Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ – Thành phố Vinh – Nghệ An - Pdf 10

Lời nói đầu

ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trởng
và phát triển kinh tế của đất nớc. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh
tế thì nớc ta cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn
vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong điều kiện nớc ta Thị trờng Chứng khoán
cha phát triển nên lợng vốn huy động đợc bằng con đờng tài chính trực tiếp
thông qua con đờng phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do đó, quá trình nhận và truyền
vốn trên thị trờng chủ yếu đợc thực hiện thông qua các ngân hàng thơng mại và
thị trờng tín dụng. Có thể nói ở Việt Nam hơn 80% lợng vốn trong nền kinh tế
là do hệ thống ngân hàng cung cấp. Do đó vai trò của ngân hàng trong hoạt
động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Nh vậy công tác huy động vốn của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế nói chung và hoạt động của ngân hàng nói riêng. Trong thời gian
học tập tại trờng và thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến
Thuỷ Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An em đã cố gắng nghiên cứu và tìm
hiểu kỹ công tác huy động vốn và chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: Giải pháp
tăng cờng huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ
Thành phố Vinh Nghệ An .
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các phơng thức huy động vốn của ngân
hàng thơng mại, các nhân tố ảnh hởng đến các phơng thức huy động đó. Từ đó
đi vào phân tích thực trạng về công tác huy động vốn của Ngân hàng Công th-
ơng Bến Thuỷ (các phơng thức huy động vốn mà Ngân hàng áp dụng, các nhân
tố ảnh hởng, cũng nh những khó khăn thách thức), từ đó em xin đa ra một
số giải pháp và kiến nghị.
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận đợc kết cấu gồm có 3 chơng:
Chơng I: Vai trò của vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thuơng mại.
Chơng II: Thực trạng huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Công th-

có một cơ cấu tổ chức nào đợc coi nh một ngân hàng theo đúng chức danh của
nó. Trong nhiều thế kỷ của thời trung cổ, nghề kinh doanh này đã phải trải qua
bao nỗi thăng trầm bởi chiến tranh tàn khốc, không thể phát triển đợc. Phải cho
đến đầu thế kỷ thứ 12, khi chiến tranh đã dịu bớt, kinh tế hàng hoá đã có bớc
phát triển, nhất là khu vực Tây âu. Khi đó, một tổ chức đợc mệnh danh là ngân
hàng đợc thành lập ở Venise nớc ý vào năm 1171, tuy về thực chất chỉ là một tổ
chức tài chính đợc thiết lập để thực hiện sự tài trợ cho chiến tranh, nhng nội
dung hoạt động của nó đã bao hàm cả nghiệp vụ ngân hàng.
Cho đến đầu thế kỷ 15, một số tổ chức kinh doanh tiền tệ đợc thành lập đợc
xem nh những ngân hàng thực thụ: Ngân hàng Barcelone, Ngân hàng Valenee
của Tây Ban Nha. Những tổ chức này đã thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền ký
thác, cấp tín dụng, chuyển ngân và làm các nghiệp vụ thu- chi tiền cho khách
hàng với ý nghĩa là những nghiệp vụ kinh doanh cơ bản.
Sự phát triển của Ngân hàng thơng mại phải kể từ thời kỳ phục hng, và đặc
biệt là từ khoảng thế kỷ 17 cho đến nay. Đây là thời kỳ kinh tế hàng hoá phát
triển nhanh chóng, mạnh mẽ, nền thơng mại không ngừng mở rộng, các quan hệ
hàng hoá- tiền tệ phát triển bao trùm đời sống kinh tế- xã hội đã tạo ra những
tiền đề kinh tế cho sự hình thành và phát triển nghề Ngân hàng.
ở Việt nam, trong bớc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
3

theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật,
đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn
hợp đan xen với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh
nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh
tranh với nhau, bình đẳng trớc pháp luật. Theo hớng đó, nền kinh tế hàng hoá
phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều
loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986, hoà vào công cuộc
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nớc theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà n-

