LỜI MỞ ĐẦU
Việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt động của các
tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút lượng vốn lớn để cho các
doanh nghiệp vay, thực hiện tái đầu tư thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đây chính là
hoạt động truyền thống, chủ yếu của Ngân hàng. Chính vì vậy, kết quả huy động
vốn và sử dụng vốn của tổ chức tín dụng cao hay thấp có ảnh hưởng không chỉ đối
với sự tồn tại và phát triển của bản thân tổ chức tín dụng mà nó còn tác động trực
tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với một nền kinh tế vừa bước ra khỏi cơ chế bao
cấp và đang khởi sắc trong những bước đầu đổi mới như ở nước ta.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào
những thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phải vượt
qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước. Vì mục tiêu
này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng phải trở thành bàn đạp vững chắc
cho nền kinh tế. Tuy nhiên, 10 năm đổi mới chưa phải là nhiều, Ngân hàng còn phải
giải quyết nhiều những khó khăn trước mắt mà một trong những vấn đề nổi cộm là
hiệu quả công tác huy động vốn của ngân hàng hiện nay.
Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng. Ngân
hàng Thương mại Quốc doanh - Ngân hàng Công Thương Tỉnh Hà Tây đã góp phần
không nhỏ vào sự phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực Tỉnh Hà
Tây nói riêng. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn chung. Nâng cao hiệu
quả của hoạt động huy động vốn để củng cố sự tồn tại và phát triển ngân hàng, đã
đang và sẽ là những vấn đề được quan tâm bởi Ngân hàng Công Thương Tỉnh Hà
Tây và hệ thống ngân hàng.
Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Công Thương mại Hà
Tây, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và hoàn thành đề tài: "Giải pháp nâng cao
nghiệp vụ hoạt động huy động vốn tại Ngân Hàng Công Thương Tỉnh Hà
Tây". Với cấu trúc như sau:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng
Thương mại.
Trang 1
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Công Thương
bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân hàng thương mại thì có rất nhiều định nghĩa khác
nhau, nhưng ta thấy rằng các Ngân hàng thương mại không phải là các trung gian tài
chính duy nhất và để hiểu được các Ngân hàng thương mại là như thế nào và để
phân biệt các Ngân hàng thương mại với các trung gian tài chính khác như: Các
Công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần
phải dựa trên tính chất cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương
mại là nơi nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào
Trang 3
các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân
hàng. Ngân hàng Công thương là một NHTM quốc doanh tức là ngoài những đặc
điểm như NHTM thì ngân hàng Công thương có một đặc điểm khác là được Nhà
nước tài trợ nguồn vốn chủ sở hữu.
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc Hội
thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được
thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán". Luật chỉ nêu ngân
hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh có liên quan. Theo tổ chức và mục tiêu hoạt động của các
loại hình ngân hàng, hiện nay hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm hai cấp: Ngân
hàng thương mại và Ngân hàng Trung Ương, Ngân hàng thương mại ra đời với tính
chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ cho vay, chứng khoán và các dịch vụ
khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của nó đối với sự phát triển kinh
tế. Với chức năng của mình, Ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:
1.1.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một
lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác.
Nhưng điều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở
mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn. Bằng vốn huy động được
vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.
1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc
gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội
nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia. Nền
tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân
Trang 5
hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp
vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động
thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà
nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy
hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã
thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Chức năng làm trung gian tín dụng.
Ngân hàng Công thương - Ngân hàng Thương mại quốc doanh, cho nên
cũng có chức năng trung gian tín như Ngân hàng thương mại và được thể hiện qua
sơ đồ luân chuyển vốn sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ luân chuyển vốn
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại làm "cầu nối"
giữa người thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho
những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế
cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho
bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng
môi giới, 80% lợi nhuận của Ngân hàng Công thương - Ngân hàng thương mại
Quốc Doanh là thông qua hoạt động cho vay. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho
Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng này có
quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách
hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức
năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thương mại
góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng
sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân
chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn
của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng thương mại chức năng này góp phần tăng
lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng
nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của
khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền
của Ngân hàng thương mại.
