LờI NóI đầu
Nền kinh tế nớc ta có nhiều thay đổi lớn, sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hóa đất nớc vẫn đang đợc tiếp tục thực hiện với nhiều thành công rực
rỡ. Tuy nhiên để tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi tổng sản lợng quốc
dân đến năm 2005 mà Đảng ta đề ra, chúng ta cần phải có khoảng 250 ngàn tỉ
đồng vốn đầu t. Vì vậy, triển khai giải quyết vốn là vấn đề hết sức cấp bách cho
nền kinh tế.
Để có đợc số vốn lớn này, tốt hơn hết là vốn đợc huy động từ trong nớc
qua kênh ngân sách và hệ thống tín dụng. Chính vì lẽ đó việc mở rộng và nâng
cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng thơng mại nói
riêng và của hệ thống tín dụng nói chung rất đợc coi trọng và đợc xem nh là
một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của
hệ thống tín dụng.
Nhìn vào tình hình huy động vốn của các tổ chức tín dụng tiêu biểu là
của các ngân hàng thơng mại trong ngân hàng trong những thời gian vừa qua,
ta có thể thấy đợc những kết quả bớc đầu đáng khích lệ, tuy nhiên nó cũng còn
nhiều mặt tồn tại cần giải quyết và nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác
này.
Trên cơ sở lý luận đợc học tại trờng và kinh nghiệm thực tiễn thu đợc
trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Công thơng Hoàn Kiếm và với t cách là
một sinh viên tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này thông qua
đề tài : Một số biện pháp tăng cờng huy động vốn tại Ngân hàng Công th-
ơng Hoàn Kiếm.
Qua đây, tôi cũng đa ra một vài biện pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và
nâng cao hiệu quả hoạt động này tại Ngân hàng Công thơng Hoàn Kiếm.
Bài viết này đ ợc trình bầy làm 3 ch ơng :
Chơng I : Vai trò của nguồn vốn trong hoạt
động của Ngân hàng thơng mại.
Chơng II : Thực trạng huy động vốn tại Ngân
hàng Công thơng Hoàn Kiếm.
vật chất cho xã hội. Qua đó đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế mà tình hình
hoạt động của Ngân hàng phản ánh rất chính xác tình hình nền kinh tế, sự vững
3
mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền kinh tế đợc phản ánh rất rõ qua hoạt
động của Ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại ra đời nh một đứa con u tú nhất của nền kinh tế
hàng hoá và chính Ngân hàng thơng mại đến lợt mình đã ghóp phần quan trọng
vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Ngân hàng thơng mại đầu tiên đợc thành lập vào năm 1782 và đã có rất
nhiều Ngân hàng đợc thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt
động chứng rỏ sức sống bền bỉ và sự tồn tại khách quan của các NHTM. Trong
các định chế tài chính thì NHTM là định chế quan trọng nhất vì nó giữ phần
lớn của xã hội.
Hệ thống NHTM : Bao gồm các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần,
Ngân hàng t nhân với chức năng chính là kinh doanh thông qua hoạt động
trung gian tài chính và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng. Hệ thống Ngân hàng
thơng mại hoạt động dới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nớc thông qua các quy
chế, quy định về hoạt động và thông qua việc thực hiện các văn bản, chế độ của
Ngân hàng Nhà nớc để thực hiện các định hớng trong chính sách tiền tệ tài
chính của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, hệ thống NHTM có nhữn đòn bẩy tác động
quan trọng đến sản xuất và lu thông đó là : tiền mặt, tín dụng, lãi suất ...
NHTM có một loên hệ vừa bao quát, vừa thâm nhập vào từng đơn vị cơ sở của
nền kinh tế.
NHTM đã có mạng lới rộng khắp địa bàn sản xuất phân phối lu thông,
tiêu dùng trong cả nớc. Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và có vai trò
quan trọng về tiền tệ, tín dụng, thanh toán giữa nớc ta với nớc ngoài.
Với mô hình tổ chức trên, hoạt động của NHTM bao gồm những nội
dung chủ yếu sau :
sức lớn và không ngừng tăng lên.
5
Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu
phải có vốn để tăng tốc đầu t, từng bớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tho chiều h-
ớng công nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trởng kinh tế
nhanh và lâu bền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới.
