Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội - Pdf 73

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
MỤC LỤC
Lời mở đầu:…………………………………………………………………1
Chương 1: Chất lượng hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng - những vấn đề cơ bản………….3
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và chức năng của bảo lãnh ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm ………………………………………………………….. 3
1.1.1.2 Đặc điểm...............................................................................................5
1.1.1.3 Chức năng............................................................................................ 6
1.1.1.4 Vai trò................................................................................................... 8
1.1.2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng............................................................ 9
1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức phát hành.......................................................... 9
1.1.2.2 Căn cứ vào đối tượng bảo lãnh...........................................................12
1.1.2.3 Căn cứ vào tính chất bảo lãnh.............................................................15
1.1.2.4 Căn cứ vào điều kiện thanh toán.........................................................17
1.1.3 Nội dung của bảo lãnh ngân hàng......................................................18
1.1.3.1 Nội dung thư và hợp đồng bảo lãnh....................................................18
1.1.3.2 Phí bảo lãnh..........................................................................................19
1.1.4 Các hình thức bảo lãnh ngân hàng....................................................19
1.2 Chất lượng bảo lãnh................................................................................20
1.2.1 Khái niệm về chất lượng bảo lãnh..........................................................21
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá................................................................................23
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động bảo lãnh................23
1.3.1 Nhân tố khách quan.................................................................................23
1.3.2 Nhân tố chủ quan.....................................................................................23
Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân
hàng Ngoại thương Hà nội
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
2.1 Tổng quan về ngân hàng.........................................................................24

nước, ngành Ngân hàng Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Hệ
thống Ngân hàng đã được đổi mới từ cơ cấu tổ chức đến các hoạt động kinh
doanh. Các nghiệp vụ ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển đa dạng.
Bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống, ngân hàng ngày càng phát triển
thêm các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại phù hợp với xu hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và một trong những nghiệp vụ đó chính là nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng.
Nghiệp vụ bảo lãnh đã ra đời và đi vào hoạt động. Cho đến nay, đã trở
thành một trong những nghiệp vụ mạnh nhất của ngân hàng trong xu hướng
toàn cầu hoá về các nghành đầu tư, tín dụng, thương mại...
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng chỉ mới xuất hiện trong những năm gần
đây, nhưng nó đã phát huy được vai trò hết sức to lớn. Đặc biệt, khi nền kinh tế
nước ta còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình huy động vốn, thiếu thiết bị
công nghệ hiện đại, uy tín trên thị trường thế giới còn chưa cao. Bảo lãnh ngân
hàng là một nghiệp vụ còn mới mẻ, nên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc, đôi khi còn gây ra tổn thất cho chính bản thân ngân
hàng. Chính vì vậy mà việc áp dụng nghiệp vụ bảo lãnh trong hoạt động của
ngân hàng còn bị hạn chế chưa phát huy được hết vai trò của nó.
Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo lãnh đối với ngân
hàng nói chung và với Ngân hàng Ngoại thương Hà nội nói riêng có định
hướng nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ bảo lãnh nhằm góp
phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động chung của toàn hệ thống ngân hàng.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Là một sinh viên ngành ngân hàng, tôi đã nhận thức rõ vai trò và tầm quan
trọng của các nghiệp vụ ngân hàng. Sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh
Ngân hàng Ngoại thương Hà nội, tôi đã tìm hiểu và chọn đề tài: Giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Hà nội.

- Bảo lãnh đối vật: được áp dụng chủ yếu trong quan hệ kinh tế và dân sự có
yếu tố tài sản, với sự đảm bảo rằng nếu bên được bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đền bù cho bên nhận bảo lãnh với số tiền được
thỏa thuận từ trước.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Như vậy, bảo lãnh là sự cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh
về việc đảm bảo sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi họ
không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình trong hợp đồng.
Ngày 26/6/2006 NHNN đã ra quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ban hành
quy chế mới về bảo lãnh ngân hàng. Quy chế này thay thế quy chế “Bảo lãnh
ngân hàng” được ban hành theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày
25/08/2000 của thống đốc ngân hàng nhà nước và theo quyết định số
386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về
việc sửa đổi một số điều trong quy chế Bảo lãnh đã chỉ rõ:
“Bảo lãnh Ngân hàng” là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
“Bên bảo lãnh” là các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng thương mại
cổ phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân
hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam, ngân hàng hợp
tác, các loại hình ngân hàng khác và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thành
lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng. Ngoài ra còn có các ngân hàng
được thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thanh toán quốc tế
được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh
khác mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tổ chức tín dụng thực
hiện bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu theo quy định của pháp luật về thương phiếu.