1.2.3 Chức năng tạo tiền
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số
dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của
ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban
đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của
khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản
dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn
tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng
và thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng thương mại thực hiện được chức năng tạo
tiền.
Trang 7
2. VỐN - TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN HUY ĐỘNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương
mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch
vụ kinh doanh khác. Đối với NHCT là một NHTM quốc doanh cho nên nguồn vốn
khách hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn tự có của ngân hàng. Nếu như ngân
hàng cho vay quá số đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của ngân hàng.
2.1.2 Nguồn vốn huy động
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là những giá
trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong
xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký thác, các nghiệp vụ khác và
được dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả
đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách
hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò
quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ngân hàng thương mại
huy động vốn dưới các hình thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và
nguồn vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc
làm uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương
tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động từ máy ATM,...
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác
nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm
khoảng từ 70% - 80% và nó có tính biến động. Nhất là đối với loại tiền gửi không
kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác động lớn của thị trường và
môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động. Vì vậy Ngân hàng thương mại cần
phải đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán trước tình hình
cung cầu vốn để có đối sách phù hợp.
Trang 9
2.2 Vốn huy động và vai trò của nó đối với Ngân hàng thương mại
Vai trò đầu tiên của vốn huy động đó là nó quyết định đến quy mô của hoạt
động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thường nếu so với các ngân hàng
lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm
vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân
hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả
cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này
để làm vốn kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân
hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản
của khách hàng.
* Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách
hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn
thuần tuý cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân
hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần
tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an
toàn vì khách hàng không xác định được thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ
không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
2.3.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn.
Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về thời
hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân hàng xác
định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời
hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh
doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại
thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng.... mục đích là tạo cho khách hàng có được
nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì
là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại
tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
2.3.1.3. Tiền gửi tiết kiệm.
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi. Khi
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách hàng một cuốn sổ,
khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến ngân hàng giao dịch.
Trang 11
Xét về bản chất, tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của cá
nhân người lao động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, và là một dạng đặc biệt để tích
luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hoá. Tiền gửi tiết kiệm có ba loại:
2.3.2.2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng. người sở
hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn. Chứng
chỉ sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường tiền tệ.
2.3.2.3. Phát hành kỳ phiếu.
Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong 1 năm). Nó có đặc điểm giống như
trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nó được sử dụng cho mục
đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng.
2.3.2.4. Giấy tờ có giá khác.
Điển hình là việc phát hành EURO DOLLAR. Đây là hình thức phát hành
phiếu nợ để thu hút vốn ở nước ngoài. Nó có đặc điểm là chỉ dùng huy động vốn
bằng đô la và khi trả lãi và vốn gốc cũng bằng đô la. Đối với loại này ngân hàng sử
dụng để thu hút vốn huy động ngắn hạn (3 tháng). Ở các trung tâm tài chính, loại
phiếu nợ này được chấp nhận như là đô la. Quyền phát hành ở một số nước trong đó
có Việt Nam được giới hạn ở một số ngân hàng đặc biệt, như Ngân hàng Ngoại
thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu. Các ngân hàng trên được phép phát hành phiếu
nợ này ở trong nước và nước ngoài, còn với các ngân hàng khác chỉ được phát hành
ở nước ngoài.
Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá các Ngân hàng thương
mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi. Vì vậy khi phát hành các Ngân hàng
thương mại phải căn cứ vào đầu ra để quyết định đến khối lượng huy động, mức lãi
suất và thời hạn, phương pháp huy động phù hợp.
2.3.3. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác.
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua quan hệ
vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương hoặc các Ngân
hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Vốn đi vay là nguồn
vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động vì vậy chỉ trong trường hợp
Trang 13
ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm
đến các Ngân hàng thương mại khác để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng.
- Một Ngân hàng có hệ thống công cụ lãi suất đa dạng chứng tỏ sự đa dạng
trong hình thức huy động của Ngân hàng đó.
Trong hoạt động tín dụng tức huy động vốn và sử dụngvốn của các Ngân
hàng thương mại noi chung và Ngân hàng thương mại quốc doanh như NHCT - HT
nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn của chính sách lãi suất của Ngân Hàng Công
Thương Việt nam và những quy định về mức lãi suất bắt buộc của Ngân Hàng Nhà
Nước Việt Nam.