Đối với Ngân hàng thơng mại, nó thể hiện đợc sự đáp ứng này đối với
nền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :
1) Ngân hàng th ơng mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế :
Nh chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa
và sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó ngời
thì thừa tiền, trong khi lại có những ngời cần tiền. Đối với những ngời, những tổ
chức có tiền tạm thời nhãn rỗi, thì vấn để đối với họ là làm sao bảo quản đợc số
tiền đó đợc an toàn và nếu có thể sinh lợi đợc thì càng tốt. Nhng để thực hiện đ-
ợc điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng, vào mối quan hệ của từng ngời, và
thông thờng những ngời có tiền tạm thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những ngời
hay những tổ chức đang có nhu cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định
chứ không trực tiếp đầu t vào sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền
mặt. Tuy nhiên điều này hầu nh rất khó thực hiện đợc. Do vậy, trong xã hội
luôn luôn tồn tại mâu thuẫn này. Xét về mặt kinh tế thì lợng tiền này nếu đợc
tập trung lại để cho vay với những ngời đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh
tế cho cả ngời có tiền nhàn rỗi và ngời có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại
hiệu quả kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thơng mại chính là
ngời thực hiện chức năng cầu nối này.
6
2) Ngân hàng th ơng mại với hoạt động của mình ghóp phần
tăng c ờng hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh
thời tăng lãi suất ở đầu ra để hạn chế lợng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế có
lạm phát cao, hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngợc lại khi nền kinh tế có
hiện tợng giảm sút. Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho vay
nh trên, Ngân hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn chặn đ-
ợc sự tăng giá đột ngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.
5) Ngân hàng th ơng mại là cầu nối giữa kinh tế trong n ớc và
ngoài n ớc, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong n ớc hòa nhập với
nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế trên thế giới.
Một Ngân hàng thơng mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi với
rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động đợc vốn từ các cá nhân, tổ
chức ngoài nớc hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm bảo đợc vốn
cho nền kinh tế trong nớc, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nớc có
thể mở rộng hoạt động của họ ra nớc ngoài một cách có hiệu quả hơn, thông
qua hoạt động thanh toán quốc tế, t vấn tài trợ xuất nhập khẩu. Ngân hàng có
thể làm đại lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng nớc ngoài qua đó giúp các tổ
chức kinh tế trong nớc có thể vau vốn các tổ chức này để nhập công nghệ cao,
nang cao chất lợng sản phẩm đủ sức cạnh trạnh với thị trờng quốc tế.
Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng thơng
mại hoạt động trong cơ chế thị trờng. Trên góc độ một sinh viên nghiên cứu về
hoạt động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt động huy động vốn
ta sẽ xem xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy động vốn của một Ngân
hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
8
Iii - cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại :
Cũng giống nh mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt động
đợc trớc hết phải có vốn. Nhng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặc
biệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân hàng thơng
mại là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại bao gồm :
1) Nguồn vốn tự có :
trì việc huy động vốn vì mục đích giữ khách hàng. Còn về phía bên Ngân hàng
thiếu vốn do thị trờng đầu ra mở rộng trong khi thị trờng đầu vào không thể mở
rộng đợc hơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn. Chính lúc này Ngân hàng trung
ơng hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối chuyển vốn từ nơi thừa
sang nơi thiếu trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp
Ngân hàng có thể mở rộng đợc thị trờng đầu ra trong điều kiện thị trờng đầu
vào vẫn còn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.
4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà n ớc:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nớc thông qua hình
thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt của
khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá nh : tín phiếu, trái phiếu kho
bạc Nhà nớc, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo
kảh năng thanh toán của Ngân hàng.
+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :
10
Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nớc đang phát
triển, bởi vì ở các nớc này Ngân hàng muốn có đợc vốn ở nguồn này phải đợc
phép của Ngân hàng Nhà nớc và thờng dới hình thức vay theo hiệp định.
5) Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể hoạt
động để cho vay. Đây là số tiền Ngân hàng nhận đợc dới nhiều hình thức khác
nhau.
- Nhận tiền gửi của khách hàng.
- Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng.
- Vốn phát hành.
Ngân hàng có quyền sử dụng số tiền này để phục vụ cho các mục đích
của mình. Nếu nh trong thời kỳ bao cấp, việc huy động vốn của Ngân hàng
một thời gian nhất định.
