Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Nớc ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa trong xu hớng hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu. Một trong những vấn đề có vị thế quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp
mà chúng ta đang theo đuổi đó là vấn đề về nguồn lực, vấn đề vốn - vấn đề thuộc
cơ sở hạ tầng mềm cho đầu t phát triển. Đây là vấn đề mang tính cấp thiết, đầy
biến động đòi hỏi phải xây dựng, phát triển và thờng xuyên đợc xử lý, điều chỉnh
nhằm đáp ứng đợc nhu cầu vốn của nền kinh tế, giải quyết đợc những thiếu hụt
trong chi tiêu của Chính phủ. Vậy thì giải pháp nào cho huy động vốn; chúng ta
phải có những phơng án, quyết sách cụ thể mang tính chiến lợc trong dài hạn
nhằm thõa mãn nhu cầu về vốn cũng nh nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền
kinh tế.
Chúng ta không chỉ đơn thuần xem nguồn lực, nguồn vốn là tiền mặt, mà
phải xem xét nguồn vốn bao gồm cả dới dạng vật chất và phi vật chất đợc biểu
hiện bằng tiền. Hoạt động huy động vốn không chỉ đơn thuần là thu hút mọi
nguồn lực mà còn đi đôi với việc chọn lọc và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả
nhất. Việc xây dựng một thị trờng tài chính tầm cỡ cũng nh tạo một hành lang
pháp lý thông thoáng, an toàn chính là điều kiện cần để chúng ta có thể thu hút các
nguồn nội ngoại lực phục vụ cho đầu t phát triển. Vấn đề hình thành và phát triển
thị trờng tài chính trong đó nòng cốt là ngân hàng thơng mại, tổ chức chiếm vị trí
quan trọng trong các chính sách về huy động vốn của Đảng và Nhà nớc ta trong
thời kì kiện nay. Ngân hàng thơng mại gánh trên vai trọng trách to lớn tiếp tục
hoàn thiện và phát triển thị trờng tài chính, làm tốt chức năng là kênh dẫn vốn cho
nền kinh tế thông qua việc khơi thông các dòng vốn, di chuyển vốn từ nơi có hiệu
quả đầu t thấp sang nơi có hiệu quả đầu t cao hơn; mặt khác ngân hàng thơng mại
với chức năng của mình cần phải có biện pháp thích hợp tập trung mọi nguồn vốn
còn tạm thời nhàn rỗi trong dân c và các tổ chức kinh tế, nhất là các hình thức huy
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động trung và dài hạn để cho vay và đầu t vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng,
Do khả năng lý luận và nhận thức về một vấn đề còn hạn chế, đây lại là một
đề tài khó, chính vì vậy bài viết này của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Mong thầy cô phê bình, góp ý để bài viết sau của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
Cơ sở lý luận về công tác huy động vốn của NHTM
I. Vai trò của nguồn vốn đối với NHTM.
1. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.1. Khái niệm NHTM.
Sự hình thành hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh
tế thị trờng, đó là sản phẩm của cơ chế thị trờng hay là yếu tố cấu thành thị trờng
tài chính; NHTM nói riêng và thị trờng tài chính nói chung có tác động qua lại t-
ơng hỗ lẫn nhau; hệ thống NHTM ổn định, phát triển toàn diện là động lực thúc
đẩy thị trờng tài chính phát triển và ngợc lại.
Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và phát triển một mô hình thị tr-
ờng tài chính với nòng cốt là hệ thống ngân hàng thơng mại hoạt động dới sự điều
tiết vĩ mô của Nhà nớc. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đợc đổi mới một cách
đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng có sự quản lý, của nhà nớc. Từ mô hình hệ thống ngân hàng
của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang mô hình ngân hàng của nền
kinh tế thị trờng, mô hình tổ chức có sự thay đổi căn bản đó là tách biệt chức năng
quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng hóa
các loại hình ngân hàng, từng bớc xóa bỏ độc quyền, chuyển sang cạnh tranh có sự
quản lý của nhà nớc. Tại Việt Nam kể từ năm 1988 bắt đầu hình thành mô hình hệ
thống ngân hàng 2 cấp và 2 pháp lệnh ngân hàng( pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc,
Pháp lệnh Ngân hàng HTX tín dụng và công ty Tài chính) đã chính thức hợp pháp
hóa sự thay đổi này, Mô hình hệ thống ngân hàng ở thời điểm này bao gồm:
động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu t cho vay. Sự phát triển
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của các ngân hàng không còn nằm trong phạm vi quốc gia mà mang tính chất toàn
cầu. Ví dụ: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) việc
áp dụng công nghệ thông tin và hệ thống trang thiết bị hiện đại càng làm cho hoạt
động ngân hàng trở nên hoàn thiện
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thơng mại Việt
Nam cũng trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử, chứng kiến bớc chuyển mình
vợt qua những chặng đờng khó khăn dới chế độ bao cấp bớc sang nền kinh tế thị
trờng . Trải qua hơn 10 năm đổi mới, sau khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là
Thủ tớng Chính phủ) ban hành nghị định 53 HĐBT (26/3/1988) với nội dụng Cải
tổ ngân hàng từ hệ thống ngân hàng một cấp duy nhất trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung thành định chế ngân hàng hai cấp theo hớng kinh tế thị
trờng . Ngày 23/5/1990 nhà nớc đã ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng. Ngày
26/12/1997, hai pháp lệnh trên đợc thay thế bằng hai luật: Luật Ngân hàng Nhà n-
ớc và Luật các tổ chức tín dụng, tạo đợc một hành lang pháp lý khá đầy đủ cho
hoạt động ngân hàng. Bộ mặt ngành ngân hàng đã thay đổi, hoạt động của ngân
hàng trở nên chuyên nghiệp và năng động hơn, đánh dấu sự thay đổi to lớn trong
cách nghĩ cũng nh cách làm.
Hệ thống NHTM Việt Nam từ khi ra đời cho tới nay đã dần khẳng định đợc
vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong việc thực thi chính sách tài
chính tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận tiền gửi để cho vay đối với nền
kinh tế, với vai trò trung gian tài chính trong hoạt động của mình, NHTM vẫn phải
tuân theo sự quản lý của Nhà nớc mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân hàng Trung
ơng. Chính dới sự quản lý này, hệ thống NHTM đã thực hiện đợc chức năng của
mình đối với nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn vê NHTM, đặc biệt là tầm quan trọng
của NHTM đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc, ta sẽ tìm hiểu
các hoạt động chủ yếu của NHTM.
6
bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của Ngân hàng và thu lợi của NHTM.
Các dịch vụ Ngân hàng:
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tiến hành cung
ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng nh: dịch vụ thanh toán, đại lý, t vấn tài
chính,... trên cơ sở đó Ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển
của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân hàng ngày càng mở rộng về số l-
ợng và chất lợng. Các Ngân hàng đầu t trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng các
công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không
dùng tiền mặt nh uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán bù trừ,
thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy tính, thực hiện thanh toán bằng thẻ tín
dụng
Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho Ngân
hàng vì xu hớng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các
hoạt động dịch vụ, đồng thời vẫn duy trì các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống,
thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập
vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi Ngân hàng trong lĩnh vực
cung ứng các sản phẩm tài chính.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu
nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế, đó chính là doanh lợi
hối đoái.
Nh vậy, thành phần chính trong cơ cấu tổng thu nhập của NHTM là lãi cho
vay, lợi tức từ các khoản đầu t, dịch vụ phí và doanh lợi hối đoái.
2. Nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta hiểu
nh thế nào là vốn?
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu t
vốn là công việc của Nhà nớc, nghĩa là Nhà nớc đóng vai trò vừa là ngời cấp phát
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vốn đầu t cho các thành phần kinh tế, vừa là ngời tiêu thụ các sản phẩm mà các
đa vào đầu t thì đó chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu t, thực chất chỉ
những đồng tiền phát hành trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới
đợc gọi là vốn.
Nh ta đã biết trong quá trình vận động, khác với các loại hàng hoá, điểm
xuất phát và điểm kết thúc của vốn đều là tiền. Sau một chu kỳ vận động vốn đợc
lớn lên và đem lại hiệu quả cao, thể hiện:
Trong doanh nghiệp sản xuất:
T-H..SX..H-T T= T+t >T
Trong NHTM:
T=H-T
Còn trong các tổ chức tài chính trung gian:
T=T-T
Tóm lại từ những nét đặc thù trên ta có thể đa ra khái niệm nh sau: Vốn là
các tài sản trong xã hội đợc đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Vì
thế trong nền kinh tế thị trờng dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy,
muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại hiệu quả cao thì công tác huy
động cần phải đợc quan tâm đúng mức.