3.2 Tình hình kinh tế chính trị và xã hội
Một quốc gia có nềnkinh tế phát triển và ổn định thì cũng tạo điều kiện cho
sự phát triển của hệ thống Ngân Hàng. Kinh tế ổn định, tỷ lệ lạm phát ổn định làm
tăng khả năng tin tưởng, cũng như tính khả thi khi các nhà đầu tư đầu tư vào thị
trường. Từ đó, Ngân hàng có khả năng tăng nhanh hiệu quả huy động vốn cũng như
là đa dạng hình thức huy động để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của nền kinh tế.
Nhà nước hay đại diện trong hệ thống Ngân hàng la Ngân Hàng Nhà nước
Việt Nam nếu có chính sách hợp lý sẽ thúc đẩy hoạt động của hệ thống Ngân Hàng,
đặc biệt là hệ thống Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng Nhà nước cần tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế,chính sách
tiền tệ, tín dụng cho các Ngân Hàng Thương mại
- Các quy định về cơ chế lãi suất tỷ giá
- Các quy chế, quy định cho vay, thế chấp, bảo lãnh, ngoại tệ..
3.3 Sự cạnh tranh của các Ngân hàng hoạt động trên thị trường
Sự tác động của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
của hệ thống Ngân hàng. Các ngân hàng luôn luôn phải đa dạng các hình thức huy
động vốn để thu hút khách hàng.
- Tăng chất lượng hoạt động tín dụng
- Tăng số lượng phòng giao dịch
- Đặc biệt là gia tăng các hình thức huy động với các tỷ lệ lãi suất cạnh tranh
Trang 15
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
hàng là chưa tốt.
Cơ chế thị trường từng ngày từng giờ đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thích
nghi, tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Nhận rõ điều đó, Ban
giám đốc và tập thể cán bộ CNV Ngân hàng Công thương Hà Tây đã không ngừng
học hỏi kinh nghiệm của các Ngân hàng bạn, tổng kết và rút kinh nghiệm khắc
phục những mặt chưa được, tận dụng lợi thế về vốn và khoa học kỹ thuật của toàn
hệ thống từ đó phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
Với lợi thế trụ sở nằm ngay tại thị xã Hà Đông, nơi tập trung cơ quan đầu
não của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lớn, sát nách thủ đô Hà nội
trung tâm kinh tế, chính trị – xã hội của Đảng và Nhà nước. Cho nên, mọi thông tin
và đường lối chính sách phát triển kinh tế – xã hội của dảng và Nhà nước đến với
NHCT- HT rất nhanh chóng và kịp thời để có thời gian triển khai.
1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Công thương tỉnh Hà Tây
1.1.2.1. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức của NHCT- HT
Khác với các Ngân hàng khác trên địa bàn, NHCT-HT không có các chi
nhánh ở các huyện lị. Do vây, từ ngày thành lập đến hết quý 3 năm 2002, Ngân hàng
CT- HT luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng và nâng cao hiệu quả huy
động và sử dụng vốn, NHCT- HT đã mở 5 phòng giao dịch, 16 quỹ tiết kiệm ở thị
xã Hà Đông. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và do tình hình kinh doanh của
một số phòng giao dịch. Đồng thời được sự đồng ý của Tổng Giám đốc NHCT Việt
Nam từ tháng 11/2001 NHCT có hai phòng sát nhập và nâng lên thành chi nhánh
trực thuộc.