- ở giai đoạn hoàn trả: Đây có thể nói là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn của nguồn vốn huy động. Sau khi vốn mà ngân hàng đã huy động
tham gia hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì ngân
hàng hoàn trả cho các tổ chức kinh tế và dân c.
Mác viết: Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay ngời sở hữumột thời gian
và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay ngời sở hữu sang tay nhà t bản
hoạt động. Tiền chỉ đem nhợng lại với một điều kiện là sẽ quay trở về điểm
xuất phát sau một thời gian nhất định
( Các Mác- t bản quyển 3 tập 2 trang 57).
Nh vậy, hoàn trả là đặc trng thuộc về bản chất vận động của vốn tín
dụng. Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay trở
về giá trị. Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dới hình thức giá
trị. Tuy nhiên sự vận động đó không phải vơí t cách là phơng tiện lu thông mà
12
với t cách là một lợng giá trị vận động. Chính vì lý do đosự hoàn trả luôn đợc
bảo tồn về mặt giá trị và phần tăng thêm dới hình thức lợi tức. Ngay cả trong
điều kiện lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải đợc bảo đảm và tôn
trọng thông qua cơ chế điều tiết bằng lãi xuất.
2. Những nhân tố ảnh h ởng đến quy mô nguồn vốn huy động.
Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu đợc hình thành thông qua quá
trình tập trung một bộ phận tiền tệ của dân c, của các đơn vị kinh tế . Do vậy
hoạt động huy động vốn của một ngân hàng thơng mại chịu tác động của rất
nhiều yếu tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô đến các yếu tố ở tầm vi mô.
Trong đó các yếu tố chính yếu đợc phân tích nh sau:
a. Yếu tố lãi xuất huy động:
Không phải ngân hàng cứ đa ra đợc mức lãi xuất cao là có thể thu hút đ-
ợc vốn nhàn rỗi của dân c mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi xuất cụ thể do ngân
hàng đa ra sẽ đem lại cho ngời gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu, điều đó
chịu ảnh hởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm. Nếu có tiết kiệm sẽ làm tăng khối l-
ợng tiền nhàn rỗi trong xã hội, qua đó có thể làm tăng quy mô và chất lợng
công tác huy động vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên, bản thân yếu tố tiết kiệm
chịu sự tác động của các yếu tố khác nh :
*0 Tâm ly ng ời tiêu dùng trong dân c : Yếu tố này ảnh hởng rất lớn đến
yếu tố tích kiệmm, bởi vì tâm lý tiêu dùng của dân rất khác nhau giữa các vùng,
các địa phơng và các quốc gia. Có thể với cùng một mức thu nhập, cùng một
giá sinh hoạt nh nhay nhng ở nơi này lợng tiền bỏ ra vào tiết kiệm rất lớn nhng
ở nơi khác lại rất nhỏ do tâm lý thích tiêu dùng của dân c ở đây. Chính vì lẽ đó
thu nhập cao cha hẳn tiết kiệm đã cao.
14
*1 Thu nhập của dân c : Dân c có thu nhập càng cao thì khối lợng tiền
dành cho tiết kiệm có thể cũng tăng nhiều, bởi vì với mức thu nhập lớn thì khả
năng thoả mãn các nhu cầu thiết yếu sẽ cao hơn và do đó sẽ có nhiều khoản tiết
kiệm hơn
d) Một số yếu tố khác:
*2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng : Nếu hình thức này mà
Ngân hàng đa ra càng phong phú, đa dạng, linh hoạt và thuận tiện thì khả năng
thu hút vốn đầu t từ trong nền kinh tế càng lớn. Tuy nhiên, mức độ đa dạng của
các hình thức huy động mà Ngân hàng đa ra còn phụ thuộc rất lớn vào đặc
điểm kinh tế khu vực, vào khả năng của Ngân hàng, chính vì vậy mà Ngân
hàng cần phải lựa chọn xem hình thức huy động nào là mang tính hiệu quả cao
nhất.
