LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và hội nhập mạnh
mẽ với nền kinh tế thế giới. Năm 2008 vừa qua Việt Nam đã là thành viên
chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO). Hội nhập là cơ
hội để chúng ta có thể tiếp cận những nền khoa học công nghệ hiện đại,
những nền kinh tế phát triển trên thế giới, cơ hội để kinh tế nước ta có thể
sánh vai cùng các cường quốc Năm châu.
Ngân hàng là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế. Ngành
ngân hàng của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập, đây chính là vấn đề gây khó
khăn nhất cho chúng ta trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Tuy nhiên
đây cũng chính là vấn đề nóng nhất khi sức mạnh hội nhập lan toả trên toàn
bộ nền kinh tế nước ta.
Sức cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng thương mại trong
nước với nhau mà còn cả các ngân hàng nước ngoài, các định chế tài chính
khác như công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các tập đoàn tài chính…khác nữa.
Muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế năng động đó, mỗi ngân hàng
cần phải xác định cho mình con đường đi phù hợp và hiệu quả nhất. Nâng cao
vị thế trên thị trường, nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động luôn là vấn đề cốt
lõi. Đó chính là việc xác định lượng vốn huy động được và vấn đề sử dụng
vốn đó như thế nào của các ngân hàng thương mại. Huy động vốn là cơ sở để
tiến hành hoạt động, là cơ sở để đảm bảo thanh toán, là uy tín và cũng chính
là tiền đề cho sự sống còn của ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và NHNN&PTNT nói
riêng trong quá trình hoạt động của mình luôn xác định được vai trò quan
trọng của việc huy động vốn. Hoà chung vào không khí đó, NHNo & PTNT
Hạ Long luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, để từ đây có thể
1
đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của hệ thống ngân hàng nước
ta nói chung và hệ thống NHNN&PTNT nói riêng.
Chính vì vậy trong quá trình thực tập vừa qua, em đã không những tham
gia, nắm bắt và học hỏi kinh nghiệm làm việc của các anh chị nhân viên trong
phần lớn các nguồn vay ấy đếu được thực hiện tại ngân hàng.
Mặt khác Ngân hàng còn là một trung gian tài chính quan trọng nhất
trong nền kinh tế, ngân hàng là trung gian cho người dư thừa vốn gặp những
người đang cần vốn và tạo điều kiện đem lại lợi ích cho họ. Chính sách tiền tệ
là bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế trong mỗi quốc gia và ngân hàng
đóng vai trò quyết định chính sách ấy.
Như vậy có thể nói ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhất, thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2006 Nước CHXHCN Việt Nam đã chỉ
rõ: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tièn gửi và sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ tiền tệ”.
3
NHTM là bà đỡ cho mọi nền kinh tế, Một nền kinh tế phát triển và tăng
trưởng mạnh là một nền kinh tế mà ở đó NHTM đóng vai trò chủ chốt và
quyết định nhất.
1.1.2. Chức năng của NHTM
NHTM có ba chức năng cơ bản đó là:
- NHTM là một trung gian tài chính: NHTM là cầu nối giữa người dư
thừa vốn và người đang có nhu cầu vốn. Với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết
kiệm thành đầu tư, các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là
chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập chính vì thế họ cần phải bổ
sung thêm vốn; bên cạnh đó lại tồn tại các cá nhân và tổ chức tạm thời thặng
dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn chi tiêu và họ có tiền
để tiết kiệm. Hai nhóm này tồn tại hoàn toàn độc lập với ngân hàng và điều tất
yếu sẽ xảy ra đó là nguồn vốn hợp lí sẽ được chảy từ nơi thừa vốn sang nơi
thiếu vốn. Đây chính là chức năng trung gian của ngân hàng. Một điều quan
trọng nữa là để thực hiện được tốt chức năng này thì việc tìm hiểu thông tin
cân xứng là khả năng đảm bảo hiệu quả cho hoạt động của ngân hàng.