dịch vụ trung gian hởng hoa hồng. Ngày nay, hệ thống Ngân hàng Thơng mại
phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Sự
đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho Ngân hàng Thơng
mại trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển
kinh tế.
2.1. Nghiệp vụ nhận tiền gửi:
Đây là một hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại. Ngân hàng nhận đợc
các khoản tiền gửi của khách hàng dới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền
gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả gốc
và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến
rút tiền ở ngân hàng.
2.2. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng:
Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ
liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực
thanh toán bình thờng), sẽ đợc sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp
vụ đặc trng nhất của Ngân hàng Thơng mại. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân
hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình
thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung
vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng
nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu.
Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng đợc phân thành:
2.2.1. Căn cứ vào mục đích:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai.
- Cho vay công nghiệp và thơng mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thơng mại và dịch
vụ.
- Cho vay nông nghiệp.
- Thuê mua và các loại khác.

- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu.
2.2.6. Ngoài các loại cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ
bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với loại nghiệp vụ này,
ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhng khi ngời đợc bảo lãnh không thực
hiện đợc nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải thay thế để thực hiện nghĩa
6

vụ thanh toán. Vì thế, nghiệp vụ này còn đợc gọi là tín dụng bằng chữ ký. Tín
dụng bằng chữ ký bao gồm: tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ, bảo lãnh
của ngân hàng.
2.3. Nghiệp vụ đầu t :
Ngân hàng tham gia vào đầu t, mua bán chứng khoán trên thị trờng chứng
khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch
lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trờng.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp
vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
2.4. Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.
Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu t cho vay cũng nh kiếm lời. Việc kinh doanh
ngoại tệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho
xuất nhập khẩu,...
2.5. Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng:
- Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ
chuyển tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ. Có hai phơng thức chuyển tiền
là chuyển tiền bằng điện và chuyển tiền bằng th.
- Thu chi hộ tiền hàng: Theo những lệnh uỷ nhiệm thu hoặc uỷ nhiệm chi,
ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng chuyển
trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng khi nhận đợc
chứng từ khách hàng nhờ thu hộ...
- Nghiệp vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác

ơng mại cổ phần thì sẽ do các cổ đông đóng góp.
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đợc coi là nguồn vốn tự có và đợc bổ sung
hằng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng. Theo khoản 1 điều 87 luật các tổ
chức tín dụng thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc trích lập
các quỹ từ lợi nhuận, các ngân hàng thơng mại phải tiến hành trích lập các quỹ:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Đợc trích lập hằng năm theo tỷ lệ 5% trên
tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm tới mức tối đa do Ngân hàng Nhà nớc quy
định.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro : Để dự phòng và bù đắp thiệt hại có nguy cơ
ăn mòn vốn do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các ngân
hàng đợc trích từ lợi nhuận ròng hằng năm theo tỷ lệ 10% cho tới khi bằng
100% vốn điều lệ.
8

Hai quỹ này bắt buộc phải trích lập tại các tổ chức tín dụng, không đợc dùng
các quỹ này để trả lợi tức cổ phần hoặc chuyển ra nớc ngoài.
Mặt khác, với t cách là một đơn vị kinh doanh, ngân hàng còn tiến hành trích
lập các quỹ từ lợi nhuận thu đợc:
- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng.
- Quỹ phúc lợi, khen thởng.
Các quỹ này tỷ lệ trích lập theo quyết định của Đại hội cổ đông hoặc theo
chỉ đạo của Nhà nớc.
Vốn riêng của ngân hàng đợc dùng để mua sắm tài sản cố định, các phơng
tiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, nhng không quá 50% vốn tự
có, để tài trợ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng và đợc sử dụng để hùn vốn
liên doanh, mua cổ phần...
Vốn tự có và các quỹ so với tổng số vốn hoạt động của ngân hàng chỉ chiếm
một phần nhỏ.
1.2.2. Vốn huy động.
Các khoản tiền gửi loại này không thuộc sở hữu của ngân hàng nhng ngân