Nớc ta cũng nh bất kỳ nớc nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có
thể ví nh máu trong cơ thể, thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn đợc
tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động đợc để đầu t cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu t. Lợng vốn tích lũy
t thu nhập tùy theo chiến lợc kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới cũng
nh cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng.
Nguồn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng
quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia
tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nớc quy định Đặc điểm của hình thức huy
động này là không thờng xuyên, song giúp cho ngân hàng có đợc lợng vốn chủ sở
hữu lớn vào lúc cần thiết.
2.1.3. Các quỹ.
Ngân hàng có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ đợc sử dụng vào những mục đích
nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các quỹ của ngân
hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành các quỹ này là từ thu
nhập của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cờng số vốn tự có ban đầu.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này đợc trích lập
hàng năm và đợc tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
- Ngoài ra còn có các quỹ đặc biệt khác nh: quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ giám đốc,
Dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro tín dụng đợc các NHTM trích lập từ thu
nhập trớc hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ nhất định
nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt động Ngân hàng,
vì trong nền kinh tế thị trờng không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả kháng có
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
2.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi
thành vốn cổ phần có thể đợc coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn
bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm nh sử dụng lâu dài, có thể đầu t vào
giữa các ngân hàng thơng mại với nhau.
Ngân hàng thơng mại thờng vay ngân hàng trung ơng khi khả năng chi trả của
ngân hàng không đáp ứng đợc nhu cầu trong thời gian ngắn. Các NHTM vay vốn
của NHTW dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu để bù đắp thiếu hụt trong
thanh toán, bổ sung vốn dự trữ... Để đợc vay chiết khấu các NHTM phải nộp cho
NHTW các giấy tờ có giá có thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu nh thơng
phiếu, chứng khoán của Chính phủ... chúng thờng là các loại giấy tờ mà chủ thể
phát hành ra chúng có uy tín cao. Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định tùy
thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ của Nhà nớc trong từng thời kỳ. Ngân hàng
Nhà nớc điều hành việc vay mợn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thơng mại
phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định.
Để đảm bảo cho việc thanh khoản của mình, các ngân hàng thiếu hụt dự trữ
có nhu cầu vay mợn tức thời các ngân hàng thờng vay mợn của nhau và vay các tổ
chức tín dụng khác trên thị trờng liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có số d tiền
gửi vợt yêu cầu cha sử dụng sẽ sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm
lãi suất cao hơn. Quy trình vay mợn giữa các ngân hàng rất đơn giản, ngân hàng đi
vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại
lí (và có thẻ là ngân hàng nhà nớc). Khoản vay có thể có hoặc không cần đảm bảo,
dựa trên cơ sở uy tín của ngân hàng đi vay hoặc mối quan hệ giữa các ngân hàng
với nhau.
Ngoài các hình thức trên ngân hàng có thể vay mợn bằng cáchphát hành các
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công cụ nợ nh: Kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trờng vốn. Các khoản vay
này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu
cầu cho vay và đầu t trung và dài hạn, là giải pháp tình thế cho ngân hàng trong
hoàn cảnh khó khăn.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động.
3.1. Đối với nền kinh tế.
Nớc ta đang trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế vững mạnh vận động
nguồn vốn đầu t phát triển cho nền kinh tế chúng ta phải tận dụng tốt lợng vốn
nhàn rỗi từ dân c, các tổ chức kinh tế thông qua các kênh huy động của ngân hàng
thơng mại, các tổ chức tín dụng, và có thể từ ngân sách nhà nớc cho đầu t phát
triển. Trong đó công tác huy động vốn trong ngân hàng thơng mại đóng vai trò
quyết định và đợc chú trọng hơn cả.
Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc
gia, nó liên quan đến chính sách phân phối thu nhập của quốc gia đó, tác động trực
tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chính sách huy động vốn trong
nền kinh tế thị trờng có ảnh hởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình
lạm phát và ổn định tiền tệ. Vì nguồn vốn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế nh
vậy, nên chúng ta cần phải khơi thông các nguồn vốn cho đầu t phát triển kinh tế,
thông qua các kênh: vốn từ ngân sách nhà nớc, vốn huy động của các tổ chức tín
dụng Trong các kênh trên, vốn từ ngân sách nhà n ớc chỉ đáp ứng nhu cầu của
các doanh nghiệp nhà nớc. Nhng hiện nay số lợng doanh nghiệp nhà nớc đã giảm
do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc. Vì vậy, việc huy động vốn từ kênh
này thờng không cao. Bên cạnh đó, việc huy động vốn còn đợc thực hiện thông
qua kênh tín dụng. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn qua kênh trực tiếp hoặc
gián tiếp. Nhng ở nớc ta phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ
nên cha đủ điều kiện để huy động vốn trực tiếp trên thị trờng chứng khoán. Do đó,
việc huy động vốn gián tiếp qua kênh ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng.
Vậy, việc chú trọng đến các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần
thiết của các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế mà
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngân hàng là một trong những thành viên chính góp phần tạo nên sự phát triển đó.
Việc đẩy mạnh công tác huy động vốn cho đầu t phát triển đang giữ một vị trí đặc
biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nớc ta hiện nay.
3.2. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với NHTM.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, vai trò của NHTM ngày càng quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. NHTM cũng là doanh nghiệp nhng là một
động đợc vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu t dài hạn.
Nhng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn cha đáp ứng đợc nhu cầu đầu t
phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn nhng không đợc vợt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn
đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy
động đợc lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn
càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy,
công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết
định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.
II. Các hình thức huy động vốn.
Do NHTM huy động theo phơng thức đi vay để cho vay mà vốn tự có của
ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Do
vậy, để có thể tồn tại và phát triển, NHTM phải quan tâm tới các hình thức tạo vốn
để không ngừng mở rộng, phát triển vốn để cạnh tranh trên thị trờng. Quá trình tạo
vốn đợc thực hiện thông qua các hình thức sau:
1.1. Tạo vốn thông qua tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân: đây là khoản tiền mà
khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong
phạm vi số d cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều đợc
ngân hàng thực hiện. Các khoản thu của ngân hàng, cá nhân đều có thể đợc nhập
vào thiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung đây là một khoản huy động có
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lãi suất thấp, có khi bằng không, thay vào đó chủ tài khoản đợc hởng các dịch vụ
ngân hàng với mức phí thấp.
Mặc dù, đối với tiền gửi thanh toán, ngời gửi có thể gửi vào hoặc rút ra bất
cứ lúc nào, song giữa việc gửi vào và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian
và số lợng, nên các loại tài khoản này luôn có số d. Ngân hàng có thể huy động số
d đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền
khác với loại tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến loại
nguồn vốn này.
Để tăng cờng huy động nguồn vốn này, trớc hết các ngân hàng thờng đa ra
nhiều loại thời hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của các loại khách hàng khác
nhau. Thông thờng có các loại kỳ hạn sau: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12
tháng, 2 năm, 5 năm. Với mỗi loại thời hạn, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất t-
ơng ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
1.3. Tạo vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm.
ở các nớc phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết
kiệm đứng vị trí số hai về mặt số lợng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành của cá
nhân nhằm hởng lãi suất theo định kỳ, loại tiền gửi này thờng chiếm tỷ trọng khá
cao (Mỹ: 25%, Việt Nam: 60 70%). Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ)
Với loại tiết kiệm này ngời gửi có thể rút một phần hay toàn bộ theo yêu
cầu. Tuy nhiên, khác với tiền gửi thanh toán, ngời gửi không đợc sử dụng các công
cụ thanh toán để chi trả cho ngời khác.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ): loại tiền
gửi này có nội dung cơ bản giống nh tiền gửi có kỳ hạn mà chúng ta
nghiên cứu ở trên.
1.4. Tạo vốn thông qua huy động tiền gửi của ngân hàng khác.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ giữa các ngân hàng có quan hệ trên thị tr-
ờng liên ngân hàng tạo thuận tiện cho khách hàng và một số mục đích khác, ngân
hàng thơng mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên quy mô nguồn
này thờng không lớn do hình thức này chỉ đợc áp dụng trong trờng hợp ngân hàng
có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi cha đầu t, cho vay hoặc hiệu quả việc đầu t, cho
vay không hiệu quả bằng gửi tiền ở ngân hàng khác.
1.5. Tạo vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Giống nh các doanh nghiệp khác ngân hàng cũng huy động vốn bằng cách
3.1. Những nhân tố khách quan.
3.1.1.. Tình hình kinh tế- xã hội.