Vay từ Ngân hàng trung ương (NHTW) và các tổ chức tín dụng (TCTD)
Phát hành kỳ phiếu hoặc trái phiếu
Huy động thêm vốn chủ sở hữu
Huy động theo các nguồn khác
Hiên nay các ngân hàng thương mại đang đưa ra nhiều chương trình,
nhiều biện pháp để đẩy mạnh huy động vốn.
5
b. Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng vốn là việc ngân hàng sử dụng nhưng nguồn đã huy động được
để đưa vào kinh doanh thu lợi nhuận, đây là ngiệp vụ hình thành tài sản có
trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng vốn cho hoạt động ngân quỹ( bản chất là dự trữ),
hoạt động này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng chi trả cho ngân
hàng. Các nước trên thế giới thường duy trì tỉ lệ dự trữ bắt buộc là
8%/năm.Ngân hàng sử dụng một phần tiền gửi của khách hàng để dự trữ theo
quy đinh bắt buộc của Ngân Hàng trung ương.
- Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản, là hoạt động sống còn của
ngân hàng. Đây là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác
theo những đảm bảo nhất định về tài sản, vật thế chấp, về khả năng hoàn trả,
vế lãi suất…Hoạt động cho vay đem lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng,
là cơ sơ để Ngân hàng có thể tồn tại được.Hiện nay các ngân hàng thương mại
đang đa dạng hoá các loại hình cho vay : cho vay theo thời hạn tín dụng, cho
vay theo hạn mức tín dụng, cho vay tiêu dùng, cho vay căn cứ vào tài sản thế
chấp…để làm sao thoả mãn được tối đa nhất nhu cầu của khách hàng.
- Hoạt động đầu tư : Khác với hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư mang
lại nhiều rủi ro hơn cho ngân hàng. Khi xác định đầu tư vào một khoản mục
nào đó thì mọi chi phí, mọi rủi ro là do ngân hàng hoàn toàn chụi trách nhiệm.
Tất nhiên song hành với điều đó là một quy luật của tự nhiên đó là rủi ro càng
cao thì lợi nhuận thu được càng lớn, vì vậy Ngân hàng luôn luôn phải cân
cho mỗi tổ chức. Ngân hàng thương mại cũng vậy, nguồn vốn chủ sở hữu là
điều kiện tiên quyết cho mọi vấn đề. Nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng
được cụ thể thành các loại như sau:
7
a. Nguồn vốn hình thành ban đầu
Theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu
khác nhau. Ngân hàng thương mại nhà nước là Ngân hàng được sở hữu bởi
nhà nước, vốn do ngân sách nhà nước cấp. Ngân hàng cổ phần là ngân hàng
có số vốn góp do các cổ đông hợp sức lại, Ngân hàng liên doanh do các bên
liên doanh góp vốn, Ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
Vốn hình thành ban đầu hay vốn tự có là điều kiện pháp lý cơ bản, là
xuất phát điểm cơ bản cho mọi hoạt động của ngân hàng và cũng đồng thời là
yếu tố tài chính quan trọng để đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, là
niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng.
Tuy vậy Ngân hàng lại là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng
hoá đặc biệt, rất nhạy cảm – đó chính là vốn. Nguồn vốn ban đầu của ngân
hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn. Song qua đây nó lại
cho ta thấy được thực lực của ngân hàng, quy mô và uy tín của ngân hàng, và
hơn hết nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác cho họ.