1.2.2.2. Vốn vay.
Ngoài việc huy động tiền gửi theo các hình thức truyền thống, ngân hàng th-
ơng mại có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách đi vay từ các tổ chức
và các tầng lớp dân c thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu ngân hàng,
nhng phải đợc Ngân hàng Nhà nớc chấp nhận, Kỳ phiếu ngân hàng đợc phát
hành rộng rãi. Những ngời mua kỳ phiếu ngân hàng sẽ trực tiếp cho ngân hàng
vay với lãi suất cố định thông báo trớc. Các tờ giấy nhận nợ này sẽ đợc ngân
hàng thanh toán khi tới hạn ghi trên mặt kỳ phiếu. Ngoài ra ngân hàng thơng
mại còn có thể vay ở Ngân hàng Nhà nớc dới hình thức tái chiết khấu hoặc tái
cầm cố các thơng phiếu chứng từ có giá. Vay của các ngân hàng thơng mại, các
tổ chức tín dụng khác thông qua thị trờng tiền tệ liên ngân hàng. Ngân hàng th-
ơng mại cũng có thể vay ở ngân hàng nớc ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nớc
ngoài. Vậy các ngân hàng thơng mại đi vay khi nào?
- Ngân hàng vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Vì hoạt động chủ yếu và thờng xuyên của ngân hàng là nhận tiền gửi và với
trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử
dụng. Do vậy có những trờng hợp số tiền dự trữ và số tiền mà ngân hàng nhận
đợc trớc đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút ra thì ngân hàng sẽ gặp
khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng, nghĩa là ngân hàng thiếu
tiền trả cho khách hàng.Vậy ngân hàng phải đi vay.
- Ngân hàng vay hộ cho khách hàng: Vì hoạt động cơ bản của ngân hàng là
tài trợ cho nền kinh tế nên khi có khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng và
đảm bảo các yêu cầu mà ngân hàng đề ra thì ngân hàng sẽ cho vay. Chẳng hạn:
10

với những khoản vay với số lợng lớn, thời gian dài mà ngân hàng lại không
muốn dùng toàn bộ số tiền mình có để đầu t cho dự án này ( rủi ro cao) vì nh
thế sẽ mất đi toàn bộ những cơ hội đầu t khác. Vì vậy ngân hàng sẽ thay mặt
khách hàng phát hành trái phiếu nhằm thu gom tiền trong nền kinh tế để phục
vụ cho dự án. Ngời ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng

11

một lợng vốn về ngân hàng mẹ để đợc hởng một lãi suất điều hoà. Nh vậy ngân
hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các
chi nhánh ngân hàng trong nền kinh tế. Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà thấp
hơn chi phí nguồn vốn huy động nhng tại sao các ngân hàng đều nhận nguồn
vốn điều hoà sau khi đã lập kế hoạch về lợng vốn huy động đợc trong kỳ sau,
bởi vì tính độc lập của nó với ngân hàng mẹ. Đây là một phơng thức huy động
vốn rất hiệu quả đợc áp dụng nhiều trên thế giới hiện nay.
1.2.2.4. Vốn uỷ thác đầu t.
Một số ngân hàng con thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý. Khi đó trong cơ
cấu vốn của ngân hàng con còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu t. Khoản
vốn này hình thành chủ yếu hình thành là do các tổ chức tài chính nớc ngoài,
trong nớc uỷ thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng thực hiện cho
vay các dự án của mình. Có thể là các khoản vay của Chính Phủ đợc uỷ thác.
Trên đây là cơ cấu vốn chính của các ngân hàng thơng mại. Vốn huy động là
nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn. Tuy nhiên, các
ngân hàng thơng mại phải tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động tối đa
không vợt quá hai mơi lần vốn thuộc sở hữu của ngân hàng và phải chấp hành
tốt các quy định về tỷ lệ dự trữ...
2. Vai trò của vốn đối với Ngân hàng th ơng mại.
Nh mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh đợc tiến hành
cần phải có t liệu sản xuất. Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền
tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh đợc. Hoạt động tìm kiếm t
liệu sản xuất của ngân hàng thơng mại là hoạt động huy động vốn. Nh vậy, huy
động vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thơng
mại.
Thứ nhất: vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh. Đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đợc thì phải có vốn, vì

hoạch định việc cung ứng đầu t cho vay. Ngân hàng đó có thể dự kiến tơng đối
chính xác lợng vốn cung ứng, cho nên sẽ dự kiến đợc lợi nhuận trong tơng lai
khá chính xác.
Thứ ba: Vốn giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh.
Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ
hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu t, vay để thanh
toán... Bởi vì khi đi vay vốn để thực hiện các hoạt động của mình, ngân hàng sẽ
phụ thuộc hoàn toàn vào đối tợng cho vay về thời hạn vay, số lợng vay và chi
phí vay cao. Do đó có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Ngợc
lại, ngân hàng có lợng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt
động kinh doanh của mình, không phụ thuộc vào ai, không bị bỏ lỡ cơ hội kinh
13

