Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hà Tây - Pdf 10

Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Việt Nam là một nước đông dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
trong khi hệ thống NHTM lại mới phát triển, tiềm lực còn yếu, nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư còn lớn, đây là thị trường hấp dẫn với các nhà đầu tư
nước ngoài. Đồng thời, theo cam kết khi gia nhập WTO, đến năm 2010 nước
ta sẽ mở cửa nền kinh tế về mọi mặt đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư nước ngoài, các Ngân Hàng lớn trên thế giới hoạt động tại Việt Nam,
tạo môi trưòng cạnh tranh bình đẳng giữa các Ngân Hàng trong và ngoài
nước.
Vì vậy, mỗi Ngân Hàng cần phải xây dựng cho mình chính sách phát
triển tối ưu trong thời gian tới. Đặc biệt là giải pháp để khai thác hiệu quả
nguồn vốn trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh cũng như góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong xu hướng đó, đề tài: “Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh
Ngân hàng Công Thương Hà Tây” được lựa chọn.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và nghiệp vụ huy
động vốn của NHTM
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHCT Hà Tây giai
đoạn 2005 – 2007
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng khả năng huy động vốn tại NHCT Hà
Tây
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
1
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và nghiệp vụ huy
động vốn của NHTM
1.1. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của
NHTM
1.1.1. khái niệm

- Ngoài ra, còn lượng lớn kiều hối hàng năm gửi về nước theo nhiều
con đường khác nhau chưa được tận dụng khai thác triệt để.
Vì vậy, ngân hàng đóng vai trò quan trọng, giữ trọng trách lớn trong
việc huy động tiền nhàn rỗi để đưa vào sử dụng có hiệu quả. Nền kinh tế có
thể phát triển nhanh chóng nếu có một hệ thống ngân hàng đủ mạnh. Như vậy
đòi hỏi hệ thống ngân hàng của Việt nam phải kiện toàn bộ máy và hoạt động
có hiệu quả trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ.
1.2. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho
ngân hàng thương mại – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động của ngân hàng.
1.2.1. Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân
hàng phải có lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng
lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình
thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính
của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
3
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
 Nguồn hình thành ban đầu
Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng ma nguồn hình thành vốn ban
đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách Nhà
nước cấp (vốn của Nhà nước).. Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng
góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên
liên doanh góp, ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể:

dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến
hạn.
1.2.2. Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là
mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng
cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức và
dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền cuẩ ngân hàng. Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh
toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến
hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, làm thay đổi cầu thanh khoản
của ngân hàng.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
5
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Qui mô tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường nguồn
này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của
các ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi
thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. Ở nhiều nước, ngân hàng phải mua bảo
hiểm cho tiền gửi.
Để gia tăng tiền gửi tong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn
tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều
hình thức huy động khác nhau.
 Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ. trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu
chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các
khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào

động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn
(ví dụ như tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng
vàng..). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết
kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết
kiệm này không dung để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp
để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
 Tiền gửi của các ngân hàng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, ngân
hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô
nguồn này thường không lớn.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
7
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Đặc điểm nguồn tiền gửi:
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách
hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn nhưng chưa đến hạn. Sự
thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân
hàng.
Qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường
nguồn này chiếm trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng
năm của các ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải chịu dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi
thường cao hơn trả lãi cho tiền gửi. Ở nhiều nước, ngân hàng phải mua bảo
hiểm cho tiền gửi.
Một đặc điểm ưu việt của loại hình tiết kiệm là phát hành thường
xuyên và khách hàng không bắt buộc phải đến ngân hàng làm thủ tục đổi sổ
mà khi hết hạn sẽ tự động nhập gốc và ngân hàng sẽ tính lãi kỳ hạn tiếp theo
cho khách hàng. Hiện nay, để giảm bớt thiệt thòi cho khách hàng rút tiền khi
thời gian đã quá nửa kỳ hạn, nhiều ngân hàng áp dụng lãi suất bậc thang cho
khách hàng, nếu khách hàng gửi kỳ hạn một năm nhưng đã quá ba tháng thì

hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường ngân
hàng nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những trái phiếu có chất lượng (thời
gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) phù hợp với muc tiêu của ngân
hàng nhà nước trong từng thời kỳ. Trong diều kiện chưa có thương phiếu,
ngân hàng nhà nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp
vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
b.Vay các tổ chức tài chính khác
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
9
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các
ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự
trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động
hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm
kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có
nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy nguồn vay
mượn tưừ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp
bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay
mượn từ ngân hàng nhà nước. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng
chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng
đại lý ( hoặc ngân hàng nhà nước) .Khoản cho vay có thể không cần đảm
bảo hoặc không được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc. Kết quả
là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.
Hoạt động này giúp ngân hàng đi vay giảm thiểu chi phí so với đi vay ngân
hàng nhà nước mà vẫn đảm bảo mở rộng thị trường đầu ra trong điều kiện
đầu vào còn bị hạn chế, còn ngân hàng cho vay thu được một khoản lợi
nhuận (tiền lãi) từ việc cho vay.
c.Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn
bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị

trường để quyết định qui mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích
hợp. Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ cũng
được các ngân hàng quan tâm.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
11
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Về phía người mua, trái phiếu ngân hàng là giấy chứng nhận việc
đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên số tiền
người mua trái phiếu ngân hàng.
c. Vay nợ nước ngoài
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển cao, hoạt động ngân hàng
mang tính toàn cầu thì nguồn vốn này thường xuyên và khá quan trọng. Tuy
nhiên, đối với những nước đang phát triểnvà chậm phát triển, các ngân hàng
muốn có được nguồn vốn này phải được phép của Ngân hàng nhà nước và
được vay dưới dạng hiệp định khung. Do đó, các nước đang phát triển nguồn
này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn của các ngân hàng thương
mại.
Đặc điểm nguồn đi vay
Tỷ trọng của nguồn này thường thấp hơn nguồn tiền gửi, trừ một số
ngân hàng chuyên hoạt động bán buôn. Các khoản đi vay thường là với thời
hạn và qui mô xác định trước, do vậy tạo thành nguồn ổn định cho khách
hàng. Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường
xuyên: ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết
định lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng. Nguồn vay có thể không chịu
ddbb và bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho
tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kì hạn. Các khoản
vay ngân hàng nhà nước và vay ngân hàng khác tuy lãi suất thấp song thường
có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời cho ngân hàng. Việc
cho vay của ngân hàng nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ mà
ngân hàng nhà nước theo đuổi trong từng thời kì. Việc vay mượn các ngân

13
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành
nguồn trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền kí quĩ để mở l/c...).
Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ
tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
*Nguồn khác:
Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả...phần lớn các
nguồn khác ngân hàng không phải trả lãi ( lãi suất danh nghĩa bằng không).
Tuy nhiên chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể.Vd: để có các nguồn
ủy thác ngân hàng phải tìm kiếm các chủ đầu tư, tìm hiểu yêu cầu của họ,
nghiên cứu các dự án mà họ tài trợ...Nhìn chung, các nguồn khác trong
ngân hàng thường không lớn ( trừ một số ngân hàng có các dịch vụ ủy thác
cho nhà nước hoặc cho các tổ chức quốc tế). Việc gia tăng các nguồn này
nằm trong chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng và bị ảnh hưởng rất
lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ khác.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của
ngân hàng thương mại:
Nguồn tiền gửi là nguồn có tỉ trọng lớn, có thể gấp hàng chục lần
vốn tự có của ngân hàng, tạo tiền đề cho ngân hàng mở rộng nghiệp vụ tín
dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của kinh doanh ngân hàng.
Xuất phát từ vai trò của ngân hàng thương mại đối với hoạt động của
nền kinh tế và vốn đối với hoạt động ngân hàng thương mại nên vốn nói
chung và vốn huy động nói riêng phải không ngừng mở rộng qui mô, nâng
cao hiệu quả là tiền đề quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt
động ngân hàng. Vì vậy, việc tăng cường huy động vốn là sự cần thiết
trong quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mại. Việc huy động
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
14
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp

ngân hàng khi mà lãi suất huy động của các ngân hàng gần như là giống
nhau.
-Cơ sở vật chất cũng là điều hết sức quan trọng và cần thiết để đánh
giá tình hình hoạt động của mỗi ngân hàng. Một ngân hàng có trị sở được
trang trí phù hợp, khang trang, sạch sẽ, trang thiết bị hiện đại sẽ làm cho
khách hàng an tâm hơn khi đến giao dịch. Ngoài ra, địa điểm giao dịch
thuận tiện sẽ tạo thuận lợi hơn cho khách hàng khi đến với ngân hàng,
cũng như giúp ngân hàng có thể quảng bá hình ảnh của mình đến với khách
hàng một cách rộng rãi hơn, hiệu quả hơn.
1.3.1.3. Các loại hình huy động
Do nhu cầu chi tiêu của từng đối tượng khách hàng khác nhau, nên
nhu cầu gửi tiền với các kỳ hạn cũng khác nhau, vì thế mà các ngân hàng
thường đưa ra nhiều hình htức huy động dài ngắn khác nhau, từ không kỳ
hạn đến hai, ba tháng... một năm và trên một năm. Vốn huy động có thể
bằng VNĐ, USD,... theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
Có thể áp dụng các hình thức tiết kiệm dự thưởng để tăng sức hấp dẫn và trí
tò mò của khách hàng hoặc chiết khấu thẻ tiết kiệm trước hạn cho khách
hàng khi cần... Mỗi sự biến động dù nhỏ về mức lãi suất hoặc hình thức
huy động đều có thể ảnh hưởng đến nguồn huy động này. Vì vậy, các ngân
hàng thương mại trước khi ra quyết định cần tính toán kỹ những rủi ro có
thể xảy ra do nguồn vốn này lớn song lại chịu ảnh hưởng cua rtâm lý người
tiêu dùng.
1.3.1.4.Các loại dịch vụ đi kèm
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
16
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Khi một ngân hàng có các dịch vụ tốt và đa dạng thì ngân hàng đó
thường có lợi thế hơn các ngân hàng khác có dịch vụ giới hạn. Vì vậy mà ở
các nước phát triển, bằng việc tạo ra các hoạt động dịch vụ (có bãi gửi xe
rộng, thuận tiện, quầy giao dịch gần đường, hệ thống ngân hàng tự động

địa bàn như: cơ cấu dân cư, tình hình xã hội, thu nhập...
Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, có lạm phát hoặc có nguy
cơ xảy ra lạm phát thì người dân phần lớn không thích gửi tiền tiết kiệm mà
sẽ dùng để mua vàng và ngoại tệ mạnh để tích trữ với kỳ vọng bảo toàn giá
trị trong điều kiện lạm phát xảy ra. Nếu ngân hàng không có hình thức huy
động hấp dẫn như gửi tiền tiết kiệm giá trị theo vàng, gửi tiết
kiệm có tính trượt giá, thì sẽ không huy động được tiền gửi tiết kiệm và lạm
phát có thể bị đẩy lên.
1.3.2.3.Môi trường pháp lý
Ngân hàng hoạt động trong điều kiện đất nước có môi trường pháp lý
đầy đủ, chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc thực hiện công
tác huy động vốn của mình. Môi trường pháp lý lành mạnh sẽ giúp hoạt
động kinh doanh của ngân hàng an toàn hơn, người dân cũng được bảo vệ
quyền lợi tốt hơn, khả năng tiếp cận với ngân hàng cũng dễ dàng và an toàn
hơn. Mặt khác chính bản htân ngân hàng cũng phải đảm bảo cho các hoạt
động của mình nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép, như việc phân
định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của ngân hàng trong việc giữ bí mật
thông tin tài chính của người gửi tiền, giúp khách hàng tin tưởng hơn vào
các dịch vụ của ngân hàng.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
18
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Chương II : Thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng
công thương Hà Tây giai đoạn (2005-2007)
2.1.Giới thiệu về ngân hàng công thương Hà Tây
2.1.1.Tổng quan về môi trường hoạt động
Hà Tây là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thủ đô Hà Nội,
phía Bắc giáp với tỉnh Phú Thọ, phía Tây giáp với tỉnh Hòa Bình, phía
Nam giáp với tỉnh Hà Nam, có diện tích 2147 km², dân số 2,7 triệu người,
tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 13,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 25%,

sáng tạo, đam mê công việc. Tính đến nay ngân hàng có 80 cán bộ
trong đó 85% có trình độ đại học và trên đại học.
Đã xây dựng được cho mình chỗ đứng riêng vững chắc, có được
lượng khách hàng thân thiết nhất dịnh và chiếm thị phần tương đối lới trong
hoạt động kinh doanh tiền tệ tại Hà Tây.
2.1.1.2.Khó khăn
Ngoài những thuận lợi nêu trên, ngân hàng công thương Hà Tây
cũng phải đối đầu với không ít khó khăn và thử thách, cụ thể là:
- Một là: Nhu cầu về vốn kinh doanh của các doanh nghiệp hầu hết là
trong thời gian dài, lãi suất thấp nhưng việc huy động vốn trung và dài hạn
lại gặp nhiều khó khăn. Để huy động được nguồn vốn đó thì phải đảm bảo
lợi ích cho người gửi tiền (lãi suất dài hạn phải lớn hơn lãi suất tiền gửi
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
20
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
ngắn hạn). Huy động dài hạn với lãi suất cao nên cho vay đầu tư cũng phải
với lãi suất cao sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cho cả ngân hàng.
- Hai là: Ngân hàng công thương Hà Tây nằm ở trung tâm của tỉnh
Hà Tây, sát với thủ đô Hà Nội do vậy phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ
phía các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn Hà Nội.
- Ba là: Điều kiện kinh tế xã hội của Hà Tây còn nhiều khó khăn, thu
nhập người dân còn thấp, sức tiêu thụ không cao làm vòng quay vốn của
các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của
các doanh nghiệp đối với khoản vay ngân hàng. Mặt khác, do thu nhập
chưa cao nên lượng tiền nhàn rỗi không nhiều làm cho huy động tiết kiệm
từ dân chúng gặp nhiều khó khăn nhất định.
- Bốn là: Hệ thống chính sách của nước ta còn chưa đồng bộ, thường
xuyên sửa đổi bổ sung gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong
việc áp dụng vào hoạt động kinh doanh của mình.
2.1.2.Khái quát về ngân hàng công thương Hà Tây