Hiện nay các NHTM Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn hình thành ban
đầu thấp, tỷ lệ vốn tự có/ tài sản có của phần lớn các ngân hàng là <5% trong
khi đó tiêu chuẩn của thế giới tối thiểu là 8 %. Đây chính là yêu cầu đặt ra đối
với các ngân hàng nước ta trong thời kỳ hội nhập.
b. Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Ngoài việc hình thành vốn ban đầu, trong quá trình hoạt động các
NHTM luôn bổ sung vốn kinh doanh của mình bằng nhiều cách: bổ sung từ
lợi nhuận không chia, bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần …
- Nguồn từ lợi nhuận: không chỉ có ngân hàng thương mại mà tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh đều có nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia,
đây là một nguồn vốn không đều đặn, nó được xác định tuỳ thuộc vào kết quả
- Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và phần chênh
lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Quỹ này
cũng có vai trò quan trọng vì theo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền và nó
liên quan tới việc đánh giá lại tài sản của ngân hàng.
- Ngoài ra còn có các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc...
mang tính chất động viên khích lệ các cá nhân, nhóm tổ chức trong ngân hàng
để họ có điều kiện thuận lợi phát triển và cống hiến.Các quỹ này được hình
thành trên cơ sở thu nhập hàng năm của ngân hàng.
d. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Vốn của ngân hàng không chỉ giới hạn bởi vốn đóng góp của cổ đông
hay số vốn góp ban đầu của ngân hàng , do tính chất sử dụng lâu dài : có thể
đầu tư vào nhà cửa, đất đai, bất động sản…có thể không phải hoàn lại, do vậy
mà các khoản vay trung và dài hạn của NHTM có khả năng chuyển đổi thành
cổ phần và cũng được coi là vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
1.2.1.2 Vốn nợ
a. Tiền gửi
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng.
Đây là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp ta có thể phân biệt
ngân hàng với các doanh nghiệp khác. Năng lực của ngân hàng thể hiện ở khả
năng huy động tiền gửi. Tiền gửi là cơ sở chính cho phép ngân hàng có thể
cho vay và là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng.
Tiền gửi có nhiều loại:
- Tiền gửi thanh toán
- Tiền gửi tiết kiệm của doanh ngiệp và tổ chức xã hội
- Tiền gửi tiết kiệm dân cư
- Tiền gửi của các ngân hàng khác
10
b. Tiền vay
Ngoài nghiệp vụ tiền gửi, khi cần thêm vốn để phục vụ kinh doanh hay
vì một mục đích nào đó NHTM có thể chủ động đi vay. Hoạt động này chủ
năng và uy tín của ngân hàng. Ngân hàng nào có uy tín trên thị trường hoặc
có khả năng trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều và ngược lại các ngân
hàng nhỏ thưòng khó vay hơn và họ thường phải dựa vào các ngân hàng đại
lý hoặc nhờ các ngân hàng lớn bảo lãnh. Sở dĩ như vậy vì đây là hình thức
Ngân hàng vay bằng cách phát hành giấy nợ ra công chúng, Một hình thức
vay có đảm bảo : phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu.
Kỳ phiếu là hình thức thu hút được nhiều khách hàng, Kỳ phiếu bao gồm
hối phiếu và lệnh phiếu, là hình thức phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách
hàng.
Trái phiếu là một loại giấy chứng nhận nợ mà người cầm nó có quyền
đòi nợ người phát hàng ra nó ở đây là NHTM. Theo đó trong một thời gian
xác định được ghi trên trái phiếu ngân hàng phải hoàn trả một số tiền nhất
định về cả gốc và lãi cho người cầm nó.
c. Vốn nợ khác
Loại vốn này được hình thành trong quá trình tham gia vào các hoạt
động dịch vụ của ngân hàng. Nó bao gồm các nguồn cơ bản sau:
- Nguồn vốn uỷ thác:
Đây là một trong những dịch vụ mà ngân hàng tích cực tham gia và ngày
nay nó càng trở thành nghiệp vụ chiếm giữ vị trí quan trọng. Đó là các nghiệp
vụ uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác giải ngân…Ngân hàng đồng thời
là kênh dẫn vốn, đồng thời là kênh quản lý vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sự
12
phát triển, cho sự vững chắc của các công trình và bên cạnh đó lại mang về
cho họ những lợi ích đáng kể.