doanh. Nguồn vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của ngân
hàng nh chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro
và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lợi.
Thứ t : Vốn giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín
của mình trên thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt
động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín của mình trên thị thờng là điều quan
trọng. Uy tín đó trớc hết đợc thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho
khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng
càng lớn. Mặt khác, uy tín của ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và
đầu t của ngân hàng (ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn
dài nếu nh ngân hàng có nguồn vốn lớn). Điều này phụ thuộc vào hoạt động
huy động vốn của ngân hàng. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn
lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến
hành cạnh tranh có hiệu quả; vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của ngân
hàng trên thị trờng.
Bên cạnh đó, một trong những tác dụng lớn nhất của vốn tự có là tạo sự uy

Tuy nhiên, từ thập niên 60 đến nay, khi chế độ lãi suất trả cho tiền gửi đợc thả
nổi linh hoạt, tài sản nợ trở nên đa dạng và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các
Ngân hàng thơng mại với nhau trong việc tìm kiếm vốn hoạt động đã dần dần h-
ớng các ngân hàng chú ý đến sự giao động của tài sản nợ. Vả lại từ thập niên 60
trở đi thì với sự phát triển nhanh của các thị trờng tài chính liên quốc gia, đã có
rất nhiều loại tài sản có lợi tức ổn định và thanh khoản cao đợc mở ra trớc mắt
các ngân hàng ở các nớc phát triển. Cho nên, vấn đề khó khăn không còn là
đầu t vào đâu mà là làm thế nào có đủ vốn cho đầu t giữa môi trờng cạnh tranh
đầy kịch tính trong hệ thống ngân hàng thế giới.
1. Các hình thức huy động tiền gửi của Ngân hàng Th ơng mại.
Đây là hình thức huy động vốn mà ngân hàng huy động đợc từ tổ chức kinh tế,
cá nhân,...trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, thanh toán hộ,
các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác.
Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng Thơng mại tuỳ thuộc vào các
tiêu thức khác nhau mà đợc chia thành từng loại khác nhau:
1.1. Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay, ngời ta thờng phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này để
có thể quản lý tốt lợng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để ngân hàng xây dựng
chiến lợc dự trữ phù hợp.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, ng-
ời gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãi suất thờng thấp. Tiền gửi không kỳ
15

hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có
thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn (giao dịch) có thể huy động. Hình
thức này chủ yếu là mở cho các doanh nghiệp. Bởi vì các doanh nghiệp gửi tiền
vào ngân hàng mục đích chính không phải để nhận lãi mà là để hởng các dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp; đó là các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, thu chi
hộ,...
Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu của

hạn rất ngắn.
1.3. Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của các cá nhân với mục
đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thờng thì mỗi khoản tiền gửi tiết kiệm có
khối lợng nhỏ, thời hạn ngắn. Những ngời gửi tiền tiết kiệm là những đối tợng
giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng đợc chi tiêu trong tơng lai.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nớc phát
triển, thờng đợc sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Ngời gửi
để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thờng là các khoản tiết kiệm đều
đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định. Đây là
hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính ổn định, đồng
thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho ngời dân mua sắm nhà cửa, ph-
ơng tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là khoản ký gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hởng thu
nhập mà là hởng các dịch vụ của ngân hàng. Thông thờng các khoản tiền gửi
thanh toán có khối lợng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời cha sử dụng
thì ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh.
1.4. Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi.
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó phụ
thuộc vào thu nhập trong nớc và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lợng tiền gửi.
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì ngân hàng còn nhận tiền gửi
dới dạng ngoại tệ nh USD, GBP, DEM,... những khoản ngoại tệ này cũng rất
quan trọng cho hoạt động ngân hàng nh kinh doanh ngoại tệ trong nớc, tài trợ
xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế,...
2. Chứng th tiền gửi loại lớn.
Chứng th tiền gửi loại lớn là một loại hình phiếu nợ do ngân hàng phát ra để
vay tiền của thị trờng. Có hai cách phát hành loại chứng th này:
Một là khi có các đối tợng đến vay tiền để sản xuất hoặc tiêu dùng theo hợp
đồng với ngân hàng, ngân hàng phát lại chứng th này cho họ. Hoặc ngân hàng

Việc vay qua vay lại nh thế diễn ra hàng ngày trong hệ thống ngân hàng th-
ơng mại. Nó hình thành nên một loại tài sản nợ khá thờng xuyên. Tuy nhiên,
khoản nợ này thờng rất ngắn không quá một tuần, và thờng là chỉ một hay hai
ngày vì mọi ngân hàng đều tự ý thức không thể lạm dụng kéo dài thời gian gây
khó khăn cho ngân hàng có thiện chí giúp mình.
4. Vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại.
Hợp đồng mua lại là hình thức vay ngắn hạn trên thị trờng của ngân hàng th-
ơng mại. Trong hoạt động mỗi ngày, việc thiếu tiền mặt bất ngờ cho những th-
18

ợng vụ đầu t đã đợc ký kết hoặc hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung ơng là chuyện
không có gì lạ đối với các ngân hàng thơng mại. Ngoài những biện pháp nêu
trên, trong những trờng hợp cấp thiết, ngân hàng thơng mại có thể vay của thị
trờng trong vài ngày đến vài tuần bằng cách phát hành hợp đồng mua lại.
Đây là một hợp đồng bán chứng khoán giữa ngân hàng và đối tợng kinh
doanh chứng khoán tơng đối thừa tiền mặt trong thị trờng nh các công ty tài
chính, tổ chức tín dụng, các quỹ tiết kiệm, hu trí, các công ty kinh doanh và môi
giới chứng khoán.
Chứng khoán mà ngân hàng đem bán là chứng khoán mà ngân hàng đang đầu
t. Không phải là phiếu nợ do nó phát hành nh các trờng hợp vừa rồi. Những loại
chứng khoán mà ngân hàng thờng đầu t nhất và có thể đem bán theo loại hợp
đồng này là Trái phiếu Kho bạc, Tín phiếu Kho bạc và một số loại trái phiếu, cổ
phiếu khác của thị trờng.
Hợp đồng mua lại có những đặc điểm sau:
- Hợp đồng thuyết minh rõ ràng, ngân hàng chỉ bán ra trong một ngày, hai
ngày hay một tuần, hai tuần. Sau đó, ngân hàng đợc phép mua lại chính các loại
chứng khoán mà nó đã bán ra với giá đúng bằng giá gốc cộng thêm chi phí giao
dịch. Đó là lý do ngời ta gọi đây là thoả thuận hoặc hợp đồng mua lại. Ngời đã
mua chứng khoán của ngân hàng, chỉ đợc bán lại cho chính ngân hàng này vào
một thời gian ngắn sau đó mà không đợc phép bán cho ai khác.

trờng hợp ngân hàng vỡ nợ. Vì sao có thoả thuận này! vì họ đã đợc lãi suất cao
hơn bất kỳ một khoản vay nào khác.
Chứng th mà ngân hàng giao cho họ khi vay là một loại giấy nợ của ngân
hàng (Bank debentures). ở Hoa Kỳ, nó có một tên gọi rộng là giấy nợ phụ
(subordinated debentures). Những khoản vay này khá phổ biến ở Mỹ, và một
thời kỳ ở Nhật và Hàn Quốc.
6. Vay của Ngân hàng Trung ơng.
Các ngân hàng thơng mại hầu nh đều đợc sự cho phép thành lập của Ngân
hàng Trung ơng, cho nên nó đều đợc quyền vay tiền tại Ngân hàng Trung ơng
trong những tình huống thiếu hụt dự trữ.
Trờng hợp không may diễn ra khi ngân hàng thơng mại đến vay giữa lúc
Ngân hàng Trung ơng không muốn khuyến khích sự bàng trớng tín dụng, hoặc
thậm chí nó đang thắt chặt cung ứng tiền để chống lạm phát. Lúc đó lãi suất
chiết khấu đợc đa lên cao với những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của Ngân
hàng Trung ơng. Do đó, các ngân hàng thơng mại chỉ miễn cỡng vay trong
những tình huống thật ngặt nghèo và tìm mọi cách trả nợ rất nhanh.
Dù vay ít hay nhiều, vay thờng xuyên hay chỉ thỉnh thoảng một năm đôi ba
lần, dịch vụ vay từ cửa ngõ chiết khấu của Ngân hàng Trung ơng vẫn là một
20

khoản mục cố định trong tài sản nợ vì không có ngân hàng thơng mại nào mà
cha hề vay của Ngân hàng Trung ơng bao giờ từ khi thành lập.
7. Các khoản vay từ công ty mẹ.
Một hình thức vay vốn khác ngoài các hình thức trên là vốn vay từ công ty
mẹ (parents company). Tại các nớc đã phát triển, một công ty hoặc một tập
đoàn kinh doanh có thể là chủ của một đến rất nhiều ngân hàng thơng mại.
Thay vì ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ để vay tiền của thị trờng
bằng các hình thức kể trên, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của Ngân
hàng Trung ơng về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của ngân
hàng có thể thay thế nó làm chuyện đó dới hình thức phát hành trái phiếu, cổ

Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu
sự điều chỉnh của luật pháp. Các hoạt động của ngân hàng thơng mại chịu sự
điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác
của Nhà nớc. Mặt khác, ở Việt nam hiện nay các ngân hàng thơng mại đợc tổ
chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh ngân hàng trong hoạt
động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dới luật
của nhà nớc ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà ngân hàng mẹ ban
hành trong từng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay....Trong sự ràng
buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hởng
đến quy mô và chất lợng của hoạt động huy động vốn.
1.3. Điều kiện về môi trờng cạnh tranh.
Khi định ra chiến lợc phát triển cho ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến điều
kiện về môi trờng kinh doanh. Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa
bàn sẽ ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Để có thể tồn tại và
phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lợc kinh doanh phù hợp để có thể
thắng trong cạnh tranh với ngân hàng khác. Trong quá trình cạnh tranh với đối
thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực
hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trờng và làm tốt công tác marketing.
Ngân hàng phải bồi dỡng đội ngũ cán bộ để có thể làm tốt công việc của mình.
Nh vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển
chất lợng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huy động vốn.
1.4. Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng.
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những ngời có vốn gửi tại ngân hàng và
những đối tợng sử dụng vốn đó. Về môi trờng xã hội ở các nớc phát triển, khách
hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập đợc chuyển vào tài khoản của họ.
Nhng ở các nớc kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thờng lớn hơn. ở khoản
mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm
lý của ngời gửi tiền. Thu nhập ảnh hởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng
22


động vốn phát huy hiệu quả.
2.3. ảnh hởng của lãi suất huy động.
Lãi suất huy động vốn thờng là mối quan tâm hàng đầu của cá nhân và tổ
chức muốn gửi tiền vào ngân hàng. Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh
23

tế lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút đợc nhiều ngời tham gia
đầu t hơn. Tuy nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cao mà còn phụ
thuộc vào các nhân tố khác nh kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán, uy
tín, địa điểm ... của ngân hàng nhng với lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý thì luôn
luôn có tác dụng kích thích ngời gửi tiền. Nhng lãi suất có ảnh hởng lớn nhất
đến lợng tiền gửi tiết kiệm vì khách hàng chọn gửi tiền theo phơng thức này th-
ờng có mục đích hởng lãi.
2.4. Trình độ công nghệ ngân hàng.
Trình độ công nghệ ngân hàng đợc thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất: Các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài
lòng về dịch vụ đợc ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân
hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh trạnh phi lãi suất vì
khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến
chất lợng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất huy
động nh nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lợng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện
hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các
nghiệp vụ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản
lý tốt nguồn vốn, thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất l-
ợng huy động vốn .

toàn- hiệu quả chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến thuỷ đã chủ động tạo môi
trờng kinh doanh hợp lý giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả lấy hiệu
quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
25

Trích đoạn Tình hình huy động vốn ngắn hạn Tình hình huy động vốn trung-dài hạn Đánh giá chung về công tác huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng công t h- Có định hớng, kế hoạch về phát triển nguồn vốn phù hợp Mở rộng mạng lới huy động, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status