từ đó NHTM có thể huy động đợc. Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động
các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình đợc gửi vào ngân hàng
với mục đích bảo quản hoặc hởng lãi trên số tiền gửi.
* Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có
tính thời hạn tơng đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu t, khả năng
cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế.
Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cờng
tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
* Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay đợc các NHTM sử dụng thờng xuyên nhằm mục đích
tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trờng
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nớc dới các hình thức tái chiết khấu hay vay có
đảm bảo... Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nớc chủ yếu nhằm tạo sự
cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối
đợc nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
* Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo
Nghiệp vụ cho vay có thể đợc phân loại bằng nhiều cách: theo thời gian có cho
vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn, theo hình thức đảm bảo có cho
vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo, theo mục đích có cho vay bất
động sản, cho vay thơng mại, cho vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay
thuê mua...
* Nghiệp vụ đầu t tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động đợc
từ dân c, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu t vào nền kinh tế dới các hình
thức nh : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng... và trực
tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu t đó.
* Nghiệp vụ khác
Ngân hàng thơng mại thực hiện các hoạt động king doanh nh: kinh
doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ t vấn, dịch
vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; king doanh và dịch vụ bảo hiểm...
1.1.2.3. Nghiệp vụ trung gian khác
Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản trên ngân hàng còn thực hiện một số nghiệp
vụ khác nh:
* Dich vụ trong thanh toán: Có thể nói ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế.
Các doanh nghiệp , tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
hoặc bán hàng hoá và dịch vụ bởi việc thanh toán sẽ đợc ngân hàng thực hiện
một cách nhanh chóng và chính xác.
* Dịch vụ t vấn, môi giới: Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng
khoán, t vấn cho ngời đầu t mua bán chứng khoán, bất động sản...
* Các dịch vụ khác: Ngân hàng đứng ra quản lý hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền;
cho thuê két sắt, bảo mật...
1.2. Vốn của ngân hàng thơng mại
1.2.1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thơng mại
Ngân hàng thơng mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức
1.2.2.1. Vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng
có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà
cửa...Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trớc hết nó tạo uy tín cho chính ngân
hàng. Ngân hàng có to, đẹp, bề thế thì mới tạo đợc cảm giác an toàn kho khách
hàng khi đến giao dịch. Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ
hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của
chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trờng.
a. Nguồn vốn hình thành ban đầu
Trớc khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngân hàng
phải có một lợng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ). Tuỳ
theo hình thức sở hữu, do nhà nớc cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, do cổ
đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần, do các bên đóng góp nếu là ngân
hàng liên doanh và của cá nhân nếu là ngân hàng t nhân.
b. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng không ngừng đợc tăng lên theo thời gian
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
nhờ có nguồn vốn bổ sung. Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát
hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm...Nguồn vốn bổ sung này tuy không th-
ờng xuyên song đối với các ngân hàng lớn từ lâu đời thì nguồn bổ sung này
chiếm một tỷ lệ rất lớn.
c. Các quỹ
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quĩ có một mục
đích riêng: Quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ
phúc lợi, quĩ khen thởng...Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận.
Các quỹ này thuộc toàn quyền sử dụng của ngân hàng.
d. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi
thành cổ phần thì đợc coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân
huy động đa dạng nh tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi
suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để ngời gửi có nhiều cơ hội lựa
chọn cho phù hợp, tiện ích nhất.
d. Tiền gửi của các ngân hàng khác
Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thờng nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có
tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán
thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.
1.2.2.3. Vốn đi vay
Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi
vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc... Các ngân hàng có thể
vay ở:
a. Vay ngân hàng Nhà nớc ( ngân hàng trung ơng )
Khi các ngân hàng thơng mại có nhu cầu cấp bách về vốn thì ngời dang
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ơng. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu
( hay tái cấp vốn ). Các ngân hàng thơng mại sẽ mang các trái phiếu mà mình
đã chiết khấu lên ngân hàng trung ơng để tái chiết khấu. Thông thờng các ngân
hàng trung ơng chỉ cho tái chiết khấu những trái phiếu có chất lợng, thời hạn
ngắn và phù hợp với mục tiêu của Nhà nớc trong từng thời kỳ.
b. Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là các khoản vay mợn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân
hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trờng liên ngân hàng. Hình thức vay
này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay
hoặc thông qua ngân hàng đại lý. Các khoản vay có thể không cần thế chấp
hoặc thế chấp bằng các chứng khoán của kho bạc. Các khoản vay này thông th-
ờng có thời hạn ngắn chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời.
c. Vay trên thị trờng vốn
Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
trên thị trờng vốn để huy động vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu
đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn đợc vận động, quay vòng.