- Vốn trong thanh toán:
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng, thanh toán qua phát hành Sec…
đã vô hình chung tạo nên cho ngân hàng một luồng vốn quan trọng và ngân
hàng cỏ thể sử dụng với mục đích sinh lời.
1.2.2 Hoạt động huy động vốn của NHTM
này thường chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn huy động của ngân hàng.
Việc xác định huy động vốn theo thời gian có vai trò quan trọng trong
việc xác định kỳ hạn của các khoản cho vay hay đầu tư của ngân hàng. Lượng
vốn huy động ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn sẽ quyết định xem ngân hàng
có thể cho vay với mức thời gian nào là hợp lý và lượng vay là bao nhiêu, và
bên cạnh đó để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng của họ.
b. Huy động vốn theo đối tượng
- Huy động vốn từ dân cư
Dân cư là đối tuợng huy động chủ yếu của ngân hàng. Những luồng vốn
rải rác trong dân cư sẽ được quy tụ tại ngân hàng, đây chính là vai trò trung
gian của ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò thu hút vốn nhỏ lẻ trong dân cư,
trả lãi để được sử dụng vốn của họ. Nguồn huy động từ tất cả các tầng lớp dân
cư sẽ làm phong phú cho các hoạt động của ngân hàng. Hình thức huy động
này có hiệu quả cao hay không hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng của ngân
hàng. Nếu ngân hàng có khả năng và biện pháp thu hút khách hợp lý, có khả
năng thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của họ, tạo sự tin tưởng cho họ thì sẽ là
liều thuốc hữu hiệu nhất đưa họ đến với ngân hàng.
14
- Huy động vốn từ tổ chức trong nước
Các tổ chức kinh tế có luồng tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình kinh
doanh, quá trình luân chuyển vốn, Ngân hàng sẽ sẵn sàng làm két sắt cho họ,
hay tạm thời giữ vốn cho họ, và đây cũng là cơ hội cho ngân hàng thu lợi
nhuận trên chính đồng vốn đó. Đây là nguồn vốn lớn và lại có chi phí thấp,
nếu tăng cường các biện pháp thu hút và quản lý nguồn này tốt thì sẽ mang lại
cho ngân hàng một kết quả tốt.
Các tổ chức trong nước có thể là doanh nghiệp, các tổ chức, và cũng cỏ
thể là cá tổ chức tín dụng. Ngân hàng có thể huy động bằng cách đi vay các tổ
chức tín dụng khác trên thị trường, nó sẽ giải quyết khi ngân hàng có nhu cầu
cấp bách mặc dù chi phí hơi cao.
- Huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài
với mục đích hợp lý thì có thể đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và cả người
gửi tiền.
Để đáp ứng được nhu cầu này, Ngân hàng đã đưa ra hình thức gửi tiền
có kỳ hạn cho doanh nghiệp và các tổ chức. Một chế độ lãi suất cao hơn sẽ
được áp dụng và song hành với nó là một thời hạn được ấn định sẵn, tuỳ theo
tình hình thực tế mà khách hàng có thể lựa chọn kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần,1 tháng,
1 năm…Khi có nhu cầu cần sử dụng mà chưa đến hạn thì khách hàng vẫn có
thể rút tuy nhiên sẽ phải chịu theo lãi suất không kỳ hạn. Hình thức này cũng
mang lại cho ngân hàng nguồn thu nhập và lợi ích lớn.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Tiền gửi tiết kiệm dân cư chiếm giữ vị trí hàng đầu trong nguồn vốn của
Ngân hàng và là đề tài cạnh tranh gay gắt giữa họ. Các ngân hàng luôn xác
định cho mình một chiến lược cạnh tranh để thu hút khách hàng gửi tiền. Đây
16
là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi hoặc chưa được sử dụng trong các tầng lớp
dân cư, họ gửi vào đây với mục đích bảo toàn và sinh lời. Tận dụng cơ hội
này, các ngân hàng chuyển đổi kỳ hạn, tích tụ và tập trung vốn lại và đem cho
vay. Như vậy ngân hàng đã thực hiện được vai trò trung gian của mình, là cầu
nối giữa những người thiếu vốn và những người thừa vốn, là trung gian biến
tiết kiệm thành đầu tư.