- Ngày 1 tháng 2 năm 2007, phòng giao dịch Xuân Mai thuộc ngân
hàng công thương Hà Tây được ngân hàng công thương Việt Nam nâng
cấp thành chi nhánh cấp một.
Do quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như tình
hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng công thương Hà Tây mà quy mô
và cơ cấu tổ chức của ngân hàng thường xuyên có sự thay đổi để phù hợp
với mục tiêu phát triển của ngân hàng cũng như của địa phương.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
22
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Ngân hàng công thương Hà Tây có trụ sở chính đặt tại 269-Quang
Trung-thành phố Hà Đông, bao gồm 8 phòng ban, 1 phòng giao dịch trực
thuộc ban giám đốc và 1 điểm giao dịch thuộc phòng kế toán giao dịch,
tổng số cán bộ công nhân viên của toàn chi nhánh là 80 người trong đó
85% có trình độ đại học và trên đại học.
• Cơ cấu bộ máy tổ chức
( Sơ đồ bộ máy tổ chúc của ngân hàng công thương Hà Tây)
• Chức năng nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và
các dịch vụ ngân hàng khác đối với toàn bộ các thành phần kinh
tế.
- Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của các tổ chức cá
nhân, thực hiện cho vay, đầu tư bảo lãnh, thanh toán, tìa trọ
thương mại và các dịch vụ ngân hàng khác.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng
kế toán
giao
dịch

hành
chính
Điểm
giao
dịch số
1
23
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
- NHCT Hà tây chịu sự quản lý của NHCT VN, Ngân hàng nhà
nước, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và
UBND các cấp theo chức năng quyền hạn theo qui định của pháp
luật.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Hà Tây giai
đoạn (2005 – 2007)
Nhờ sụ chỉ đạo của NHCT Việt nam, sự tin tưởng của khách hàng và
tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhân viên chi nhánh nên dù còn nhiều khó
khăn nhưng chi nhánh vẫn giữ được sự tăng trưởng ổn định qua các năm,
tạo được lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng. Cụ thể, hoạt động kinh
doanh có nhiều chuyển biến tốt ở các nghiệp vụ huy động vốn, tài trợ
thuơng mại, thanh toán, dịch vụ chuyển tiền và công tác đầu tư cho vay thể
hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Hà Tây giai đoạn
2005 – 2007 Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
năm 2005 năm 2006 năm 2007
giá trị
tỷ trọng
(%)
giá trị
tỷ trọng

24
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
2. Cho vay nền kinh tế 647.962 83.7 578.718 83.8 522.564 68.6
Cho vay ngắn hạn
271.32
0 41.9
219.53
2 37.9 254.710 48.7
Cho vay trung và dài hạn
374.32
0 57.8
357.46
3 61.8 262.155 50.2
Cho vay tài trợ ủy thác 2.322 0.4 1.723 0.3 5.699 1.1
3. Các khoản đầu tư 28.424 3.7 0 0.0 28.735 3.8
Đầu tư chứng khoán CP 28.424 0 28.735
4. Thanh toán vốn 25.741 3.3 64.124 9.3 187.702 24.6
Điều chuyển vốn 25.741 64.124 187.702
5. Tài sản cố định 21.831 2.8 34.141 4.9 16.964 2.2
IV. Hoạt động khác
1. Giao dịch mua bán
ngoại tệ 4.198 1.266 1.602
2. Thu dịch vụ ròng 3.692,3 3.818 3.865
( Nguồn: phòng tổng hợp tiếp thị)
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động then chốt của mỗi ngân hàng, ngân hàng
thu được phần lớn lợi nhuận là thông qua “đi vay để cho vay”. Vì vậy, các
ngân hàng nói chung và NHCT Hà Tây nói riêng đều đưa nghiệp vụ huy
động vốn là nghiệp vụ chủ yếu trong quá trình hoạt động của mình.
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status