*3 Các dịch vụ kèm theo : Ngân hàng cũng là hoạt động dịch vụ, nhng
dịch vụ kèm theo các nghiệp vụ chính của nó không vì thế mà mất đi séc hấp
dẫn, trong công tác huy động vốn Ngân hàng nào tổ chức tốt đợc công tác dịch
vụ kèm theo các hình thức tổ chức huy động của mình sẽ có khả năng thu hút
đợc nhiều khách hàng hơn và việc tổ chức tốt công tác dịch vụ kèm theo trong
công tác huy động vốn nói riêng, trong hoạt động của Ngân hàng nói chùng đ-
chính tín dụng
Tiền gửi của
khách hàng
Vốn phát hành
Nguồn vốn huy động của
Ngân hàng thương mại
Tiền tiết
kiệm
Tiền ký
gửi
Phát hành
trái phiếu
Phát hành kỳ
phiếu
Ký gửi có
kỳ hạn
Ký gửi không
kỳ hạn
Gửi rút ra phải
báo trước
Gửi để dành
có hạn
vàng, ngời ta đã thuê sở đúc tiền giữ hộ và sở này sẽ có một khoản thu nhập từ
việc bảo quản tiền vàng. Đây là hình thức ban đầu của nghiệp vụ ký gửi.
Hiện nay có rất nhiều loại tiền ký gửi. Đó là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong tài khoản của các cơ quan xí nghiệp. Để có đợc tuận lợi trong sản xuất
kinh doanh các cơ sở kinh tế có thể lựa chọn một hay nhiều Ngân hàng thơng
mại để giao dịch nhằm giải quyết việc thu chi chuyển tiền thanh toán và các
dịch vụ tài chính khác.
suất này do chủ tài khoản và Ngân hàng phải trả cho đơn vị (nếu tài khoản d
có), hai lãi suất này di chủ tài khoản và Ngân hàng thoả thuận trớc và lãi suất
trả cho số d nợ luôn lớn hơn lãi suất trả cho số d có. Chính vì vậy mà khách
hàng luôn tìm cách bỏ tiền vào tài khoản nhằm giảm mức d nợ đến mức thấp
nhất, từ đó làm tăng nguồn vốn của Ngân hàng.
Trong những năm qua ý nghĩa của tiền gửi không kỳ hạn ở Ngân hàng
tăng lên rõ rệt. Nếu trớc đây những tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng chủ yếu của
doanh nghiệp và của những ngời thu nhập cao thì ngày nay đa số công nhân
viên chức đều có tài khoản tiết kiệm bởi vì một mặt các công ty, xí nghiệp hợp
lý nhất là trả lơng không bằng tiền mặt, thêm vào đó ngân hàng thơng mại lại
có rất nhiều dịch vụ giúp cho chủ tài khoản thanh thanh toán kịp thời nhanh
chóng các tài khoản chi tiêu thờng kỳ của họ nh : tiền thuê nhà, thuê bao điện
thoại, nộp thuế ...
Do đó tiền gửi không kỳ hạn đã trở thành một nguồn cho vay hết sức
quan trọng đồng thời cũng đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
*5 Tiền g ửi có kỳ hạn : là loại tiền gửi không dùng để thanh toán mà chủ
yếu là để kiếm lời cao. So với tiền gửi vãng lai thì loại tiền gửi này có thời hạn
gửi tiền dài hơn thông thờng ít nhất là 1 tháng. Tiền gửi có kỳ hạn đối vơi snhh
là số tiền gửi đến một ngày nhất định mới phải trả lại cho khách hàng. Điều này
giúp cho Ngân hàng nắm đợc vốn trong các thời kỳ đã có kế hoạhc cho vay
không phải tồn quỹ cao để đề phòng sự rút vốn bất thờng. Đo đó việc sử dụng
19
nguồn vốn này cho vay rất hiệu quả, vì vậy lãi suất trả cho tiền gửi có kỳ hạn
cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với tiền có kỳ hạn đến hạn mới đợc lấy ra, nếu xét về nguyên tắc.
Tuy nhiên trong trờng hợp ngoại lệ ngời gửi muốn rút tiền ra trớc thời hạn,
trong trờng hợp này có 2 cách giải quyết.
*6 Hoặc ngời gửi tiền ấy đợc vay của Ngân hàng một khoản tiền mà họ
cần, sau đó khi đến hạn trả tiền sẽ sử dụng tiền đó để hoàn trả cho Ngân hàng.
*9 Gửi tiền không kỳ hạn : đây là hình thức gửi tiền mà thời hạn rút do
bên ngời gửi và Ngân hàng tự thoả thuận. Đối với tiền gửi này các Ngân hàng
thuộc cấc thành phần nh nhân dân lao động, công nhân viên chức, học sinh, các
khoản tiền này chủ yếu là để dành dụm nhằm trang trải chi tiêu cần thiết, đồng
thời có một khoản tiền lãi bù đắp co sịnh hoạt hàng ngày. Trong trờng hợp đa
số thời hạn báo trớc là một vài ngày kể từ sau thời hạn thoả thuận rút tiền ban
đầu.