Tuỳ theo thời hạn sử dụng mà ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức
lãi suất khác nhau như lãi tuần, lãi 1 tháng, lãi 3 tháng, lãi 6 tháng, lãi bậc
thang… và vì thế khách hàng có thể lựa chọn các hình thức phù hợp nhất với
họ. Nguồn tiền gửi này mang tính chất ổn định, chắc chắn, chủ động mặc dù
lãi suất và chi phí cao hơn. Tuy nhiên các ngân hàng luôn xác định đây là
nguồn an toàn nhất, đảm bảo nhất và cũng là chủ đạo nhất đối với nguồn vốn
của họ.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác:
Cùng tồn tại trong một nền kinh tế, cùng chịu ảnh hưởng của cơ chế thị
trường đặc biệt cùng kinh doanh trên lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế,
của lẫn nhau và của các tổ chức tín dụng khác để đảm bảo chi trả. Hình thức
này không cần đảm bảo, vốn huy động là tương đối và cũng chỉ thực hiện khi
cần nhất.
- Tăng vốn chủ sở hữu
Ngân hàng có thể tăng vốn của mình bằng cách giữ lại lợi nhuận không
chia để tăng thêm nguồn vốn chủ sở hữu, hoặc là có thể phát hành thêm cổ
phần, cổ phiếu. Đây là hình thức huy động khi cần thiết để đảm bảo hoạt động
của Ngân hàng, gia tăng uy tín và năng lực trên thị trường. Nguồn vốn này
không mất phí hoặc phí rất thấp, tuy nhiên huy động phức tạp.
18
- Hình thức khác: Ngoài những hình thức phổ biến trên, ngân hàng còn
có thể huy động vốn qua các hoạt động kinh doanh, các hợp đồng uỷ thác, các
hình thức thanh toán. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, hình thức này càng được chú ý và đem lại hiệu quả lớn.
d. Huy động vốn theo loại tiền:
Ngân hàng có thể huy động vốn theo loại tiền, ngoài hình thức phổ biến
và chủ đạo là tiền của quốc gia, Ngân hàng có thể thu hút thêm các loại ngoại
tệ khác, USD, EURO,…Nguồn này xuât phát từ đặc điểm kinh tế của từng
quốc gia mà có quy định khác nhau.Tuy nhiên phương thức huy động như thế
nào còn phải tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế của từng thời kỳ. Các ngân hàng
thương mại nước ta thường chia làm 2 mảng đó là:
- Tiền gửi bằng VNĐ
- Tiền gửi bằng ngoại tệ
Trên cơ sở xác định mức phí ngân hàng sẽ đưa ra lãi suất và kỳ hạn hợp
lý với từng loại tiền.
1.2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá huy động vốn
- Quy mô huy động vốn
Câu hỏi đầu tiên khi giới thiệu về một doanh nghiệp dù hoạt động trong bất
kỳ một lĩnh vực nào cũng đều là: Quy mô hoạt động như thế nào? Nhắc đến
ngân hàng thì quy mô đó chính là quy mô về vốn. Mục đích cuối cùng của họ
lăi suất đầu vào mà họ vẫn có lãi, tuy vậy điều này không phải là đơn giản.
Huy động nguồn có chi phí thấp thì ngân hàng thu được lợi nhuân cao,
có thể mở rộng cho vay và đầu tư và ngược lại. Tuy nhiên nhân tố cơ bản
quyêt định chi phí đó chính là lãi suất. Chính sách lãi suất phù hợp luôn là cơ
sở cho hoạt động huy đọng vốn trong ngân hàng.