Đối với những ngời cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu t, phát triển
sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có đợc sự cân đối
về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu t luôn có điều kiện để
thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ đợc thực hiện dễ dàng hơn với việc
huy động vốn của các ngân hàng thơng mại. Tuy việc huy động vốn có thể thực
hiện bằng nhiều kênh: thị trờng chứng khoán, ngân sách nhà nớc...nhng trong
điều kiện nớc ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân hàng thơng mại vẫn là
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.2.3.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại.
a. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Để bớc vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có
vốn. Ngoài lợng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn
khác. Ngân hàng đi vay để cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có
thứ để mà cho vay. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng.
Đối với những ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ
dàng hơn các ngân hàng nhỏ. Vốn không chỉ là phơng tiện kinh doanh mà còn
là đối tợng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thơng mại. Nói cách khác,
không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện đợc các nghiệp vụ kinh doanh
của mình.
b. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của
ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng.
Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có u thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có
đợc nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đa ra các hình thức tín dụng linh
hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân
hàng lớn, nhiều vốn thờng có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi hoạt
1.3.1. Phân loại căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó
liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy
động cũng nh thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy
động đợc chia thành:
1.3.1.1. Huy động ngắn hạn
Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thơng mại thông
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ và các nghiệp
vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán....Phần lớn số này đợc dùng để
cho vay ngắn hạn ( dới 1 năm ) hoặc đợc chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho
vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thờng thấp,
tuy nhiên tính ổn định lại kém.
1.3.1.2. Huy động trung hạn
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ
trung hạn trên thị trờng vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn
huy động này ngân hàng có thể sử dụng tơng đối dài và thuận tiện. Tuy nhiên
lãi suất huy động nguồn này thờng cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động
trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu
t, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
1.3.1.3. Huy động dài hạn
Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trờng vốn,
với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao
( từ 5 năm trở lên ). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao.
1.3.2. Phân loại căn cứ theo đối tợng huy động
1.3.2.1. Huy động vốn từ dân c
Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân
hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến
cho những ngời cần vốn để mở rộng đầu t, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu đợc các ngân hàng thơng
mại sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự
thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao
gồm:
1.3.3.1. Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
a. Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là phần tiền huy động tơng đối quan trọng ở những nớc phát triển có
tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này
không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền
phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn
bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Ngời gửi tiền có thể rút tiền
ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho ngời thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt
hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc. Đặc biệt ngời gửi tiền có thể không
cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động
( máy ATM ). Ngân hàng thờng bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản:
tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có
toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhng chỉ trong phạm vi số d tiền gửi.
Loại tài khoản này luôn luôn có số d có.
+ Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể d có hoặc d nợ, thờng đợc sử
dụng cho các tổ chức kinh tế. Số d có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số
d nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng
nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho ngời gửi tiền là rất thấp, thậm chí không
phải trả lãi. Tuy nhiên ở nhiều nớc có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp
( trong đó có Việt Nam ) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả
lãi cho tiền gửi này ( có những thời điểm đợc trả ngang bằng với lãi suất tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn ). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu
ra trớc thời hạn. Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ
hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế...
- Tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài.
Loại hình này khá phổ biến ở những nớc phát triển nhng ở nớc ta còn
Luận văn tốt nghiệp Trần Ngọc Anh - TCDN 41D
khá mới mẻ. Ngời gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉ đợc rút ra khi
đến hạn ( thời hạn tơng đối dài ). Loại hình này giúp cho ngân hàng có nguồn
vốn ổn định để có thể đầu t trung và dài hạn.
1.3.3.2. Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trờng kinh
doanh đầy biến động nh hiện nay. Các ngân hàng thơng mại có thể vay từ nhiều
nguồn:
a. Vay từ các tổ chức tín dụng
Đó là các khoản vay thông thờng mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị
trờng liên ngân hàng hay thị trờng tiền tệ. Các ngân hàng thờng xây dựng các
mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân
hàng trung ơng.
b. Vay từ ngân hàng trung ơng
Khi ngân hàng thơng mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay
mất khả năng thanh toán thì ngời cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là
ngân hàng trung ơng. Ngân hàng trung ơng cho vay dới hình thức tái chiết khấu
thơng phiếu. Các ngân hàng thơng mại có thể mang các thơng phiếu lên ngân
hàng trung ơng để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do
ngân hàng trung ơng chỉ cho ngân hàng thơng mại một hạn mức tái chiết khấu
và việc cho vay này lại nằm trong định hớng của chính sách tài chính quốc gia.
Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sung vốn cho ngân hàng thơng mại cực
kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định.
1.3.3.3. Huy động qua phát hành các công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng
đặt ra cho chúng ta là phải nhận thức đợc những yếu tố tác động đến việc huy
động vốn. Những tác động này rất phong phú, đa dạng. Dựa vào bản chất của
các tác động ta chia các yếu tố đó thành những yếu tố khách quan và các yếu tố
chủ quan.