Qua một số điểm phân tích ta thấy, với loại tiền gửi có kỳ hạn thì Ngân
hàng có thể dự tính đợc toàn bộ các vấn đề phát sinh đối với khoản tiền này nh-
: khi nào phải trả tiền và sử dụng bao nhiêu và trong bao lâu theo các thời hạn
khác nhau cho Ngân hàng chủ động biết đợc thời hạn của ngời gửi tiền và do
tính thời hạn ổn định của loại tiền gửi này. Trong khi đó với loại tiền gửi
không kỳ hạn, thời hạn rút tiền không ổn định do khách hàng có thể rút tiền
vào bất cứ lúc nào, nếu họ cần vì vậy Ngân hàng không thể sự dụng toàn bộ số
tiền này để cho vay mà chỉ dùng một phần mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn, số
còn lại thờng thì Ngân hàng đầu t vào cầm cố bất động sản, vào mua chứng
khoán, công trái nhà nớc ... đễ dễ dàng nhanh chóng chuyển để thanh thanh
toán bằng tiền mặt. Chính vì vậy mà lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn luôn cao hơn
21
lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn và Ngân hàng làm nh vậy là nhằm tăng cờng
khối lợng vốn ổn định cho mình.
Trên đây là các hình thức huy động vốn từ dân c và các tổ chức kinh tế
trong khuôn khổ nguồn tiền ký gửi và tiết kiệm. Hiện nay, ở các nớc trên thế
giới (kể cả Việt Nam) ngời ta cho rằng vận động nhân dân gửi tiết kiệm là một
trong các nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng. Bởi vì nếu huy động đợc nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân c sẽ có tiền cấp phát cho phát triển công nghiệp, nông
nghiệp, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh các hình thức huy động vốn nh trên, Ngân hàng thơng mại còn
một số hình thức huy động tiền tiết kiệm của dân c nh :
hoạt động , do đó khó khăn chung về nguồn vốn vủa cả hệ thống và thiều các
định chế thích hợp.
3.3. Vốn phát hành:
Vốn phát hành của Ngân hàng thuộc loại : chủ động thu gom đây là
hình thức huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Những hình thức
huy động vốn ở trên đựoc xếp vào loại bị động thu gom. Xét về bản chất thì
hai loại này không khác nhau nhiều, tuy nhiên nó khác nhau ở chỗ :
*10 Lãi suất vốn chủ động đi vay cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
*11 vốn chủ động đi vay đợc huy động theo sáng kiến của từng Ngân
hàng, đây là khoản tiền nhận gửi có bảo đảm ché không phải tiền gửi đơn
thuần. Vốn này cũng thuộc loại tín dụng dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
Với loại vốn chủ động đi vay Ngân hàng hoàn thanh toánàn tự chủ về
mặt thời hạn hoàn trả do đó có thể sử dụng cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn
là tuỳ thuộc vào thời hạn của vốn vay và mặc dù lãi suất xao hơn thông thờng
Ngân hàng vẫn đợc lợi nhiều từ hình thức huy động này.
Tóm lại, với những hình thức huy động vốn nh trên của Ngân hàng thơng
mại, các Ngân hàng có thể thực hiện đợc việc kết hợp giữâ huy động vốn và
23
cho vay một cách nhịp nhành. Do đó, nếu thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của
mỗi hình thức huy động vốn nói trên, Ngân hàng có thể vừa mở rộng đuợc thị
trờng đầy vào đồng thời mở rộng đợc luôn thị trờng đầu ra cho mình, bảo đảm
cho Ngân hàng luôn luôn nắm đợc thế chủ động trong kinh doanh kinh doanh.
Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế, đặc điểm của từng khu
vực hoạt động và đặc điểm của từng Ngân hàng mà các hình thức huy động này
đuợc biến đổi và thực hiện cho phù hợp.
Để thấy rõ hơn đợc hoạt động này tại Việt Nam, ta sẽ đi sâu vào xem xét
thực tế của hoạt động huy động vốn tại một Ngân hàng thơng mại cụ thể, đó là
Ngân hàng công thơng Hoàn Kiếm.
24