Cơ cấu tổ chức của NHCT –HT đến quý 3/2002 gồm có: Ban giám đốc, 8
phòng ban tại hội sở chính, 4 Phòng giao dịch, 1 chi nhánh trực thuộc và các quỹ tiết
kiệm trực thuộc chi nhánh, các phòng giao dịch. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHCT-
HT như sau:
Trang 17
Sơ đồ: BỘ MÁYTỔ CHỨC NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH HÀ
TÂY
CHI
NHÁNH
TRỰC
THUỘC
PHÒNG
GIAO
DỊCH SỐ
PHÒNG
GIAO
DỊCH SỐ
PHÒNG
GIAO
DỊCH SỐ
PHÒNG
GIAO
DỊCH SỐ
Phòng
kinh
doanh
Phòng
kế
toán
Quỹ
tiết
kiệm
số
Quỹ
tiết
kiệm
số
- Bộ phận làm công tác tín dụng
Phòng kinh doanh có chức năng tham mưu cho Giám đốc về việc:
- Lập kế hoạch kinh doanh hàng năm, quí , tháng của toàn chinh nhánh
- Cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro và quản lý diều hành vốn kinh doanh
hàng ngày, đảm bảo cung cấp đủ vốn và trực tiếp giao dịch với khách hàng
hàng ngày
- Thông kê tổng hợp kết quả kinh doanh hàng tháng và hướng dẫn nghiệp vụ
tín dụng đối với các phòng giao dịch và quản lý các hoạt động cho vay
- Xử lý các khoản nợ khó đòi, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả chậm,
bảo lãnh cho khách hàng dự thầu , thực hiện hợp đồng và tạm ứng chi phí...
* Phòng kế toán tài chính
Trang 19
Bao gồm 4 bộ phận:
-Bộ phận giao dịch với khách hàng
-Bộ phận kế toán tổng hợp
-Bộ phận kế toán thanh toán
-Bộ phận kế toán quản lý tài sản
Chức năng nhiệm vụ của phòng là tổ chức tốt các nghiệp vụ thanh toán, tài
chính, hạch toán theo quy định kế toán của NH CT Việt Nam. Tổ chức hạch toán
phân tích, hạch toán tổng hợp các loại tài khoản về nguồn vốn, sử dụng vốn của toàn
chi nhánh
Chỉ đạo công tác kế toán của các chi nhánh, theo dõi tiền gửi, vay của các chi
nhánh và tổ chức thanh toán điện tử trên các chi nhánh, trong hệ thống, thanh toán
bù trừvới các ngân hàng trên địa bàn.
Tham mưu cho Giám đốc công tác thanh toán, lập kế hoạch tài chính năm,
quí tháng để làm cơ sở cho các bộ phận trong toàn chi nhánh thực hiện, quản lý
hướng dẫn công tác tài chính toàn chi nhánh.
* Phòng quản lý tiền dân cư
Chức năng của phòng là tham mưu cho Giám đốc trong tổ chức thực hiện các hình
thức huy động vốn, điều chỉnh lãi suất và huy động vốn cho phù hợp với cung cầu
toán báo sổ. Tuỳ theo tình hình kinh tế từng thời kỳ Giám đốc có giao mức phán
quyết cho vay đối với các trươngr phòng cho phù hợp. Chi nhánh tiến hành phân
công cho các phòng phụ trách cho vayđối với từng địa bàn nhất định. Ví dụ: phòng
giao dịch số 1 phụ trách các huyện Thường Tín, Chương Mỹ; Phòng giao dịch số 2
phu trách huyện Đan Phượng và Hoài Đức....
1.2. Khái quát tình hình kinh doanh trong thời gian qua của NHCT - HT
Quá trình đổi mới và phát triển của NHCT- HT gắn liền với sự đổi mới của
hệ thống Ngân hàng Việt Nam, nằm trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế do
Đảng và Nhà nước ta khởi xướng và chỉ đạo thực hiện.
Chuyển từ một chi nhánh Ngân hàng Nhà nước sang một chi nhánh ngân
hàng thương mại, NHCT – HT đã hòa nhập với sự phát triển của nền kinh tế thị
Trang 21
trường. Tập thể cán bộ và nhân viên chi nhánh NHCT – HT đã phấn đấu thực hiện
tốt chức năng nhiệm vụ được giao, qui mô và kết quả kinh doanh ngày được nâng
cao.
NHCT – HT đã chú trọng đổi mới trong mọi lĩnh vực hoạt động, nhằm đáp
ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, vừa phát huy các nghiệp vụ cổ
truyền của Ngân hàng, đồng thời mở rộng các nghiệp vụ mới như: kinh doanh ngoại
tệ, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh mua hàng...Trải qua 14 năm đi vào hoạt động, đến
nay NHCT- HT đã khẳng định được vị trí của mình trên thương trường, đứng vững,
và phát triển trong cơ chế mới của nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả
nước có xu hướng chững lại, các doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó
khăn, các doanh nghiệp Nhà nước rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ. Để giảm tác
động xấu đến nền kinh tế, Nhà nước liên tục điều chỉnh lãi suất tiền vay, tiền gửi
theo xu hướng lãi suất tiền vay giảm nhanh hơn lãi suất tiền gửi.