Đây là yếu tố khách quan đối với ngân hàng, yếu tố này ảnh hởng chung
đến việc huy động và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế trong đó có nguồn
vốn của NHTM. Cụ thể trong một nền kinh tế phát triển nguồn tiền gửi, tiền tiết
kiệm gửi vào các NHTM ngày càng nhiều Ngoài ra với một nền kinh tế phát
triển thì công nghệ ngân hàng đợc hiện đại hoá, ngời dân có thói quen sử dụng
những lợi ích do các NHTM cung ứng, các nghiệp vụ thanh toán chủ yếu qua ngân
hàng, ngân hàng thu đợc càng nhiều khoản vốn, chiếm dụng đợc vốn trong thanh
toán. Lạm phát là một yếu tố kinh tế ảnh hởng rất lớn đến công tác huy động vốn
của ngân hàng. Ngời dân gửi tiền vào ngân hàng hy vọng rằng họ sẽ thu đợc khoản
tiền lãi nhất định, lạm phát cao hoặc biến động có thể làm trợt giá đồng tiền và họ
sẽ chuyển các tài khoản của họ sang hình thái khác có tính ổn định hơn về giá trị.
Bên cạnh đó, các yếu tố nh thu nhập của dân c, thời vụ chi tiêu cũng là các
nhân tố ảnh hởng tới công tác huy động vốn của các ngân hàng. Tại các thành phố
lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân c có thu nhập cao sẽ hình thành một nguồn tiền
gửi lớn. Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn của
nguồn tiền, thời vụ chi tiêu ảnh hởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền.
Ví dụ: vào dịp cuối năm, nguồn tiền gửi tiết kiệm cũng nh tiền gửi của các doanh
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp có xu hớng giảm sút đặc biệt trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn
đang phổ biến nh nớc ta hiện nay.
3.1.2. Môi trờng pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô.
Những yếu tố này ảnh hởng trực tiếp đến chủ trơng, phơng hớng trong hoạt
động huy động vốn cũng nh các hoạt động khác của ngân hàng thơng mại. Ngân
hàng thơng mại xây dựng các chiến lợc kinh doanh cho riêng mình phải dựa trên
cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc nh chính sách
tiết kiệm, chính sách lãi suất,.. Ngân hàng nhà nớc điều hành chính sách tiền tệ
theo hớng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và theo sát thị trờng, phối hợp chặt
quan trực tiếp đến các mặt hoạt động nh thanh toán, giao dịch, kế toán Trong
cạnh tranh các ngân hàng không ngừng đổi mới công nghệ bởi lẽ các dịch vụ ngân
hàng sẽ không đợc đa dạng, đổi mới trừ khi ngân hàng áp dụng những công nghệ
ngân hàng tiên tiến. Đối với một ngân hàng có công nghệ tiên tiến thì chất lợng
phục vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng sẽ tốt hơn, sẽ huy động đợc nhiều vốn
hơn.
3.2.3. Chiến lợc Marketing ngân hàng.
Trong cơ chế thị trờng các ngân hàng phải cạnh tranh để tồn tại và phát
triển, tạo ra sự khác biệt, vợt trội hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh. Trong thực
tế, để đạt đợc điều này không phải là đơn giản vì khi áp dụng marketing vào ngân
hàng thờng gặp một số khó khăn nh: Với xu hớng phát triển kinh tế, nhu cầu của
khách hàng ngày càng cao. Các ngân hàng cần phải đổi mới nhanh chóng trang
thiết bị, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Thông qua công
tác marketing ngân hàng cần phải đa ra các hình thức huy động vốn với thời hạn,
giá cả hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu
cầu, mong muốn của khách hàng về chất lợng, chủng loại các sản phẩm của ngân
hàng. Không những thế, công tác marketing ngân hàng còn phải biết kích thích
các nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về với mình để không
ngừng mở rộng thêm các khách hàng mới, ngày càng thu hút đợc nhiều vốn hơn.
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trên cơ sở nghiên cứu thị trờng ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông
tin về môi trờng kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lợc
marketing. Dựa trên yếu tố này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt,
mềm dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân
hàng để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các công cụ kỹ thuật
marketing đợc tập trung vào 4 chính sách lớn:
- Chính sách thông tin, ngiên cứu, tìm hiểu điều tra.
Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phơng tiện vật chất cần thiết
để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan