Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng công thương Ba Đình - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu. Một trong những vấn đề có vị thế quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp mà
chúng ta đang theo đuổi đó là vấn đề về nguồn lực, vấn đề vốn - vấn đề thuộc cơ sở
“ hạ tầng mềm” cho đầu tư phát triển. Đây là vấn đề mang tính cấp thiết, đầy biến
động đòi hỏi phải xây dựng, phát triển và thường xuyên được xử lý, điều chỉnh
nhằm đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế, giải quyết được những thiếu hụt
trong chi tiêu của Chính phủ. Vậy thì giải pháp nào cho huy động vốn; chúng ta phải
có những phương án, quyết sách cụ thể mang tính chiến lược trong dài hạn nhằm
thõa mãn nhu cầu về vốn cũng như nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Chúng ta không chỉ đơn thuần xem nguồn lực, nguồn vốn là tiền mặt, mà phải
xem xét nguồn vốn bao gồm cả dưới dạng vật chất và phi vật chất được biểu hiện
bằng tiền. Hoạt động huy động vốn không chỉ đơn thuần là thu hút mọi nguồn lực
mà còn đi đôi với việc chọn lọc và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Việc xây
dựng một thị trường tài chính tầm cỡ cũng như tạo một hành lang pháp lý thông
thoáng, an toàn chính là điều kiện cần để chúng ta có thể thu hút các nguồn nội
ngoại lực phục vụ cho đầu tư phát triển. Vấn đề hình thành và phát triển thị trường
tài chính trong đó nòng cốt là ngân hàng thương mại, tổ chức chiếm vị trí quan
trọng trong các chính sách về huy động vốn của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì
kiện nay. Ngân hàng thương mại gánh trên vai trọng trách to lớn tiếp tục hoàn thiện
và phát triển thị trường tài chính, làm tốt chức năng là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế
thông qua việc khơi thông các dòng vốn, di chuyển vốn từ nơi có hiệu quả đầu tư
thấp sang nơi có hiệu quả đầu tư cao hơn; mặt khác ngân hàng thương mại với chức
năng của mình cần phải có biện pháp thích hợp tập trung mọi nguồn vốn còn tạm
thời nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế, nhất là các hình thức huy động
trung và dài hạn để cho vay và đầu tư vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, mua
sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ.
Đánh giá chung về hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời
kì đổi mới, Bộ Chính trị đã có kết luận “... Từ khi chuyển sang kinh doanh, các
Trang 1

xin chân thành cảm ơn.

Trang 3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
I. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI NHTM.
1. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.1. Khái niệm NHTM.
Sự hình thành hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh
tế thị trường, đó là sản phẩm của cơ chế thị trường hay là yếu tố cấu thành thị
trường tài chính; NHTM nói riêng và thị trường tài chính nói chung có tác động qua
lại tương hỗ lẫn nhau; hệ thống NHTM ổn định, phát triển toàn diện là động lực
thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và ngược lại.
Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và phát triển một mô hình thị
trường tài chính với nòng cốt là hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động dưới sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới một
cách đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý, của nhà nước. Từ mô hình hệ thống ngân
hàng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang mô hình ngân hàng của
nền kinh tế thị trường, mô hình tổ chức có sự thay đổi căn bản đó là tách biệt chức
năng quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng
hóa các loại hình ngân hàng, từng bước xóa bỏ độc quyền, chuyển sang cạnh tranh
có sự quản lý của nhà nước. Tại Việt Nam kể từ năm 1988 bắt đầu hình thành mô
hình hệ thống ngân hàng 2 cấp và 2 pháp lệnh ngân hàng( pháp lệnh Ngân hàng Nhà
nước, Pháp lệnh Ngân hàng HTX tín dụng và công ty Tài chính) đã chính thức hợp
pháp hóa sự thay đổi này, Mô hình hệ thống ngân hàng ở thời điểm này bao gồm:
- Ngân hàng Nhà nước: cơ quan quản lý cấp nhà nước trong lĩnh vực tiền
tệ, tín dụng và ngân hàng.
- Các NHTM: đóng vai trò là các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tiền
tệ.

dụng công nghệ thông tin và hệ thống trang thiết bị hiện đại càng làm cho hoạt động
ngân hàng trở nên hoàn thiện
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam cũng trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, chứng kiến bước chuyển
mình vượt qua những chặng đường khó khăn dưới chế độ bao cấp bước sang nền
kinh tế thị trường . Trải qua hơn 10 năm đổi mới, sau khi Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành nghị định 53 HĐBT (26/3/1988) với
nội dụng “Cải tổ ngân hàng từ hệ thống ngân hàng một cấp duy nhất trong
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thành định chế ngân hàng hai cấp theo
hướng kinh tế thị trường”. Ngày 23/5/1990 nhà nước đã ban hành hai pháp lệnh
về ngân hàng. Ngày 26/12/1997, hai pháp lệnh trên được thay thế bằng hai luật:
Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, tạo được một hành lang
pháp lý khá đầy đủ cho hoạt động ngân hàng. Bộ mặt ngành ngân hàng đã thay đổi,
hoạt động của ngân hàng trở nên chuyên nghiệp và năng động hơn, đánh dấu sự
thay đổi to lớn trong cách nghĩ cũng như cách làm.
Hệ thống NHTM Việt Nam từ khi ra đời cho tới nay đã dần khẳng định được
vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong việc thực thi chính sách tài
chính – tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận tiền gửi để cho vay đối với nền
kinh tế, với vai trò trung gian tài chính trong hoạt động của mình, NHTM vẫn phải
tuân theo sự quản lý của Nhà nước mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân hàng Trung
ương. Chính dưới sự quản lý này, hệ thống NHTM đã thực hiện được chức năng của
mình đối với nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn vê NHTM, đặc biệt là tầm quan trọng của
NHTM đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ta sẽ tìm hiểu các
hoạt động chủ yếu của NHTM.
Trang 6
1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
Cũng giống như một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận hay nói đúng hơn là tối đa hóa giá trị tài sản
của ngân hàng và thông qua đó thực hiện tốt vai trò là trung gian tài chính trong nền
kinh tế. Ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có một số đặc

các công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán
không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán bù
trừ, thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy tính, thực hiện thanh toán bằng thẻ
tín dụng…
Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho Ngân
hàng vì xu hướng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các
hoạt động dịch vụ, đồng thời vẫn duy trì các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống,
thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập vừa
có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi Ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng
các sản phẩm tài chính.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu nhập
từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế, đó chính là doanh lợi hối
đoái.
Như vậy, thành phần chính trong cơ cấu tổng thu nhập của NHTM là lãi cho
vay, lợi tức từ các khoản đầu tư, dịch vụ phí và doanh lợi hối đoái.
2. Nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta hiểu
như thế nào là vốn?
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu tư
vốn là công việc của Nhà nước, nghĩa là Nhà nước đóng vai trò vừa là người cấp
phát vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế, vừa là người tiêu thụ các sản phẩm mà
các thành phần kinh tế đó sản xuất. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách
của Nhà nước cấp hoặc vay tín dụng ngân hàng với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy,
Trang 8
nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà
nước cấp lại có hạn và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư không thu hút được,vì chính
sách huy động vốn chưa hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rườm rà… Như vậy
cơ chế bao cấp đã làm cho đồng tiền không được lưu thông và sử dụng có hiệu quả,
không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường. Mặt khác cơ chế huy động vốn và
sử dụng vốn trong thời kỳ này chưa được quan tâm đúng mức.

T=H-T’
Còn trong các tổ chức tài chính trung gian:
T=T-T’
Tóm lại từ những nét đặc thù trên ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Vốn là
các tài sản trong xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương
lai. Vì thế trong nền kinh tế thị trường dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng
là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng
vậy, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại hiệu quả cao thì công tác huy
động cần phải được quan tâm đúng mức.
Nước ta cũng như bất kỳ nước nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng
đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có thể ví
như máu trong cơ thể, thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn được tạo
lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế – xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập và
huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những giúp cho
ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
Trang 10
trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
nguồn vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM, nó thực hiện một số chức năng không thể thay thế đó là: cung cấp nguồn

ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cường số vốn tự có ban đầu.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này được trích lập hàng
năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
- Ngoài ra còn có các quỹ đặc biệt khác như: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ giám đốc,…
Dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro tín dụng được các NHTM trích lập từ thu
nhập trước hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ nhất định
nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt động Ngân hàng, vì
trong nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả kháng có thể
xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
2.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi thành
vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ
sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà
cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
2.2. Nguồn huy động.
Nguồn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nhưng
lại là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân
hàng,thường thì tiền gửi vào và tiền rút ra không đồng thời hoặc chênh lệch nhau
Trang 12
một lượng nhất định. Ngân hàng sẽ sử dụng lượng vốn tạm thời nhàn rỗi này vào
mục đích cho vay kiếm lời. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi giao dịch:
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào nhằm mục đích giao dịch thanh toán,
chi trả các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh
trong kinh doanh một cách an toàn, thuận tiện. Đặc tính cơ bản của tiền gửi giao
dịch là có thể phát séc, lãi suất thấp và có tính không ổn định.

tiền gửi vượt yêu cầu chưa sử dụng sẽ sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm
kiếm lãi suất cao hơn. Quy trình vay mượn giữa các ngân hàng rất đơn giản, ngân
hàng đi vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân
hàng đại lí (và có thẻ là ngân hàng nhà nước). Khoản vay có thể có hoặc không cần
đảm bảo, dựa trên cơ sở uy tín của ngân hàng đi vay hoặc mối quan hệ giữa các
ngân hàng với nhau.
Ngoài các hình thức trên ngân hàng có thể vay mượn bằng cáchphát hành các
công cụ nợ như: Kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trường vốn. Các khoản vay
này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu
cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn, là giải pháp tình thế cho ngân hàng trong
hoàn cảnh khó khăn.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động.
3.1. Đối với nền kinh tế.
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế vững mạnh vận động
theo cơ chế thị trường, việc này phải đồng thời với vấn đề phải phát triển một thị
trường tài chính xứng tầm. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân đều chịu sự tác động của thị
trường, cuả các quy luật kinh tế: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá
trị…Chính vì vậy các doanh nghiệp để tồn tại được trên thương trường phải không
ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm,…Vấn đề này thực hiện được khi và chỉ khi doanh nghiệp huy động được đủ
lượng vốn cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích. Nguồn vốn tự
Trang 14
có của doanh nghiệp thường không đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, do
đó doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu tư của mình. Với sự
xuất hiện của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại thì việc vay
vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân trở nên dễ dàng hơn. Doanh
nghiệp có thể chủ động tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhau với chi phí tiết kiệm
và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều.
Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng cần phải huy động lượng vốn nhất định

kênh tín dụng. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn qua kênh trực tiếp hoặc gián
tiếp. Nhưng ở nước ta phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên
chưa đủ điều kiện để huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Do đó,
việc huy động vốn gián tiếp qua kênh ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng.
Vậy, việc chú trọng đến các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần thiết
của các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế mà ngân
hàng là một trong những thành viên chính góp phần tạo nên sự phát triển đó. Việc
đẩy mạnh công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển đang giữ một vị trí đặc biệt
quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta hiện nay.
3.2. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với NHTM.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò của NHTM ngày càng quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. NHTM cũng là doanh nghiệp nhưng là một
doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, nên trong quá trình
chuyển mình cùng nền kinh tế, các NHTM đã chuyển dần sang hạch toán kinh
doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình chứ không bao cấp như
trước nữa. Do đó, tính năng động sáng tạo được khơi dậy, các NHTM có xu hướng
phát triển đa năng. Vì đóng vai trò là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, là
thủ quỹ của nền kinh tế nên NHTM là tác nhân quan trọng trong việc cung ứng vốn
cho nền kinh tế. Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định
hướng hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong
quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu
vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ
tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này.
Trang 16
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của
NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp
nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với
quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động
kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với
lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ

khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong phạm
vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân
hàng thực hiện. Các khoản thu của ngân hàng, cá nhân đều có thể được nhập vào
thiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung đây là một khoản huy động có lãi
suất thấp, có khi bằng không, thay vào đó chủ tài khoản được hưởng các dịch vụ
ngân hàng với mức phí thấp.
Mặc dù, đối với tiền gửi thanh toán, người gửi có thể gửi vào hoặc rút ra bất
cứ lúc nào, song giữa việc gửi vào và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian
và số lượng, nên các loại tài khoản này luôn có số dư. Ngân hàng có thể huy động
số dư đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản
tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay như cho vay thấu chi – chi trội trên số dư
có của tài khoản tiền gửi thanh toán. Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức
“biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất của loại tiền gửi này lên
nhằm cạnh tranh với các tài chính tín dụng khác.
Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để
khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các NHTM thực hiện trả lãi
cho loại tiết kiệm tiền gửi này (hiện nay khoảng 0,2%/tháng). Ở các nước phát triển loại
tiền gửi này chiếm khoảng 30% tiền gửi của các ngân hàng. Vì lẽ đó, tạo nguồn tiền gửi
trên tài khoản thanh toán này được ngân hàng đặc biệt coi trọng.
Bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi
thanh toán của các ngân hàng khác, nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số
mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô của
nguồn này thường không lớn.
1.2. Tạo vốn thông qua tiền gửi có kỳ hạn.
Trang 18
Nhiều khoản thu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau
một khoảng thời gian nhất định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện trọng hoạt
động thanh toán song lãi suất lại thấp, để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi
tiền ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền
gửi được ủy thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền

Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ giữa các ngân hàng có quan hệ trên thị
trường liên ngân hàng tạo thuận tiện cho khách hàng và một số mục đích khác, ngân
hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên quy mô nguồn
này thường không lớn do hình thức này chỉ được áp dụng trong trường hợp ngân
hàng có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa đầu tư, cho vay hoặc hiệu quả việc đầu
tư, cho vay không hiệu quả bằng gửi tiền ở ngân hàng khác.
1.5. Tạo vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Giống như các doanh nghiệp khác ngân hàng cũng huy động vốn bằng cách
phát hành các giấy tờ có giá (hay còn gọi là các công cụ nợ) như kỳ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu ngân hàng…để huy động vốn trên thị trường vốn.
Các công cụ nợ của ngân hàng là các giấy nhận nợ mà ngân hàng bán cho
công chúng. Đây là cách thức vay vốn của NHTM, bởi vì những người sở hữu các
công cụ này được hoàn trả vốn vào thời gian đáo hạn cộng thêm khoản tiền lãi nhất
định. Những công cụ nợ của ngân hàng là:
- Tín phiếu ngân hàng: Đây là công cụ nợ ngân hàng dùng để huy động
những khoản vốn ngắn hạn.
- Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là những công cụ nợ để ngân hàng huy
động những khoản vốn trung - dài hạn.
Nếu đối với các tài khoản tiền gửi phụ thuộc nhiều vào sở thích của khách
hàng thì việc sử dụng các công cụ nợ là một hình thức huy động vốn mang tính chủ
động của ngân hàng. Tuy nhiên việc khách hàng có chấp nhận mua các công cụ nợ
đó hay không mới là điều quan trọng. Nguồn vốn huy động có được bằng việc phát
Trang 20
hành các công cụ nợ sử dụng cho những khoản tín dụng trong kế hoạch của ngân
hàng. Với lãi suất tín dụng trong kỳ kế hoạch, ngân hàng xác định mức lãi suất nhất
định cho các công cụ nợ, hay đưa vào thời hạn các khoản tín dụng trong kế hoạch
mà ngân hàng xác định sử dụng loại công cụ ngắn hạn hay trung - dài hạn.
Đây là một hình thức tương đối mới mẻ so với các NHTM của các nước đang
phát triển vì nó phụ thuộc vào uy tín và năng lực tài chính của chính ngân hàng đó.
Tại Việt Nam, Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định số 89/ QĐ- NH9 và quyết

hoạt động huy động vốn cũng như các hoạt động khác của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại xây dựng các chiến lược kinh doanh cho riêng mình phải
dựa trên cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như
chính sách tiết kiệm, chính sách lãi suất,.. Ngân hàng nhà nước điều hành chính sách
tiền tệ theo hướng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và theo sát thị trường, phối
hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì mới tạo điều kiện và thúc đẩy
phát triển các thị trường tiền tệ cũng như hoạt động của hệ thông ngân hàng. Mặt
khác, việc xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng cũng là một
nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động huy động và sử dụng
vốn của các ngân hàng thương mại.
3.2. Những nhân tố chủ quan.
3.2.1. Lãi suất
Với tư cách là giá vốn, lãi suất có tác động điều tiết trực tiếp đến hoạt động tín
dụng, cho vay và huy động vốn của ngân hàng, tác động đến lợi nhuận khi xem xét
kết quả kinh doanh, tính toán lãi suất chênh lệch đầu ra đầu vào. Khi lãi suất thay
đổi theo diễn biến quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ, phản ánh đúng tín
hiệu của thị trường, điều đó khiến ngân hàng phải tìm kiếm, hoạch định mức lãi suất
phù hợp cho mình. Trong trường hợp lãi suất biến động do tác động của các yếu tố
phi vật chất (yếu tố tâm lí, yếu tố cạnh tranh không lành mạnh...) sẽ có tác động bất
lợi đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đây là khó khăn đối với các ngân
hàng thương mại có quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có và khả năng tài chính thấp.
Trong trường hợp đó là viêc tăng lãi suất huy động, tác động hiệu ứng đối với toàn
bộ hệ thống, buộc các ngân hàng khác cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng gửi
Trang 22
tiền trong khi đó có thể không thực sự có khó khăn về nguồn vốn. Trong nền kinh tế
thị trường, các hiện tượng kinh tế thường có diễn biến, thay đổi nhanh. Lãi suất
cũng là yếu tố nhạy cảm và thường xuyên thay đổi, gắn liền với sự thay đổi của
quan hệ cung cầu về vốn. Vì vậy, ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động
cần có sự theo dõi sát sao sự biến động đó để có những giải pháp ứng phó kịp thời
nhằm ổn định tình hình kinh doanh của mình.

Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phương tiện vật chất cần thiết
để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan
đến thị trường của ngân hàng. Từ các thông tin có được ngân hàng sẽ đưa ra các
chính sách kinh doanh nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng phù hợp với
nhu cầu của khách hàng và nhu cầu sử dụng vốn của thị trường.
- Chính sách sản phẩm giá cả.
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bao gồm các dịch vụ cơ bản của nghề
ngân hàng là nghiệp vụ huy động vốn, nguồn vốn sử dụng vốn, nghiệp vụ thanh
toán và các nghiệp vụ ngoại vi mang tính chất hỗ trợ như dịch vụ tư vấn khách hàng,
nghiệp vụ thông tin theo nhu cầu, dịch vụ két… có những nghiệp vụ ngoại vi không
mạng lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng, song có tác dụng kích thích sự chú ý,
thu hút khách hàng và làm tăng giá trị cung ứng sự thỏa mãn của khách hàng đối với
các dịch vụ cơ bản. Đặc biệt với sự đa dạng hóa các sản phẩm của nghiệp vụ huy
động vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng khả năng huy động vốn. Hiển
nhiên, một ngân hàng có các dịch vụ tốt, đa dạng sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các
ngân hàng khác mà các sản phẩm dịch vụ không tốt. Một ngân hàng mà có dịch vụ
thanh toán hoạt động tốt, đa dạng sẽ thu hút được nhiều tiền gửi thanh toán hơn các
ngân hàng khác.
Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, giá cả được biểu hiện chủ yếu dưới dạng
lãi suất của các khoản tiền gửi, tiền vay, chi phí nghiệp vụ ngân hàng. Yếu tố giá có
vai trò quan trọng đối với kết quả huy động vốn, sử dụng vốn và cung ứng dịch vụ
khác của ngân hàng. Chính sách lãi suất cạnh tranh là một chiến lược quan trọng của
ngân hàng. Việc duy trì lãi suất cạnh tranh huy động, đặc biệt cần thiết khi lãi suất
thị trường đang ở mức tương đối cao. Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không
chỉ với nhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác
Trang 24
nhau trên thị trường vốn. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, dù cho những
khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiết kiệm và nhà đầu
tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang nắm giữ sang một công cụ khác hoặc
chuyển tiền đầu tư, tiết kiệm từ một tổ chức này sang một tổ chức khác để có lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status