20
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng. Ở đây ta có thể chia thành hai nhóm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt
động huy động vốn của NHTM đó là:
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 Môi trường pháp lý:
Là một doanh nghiệp kinh doanh, NHTM chịu sự quản lý của các cơ
quan có thẩm quyền, hoạt động theo quy định của pháp luật, chịu sư chi phối
và điều tiết của NHTW nước sở tại. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại ngoài việc tuân thủ theo quy định về tỷ lệ lãi suất theo quy đinh,
tỷ lệ vốn huy động của pháp luật trong nước ma còn chịu tác động của nhiều
diều lệ quốc tế. Ngoài ra, lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực có nhân tố quyết
định đến toàn bộ nền kinh tế, hoạt động dưới sự chi phối của chính sách tiền
tệ quốc gia, tuỳ từng thời kỳ mà NHTW đưa ra các biên pháp và chính sách
nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ quốc gia. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.3.1.2 Môi trường kinh tế:
Tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh tế năng động là cơ sở để
ngân hàng vươn lên, cơ hội để ngân hàng có thể triển khai các hoạt động của
mình, cơ hội để nắm trong tay những công nghệ hiện đại và là cơ hội để hội
nhập với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên nó cũng đi đôi với những khó khăn
như khó khăn về cạnh tranh, khó khăn về khách hàng…
Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho hoạt động tạo vốn của
NH, hoạt động kinh doanh cũng được tiến hành thuận lợi hơn, có khả năng
22
1.3.2 Nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Xuất phát từ các hình thức HĐV của ngân hàng
Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng phong phú và đa dạng sẽ
góp phần khuyến khích khách hàng tham gia vào các dịch vụ của họ. Ngân
hàng càng đi sâu vào nghiên cứu nhu cầu cũng như tâm lý của khách hàng thì
càng có cơ hội phát triển thêm những công cụ mà họ cần.
Các NHTM nước ta hiện nay có danh mục các sản phẩm huy động là
khá đa dạng: tiền gửi có nhiều loại như tiết kiệm có ký hạn trả trước, tiết kiệm
có kỳ hạn trả sau, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang,
tiết kiệm tiêu dùng…
Bên cạnh đó ngân hàng còn đưa ra nhiều hình thức khuyến mại, dự
thưởng thu hút sự quan tâm của khách hàng. Hình thức và kỳ hạn lãi phong
phú như lãi tuần, lãi tháng, lãi năm… được triển khai liên tục và rất được
người dân và các tổ chức quan tâm. Ngoài ra trong lĩnh vực tiền gửi thanh
toán hay tiền gửi giao dịch cũng được nghiên cứu và bổ sung nhiều hình thức
phù hợp hơn.
1.3.2.2 Chính sách lãi suất huy động
Người dân gửi tiền vào ngân hàng bên cạnh mục đích cất trữ an toàn thì
lợi nhuận thu được lại là điều đầu tiên, là nhân tố quyết định. Ngân hàng nào
lãi suất cao, hấp dẫn thì vốn sẽ chảy vào đó. Khung lãi suất ngân hàng đưa ra
phụ thuộc vào mức lãi suất trần, lãi suất sàn theo quy định của NHTW và nó
được điều chỉnh theo chế độ của chính ngân hàng ấy. Lãi suất huy động còn
phải căn cứ và dựa trên lãi suất của nguồn sử dụng, hay cụ thể hơn đó là lãi
suất cho vay hay lãi suất đầu tư. Nhiều ngân hàng sử dụng nhiều hình thức lãi
suất khác nhau. Nhưng cạnh tranh theo lãi suất là loại hình cạnh tranh có
nhiều rủi ro và thường có giới hạn nên việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp là
yêu cầu đòi hỏi đối với từng ngân hàng.
23
Tuy nhiên để thu hút được lượng khách hàng lớn và duy trì đựơc mối
toán qua mạng điện tử, trả lương qua tài khoản…đang ngày càng phát triển và
góp phần làm tăng hiệu quả cho hoạt động huy động vốn trong ngân hàng.
25