Những thay đổi đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của hệ
thống Ngân hàng nói chung và NHCT – HT nói riêng. Mặc dù vậy, Ban giám đốc
cùng toàn thể CBNV chi nhánh từng bước khắc phục được khó khăn, không ngừng
phấn đấu đi lên.
2 Tæng nguån
vèn huy ®éng
Trang 23
Cơ cấu nguồn vốn huy động thể hiện hai điểm chính:
Cơ cấu nguồn vốn huy động biến động theo tỷ trọng vốn bằng ngoại tệ tăng
nhanh, nhất là sau khi chi nhánh thực hiện các biện pháp đẩy mạnh huy động vốn
ngoại tệ như: Trang thiết bị, các loại máy kiểm tra ngoại tệ, đào tao thủ quỹ, tuyên
truyền, quảng cáo.. Số dư vốn huy động ngoại tệ đến ngày 31/12/2000 là 11.8 triệu
$, chiếm 39% tổng vốn huy động, đến ngày 31/12/2001 là 15,97 triệu $ chiếm
45,7% số vốn huy động. Năm 2002 cho đến nay doanh nghiệp đã huy động được
16,4 triệu $. Trong điều kiện cả nước gặp khó khăn về ngoại tệ nhưng chi nhánh
vẫn vượt kế hoạch chỉ tiêu tỷ trọng ngoại tệ trên tổng nguồn vốn đề ra là 35 – 40%.
Bên cạnh việc chú trọng huy động vốn , chi nhánh NHCT – HT còn quan
tâm đến công tác kiểm tra huy động vốn. Hàng năm, chi nhánh kiểm tra toàn bộ ở 6
phòng giao dịch và 16 quỹ tiết kiệm, kiểm tra chế độ thẻ trắng, kiêm tra định mức
tồn quỹ, kiểm tra việc chi tra lãi gốc...Qua kiểm tra cho thấy các quỹ tiết kiệm thực
hiện tốt các nghiệp vụ của ngành, quy định của cơ quan, đảm bảo an toàn tuyệt đối
tài sản của Ngân hàng và của khách hàng.
Cơ cấu tiền gửi doanh nghiệp tăng có lợi cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Cụ thể tiền gửi doanh nghiệp ước bình quân năm 2002 là 124.101 triệu
đồng, tăng so với cùng kỳ năm ngoái là 57.697 triệu đồng, tỷ lệ tăng 86,9%. Song
tiền gửi doanh nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng thấp 18,6% trên tổng nguồn vốn huy động
và đây cũng là tiền gửi doanh nghiệp lớn nhất từ trước tới nay. Nguồn vốn tiền gửi
tiết kiệm tốc độ tăng chậm hơn so với tiền gửi doanh nghiệp. Cụ thể số dư tiền gửi
tiết kiệm bình quân năm 2002 ước 454.027 triệu đồng, tăng so với năm 2001
là39.119 triệu đồng, tỷ lệ tăng 9,4%. Song tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm vẫn chiếm tỷ lệ
cao trong nguồn vốn huy động của Chi nhánh.
Cơ cấu nguồn vốn bằngVNĐ tăng nhanh hơn. Năm 2002 nguồn vốn VNĐ
tăng bình quân so với cùng kỳ là 138.668 triệu đồng, tỷ lệ tăng 50,1%. Nguồnvốn
ngoại tệ tăng 44.456 triệu đồng, tỷ lệ tăng 20,3%.
với dư nợ cuối năm 2000. Cho đến năm 2002 thì tỷ lệ đó là12,7% so với năm
2001.
Cơ cấu cho vay, thu nợ đối với các thành phần kinh tế được thể hiện qua bảng sau:
Đơn vị: triệu đồng
ST Chỉ tiêu Năm Năm 2000 Năm 2001 Năm
Trang 25