Để tiến hành được một nhiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, thông thường không
chỉ có ngân hàng và người được bảo lãnh tham gia mà cón có người nhận bảo
lãnh. Giữa các chủ thể này có mối quan hệ với nhau qua hợp đồng kinh tế.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thông qua hợp
đồng mua bán hàng hoá.
Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên nhận bảo lãnh thông qua
cam kết bảo lãnh dưới hình thức thư bảo lãnh, thư L/C.
Do vậy, ta có thể hiểu rằng bảo lãnh ngân hàng không chỉ là mối quan hệ
song phương mà là mối quan hệ đa phương.
1.1.1.2.2 Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập
Mặc dù ngân hàng sẽ bồi thường cho người thụ hưởng những thiệt hại gây
ra do không thực hiện đúng như trong hợp đồng gốc với người được bảo lãnh,
song việc thanh toán một bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản và điều kiện
quy định trong cam kết bảo lãnh. Tức là, bên nhận bảo lãnh chỉ được quyền đòi
tiền bảo lãnh đối với ngân hàng nếu những điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh
xảy ra và ngân hàng cũng không thể viện ra các điều khoản trong hợp đồng gốc
để từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.
Tính độc lập còn được thể hiện ở chỗ ngân hàng có quyền truy đòi khoản
tiền bảo lãnh đã trả thay cho khách hàng ngay sau khi ngân hàng thực hiện yêu
cầu thanh toán từ bên nhận bảo lãnh mà không hề bị ảnh hưởng bởi các điều
khoản của hợp đồng gốc.
1.1.1.2.3 Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng
Khi ngân hàng phát hành một cam kết bảo lãnh thì ngân hàng chưa thực sự
phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, ngân hàng chỉ tiến hành thu phí bảo lãnh do bên
được bảo lãnh đóng. Bảng cân đối tài sản chưa hề bị thay đổi, do vậy nghiệp vụ
bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Bảng cân đối tài sản chỉ thay
đổi khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, khi

bán gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính và chịu nhiều rủi ro nếu như phải
hoàn tất các hạng mục hoặc toàn bộ hợp đồng mới được thanh toán. Do vậy, để
công trình tiến hành thuận lợi, chủ thầu hoặc người mua thường tạm ứng trước
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
cho từng công đoạn với điều kiện nhà thầu phải có một bảo lãnh do ngân hàng
có uy tín đứng ra cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền ứng trước đó. Vì thế ngân hàng
được coi như một công cụ tài trợ.

1.1.1.3.4 Bảo lãnh được dùng như một công cụ đánh giá
Bảo lãnh ngân hàng giúp bên nhận bảo lãnh có những đánh giá nhất định
về năng lực tài chính và hoạt động của bên đối tác thông qua việc ngân hàng có
chấp thuận hay không chấp thuận bảo lãnh. Bởi vì ngân hàng là một định chế
tài chính có chuyên môn cao, có khả năng phân tích đánh giá được tình trạng
khách hàng của mình. Do vậy, việc ngân hàng không sẵn sàng chấp thuận bảo
lãnh cho đối tác chứng tỏ rằng họ có điều gì không ổn về mặt tài chính hoặc
năng lực sản xuất kinh doanh.
Trên đây là những chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Nó
có tác động to lớn đến tất cả các chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh cả trên
phương diện nghĩa vụ và quyền lợi.
1.1.1.4 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.1.1.4.1 Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh ngân hàng được coi là một công cụ quan trọng được sử dụng
ngày càng rộng rãi để trợ giúp cho các hoạt động kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng
đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế để phát triển kinh tế đất nước.
Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ đầu tư thực hiện vay vốn
trong và ngoài nước, đáp ứng nhu cầu về vốn, phục vụ cho đầu tư phát triển.
Đối với một doanh nghiệp không phải là khách hàng truyền thống, thì việc xin
vay vốn đặc biệt là với số vốn xin vay lớn, rất ít khi được ngân hàng cho vay.

1.1.2 PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức phát hành
1.1.2.1.1 Bảo lãnh trực tiếp
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
11
NH phát hành
bảo lãnh
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cam kết và chịu trách
nhiệm trực tiếp với bên nhận bảo lãnh về cam kết của mình. Bảo lãnh trực tiếp
có thể thông báo thông qua ngân hàng phát hành.
Bảo lãnh trực tiếp còn có tên gọi khác là bảo lãnh ba bên. Bảo lãnh trực
tiếp ngân hàng bảo lãnh phát hành trực tiếp cho người thụ hưởng. Người được
bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành một bảo lãnh với các điều kiện và thời
hạn được quy định trong hợp đồng, đồng thời cam kết sẽ hoàn lại cho ngân
hàng phát hành nếu ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Sau khi xem
xét nếu ngân hàng đồng ý sẽ ký phát hành một bảo lãnh.
Ta có mô hình như sau:

Trong đó:
(1) Là thoả thuận giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Bên được
bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng.
(2) Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một bảo
lãnh ngân hàng.
(3)Ngân hàng phát hành sẽ phát hành một thư bảo lãnh cho người thụ hưởng
thông qua ngân hàng thông báo.
(4)Ngân hàng thông báo bảo lãnh sẽ kiểm tra tính trung thực và thông báo lại
cho bên nhận bảo lãnh.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
12

Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
13
NH phát hành
bảo lãnh đối
ứng
NH phát hành
bảo lãnh
Bên được bảo
lãnh
Bên nhận bảo
lãnh
(1)
(2)
(3)
(4)
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
Trong đó:
(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng.
(2) Bên được bảo lãnh đề nghị ngân hàng phục vụ mình yêu cầu một ngân
hàng khác tại quốc gia của bên nhận bảo lãnh phát hành bảo lãnh.
(3) Ngân hàng thứ 2 phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
(4) Ngân hàng phát hành thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.
Sau khi ngân hàng phát hành thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng
phát hành yêu cầu ngân hàng bảo lãnh đối ứng hoàn trả lại số tiền mà họ đã
thanh toán cho bên nhận bảo lãnh và ngân hàng phát hành đối ứng yêu cầu bên
được bảo lãnh phải hoàn trả số tiền bảo lãnh.
1.1.2.1.3 Bảo lãnh được xác nhận
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo
lãnh về việc đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín
dụng được xác nhận bảo lãnh. Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh không

xây lắp đã hoàn thành, chủ đầu tư sẽ giữ lại một tỷ lệ phần trăm nhất định số
tiền phải thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo chất
lượng công trình. Thay vào số tiền đó chủ đầu tư có thể yêu cầu một bảo lãnh
chất lượng công trình.
1.1.2.2.6 Bảo lãnh bảo hành
Đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành của bên được bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh. Loại bảo lãnh này thường được sử dụng khi mua bán, lắp đặt
máy móc, thiết bị hoặc dây chuyền sản xuất.
1.1.2.2.7 Bảo lãnh hải quan
Khi hàng hoá thuộc diện tạm nhập tái xuất như nhập để dự hội chợ, triển
lãm, nhà thầu nhập máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động xây lắp. Bên nhập
khẩu phải tạm nộp thuế nhập khẩu và được hoàn lại khi tái xuất. Bên nhập khẩu
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
có thể không nộp thuế nhập khẩu và sử dụng bảo lãnh hải quan để đảm bảo việc
tái xuất này.
1.1.2.2.8 Bảo lãnh vay vốn
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo
lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng
không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn.

1.1.2.2.9 Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành về việc đảm bảo
khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp
đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trong trường hợp khách hàng bị phạt
tiền do không thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản
phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt
cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
1.1.2.2.10 Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước

Bên bảo lãnh chỉ thanh toán cho bên hưởng trong trường hợp bên được
bảo lãnh không còn khả năng thanh toán. Như vậy, khi bên được bảo lãnh vi
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
17
Ngân hàng
Ngân hàng Ngân hàng
Người bán
đầu tiên
Trung gian
Người mua / Người bán
Người mua
cuối cùng
Trung gian
Người mua / Người bán
Ngân hàng
Ngân hàng Ngân hàng
Người mua
cuối cùng
Trung gian
Người mua / Người bán
Người bán
đầu tiên
Trung gian
Người mua / Người bán
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
phạm cam kết với bên hưởng và phát sinh thiệt hại cho bên hưởng thì trước hết
bên hưởng phải đòi bên được bảo lãnh bồi thường. Khi bên được bảo lãnh
không có khả năng thanh toán thì bên bảo lãnh mới trả tiền theo bảo lãnh. Số
tiền thanh toán được xác định theo phán quyết của trọng tài hoặc toàn án.
Một số bảo lãnh truyền thống còn cho phép bên bảo lãnh có thể thay thế

xuất trình những chứng từ quy định trong thư bảo lãnh. Chứng từ mà người
hưởng phải xuất trình khi đòi tiền rất đơn giản. Trong nhiều trường hợp người
hưởng chỉ cần xuất trình một yêu cầu đòi tiền bằng văn bản là đủ, không cần bất
kỳ một chứng từ nào khác để chứng minh sự vi phạm của bên được bảo lãnh
cũng như thiệt hại (nếu có). Như vậy, đối với người hưởng bảo lãnh trả tiền
ngay có giá trị như tiền đặt cọc vì thủ tục đòi tiền đơn giản cộng với uy tín của
ngân hàng phát hành. Thay vì trực tiếp giữ tiền người hưởng nhờ ngân hàng giữ
hộ. Bên được bảo lãnh cũng được lợi vì không bị đọng vốn. Trong đa số trường
hợp bên được bảo lãnh sử dụng hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp để phát
hành bảo lãnh và trả một khoản phí nhỏ cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Chính vì đáp ứng được những yêu cầu của tất cả các bên có liên quan nên bảo
lãnh trả tiền ngay ngày càng được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế
và được gọi là bảo lãnh hiện đại để phân biệt với bảo lãnh truyền thống.
1.1.2.4 Căn cứ vào điều kiện thanh toán
1.1.2.4.1 Bảo lãnh vô điều kiện
Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà ngân hàng phát hành sẽ phải
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay khi bên nhận bảo lãnh yêu cầu không được
phép trì hoãn. Khi đó bên nhận bảo lãnh chỉ cần xuất trình một văn bản yêu cầu
thanh toán mà không cần phải có thêm văn bản nào khác chứng minh rằng bên
được bảo lãnh đã vi phạm những điều khoản có trong cam kết bảo lãnh.
Loại bảo lãnh này tạo ra lợi thế rất lớn cho bên nhận bảo lãnh vì họ có
quyền yêu cầu thanh toán bất cứ lúc nào trong thời gian hiệu lực của bảo lãnh
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
19
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
khi mà họ nhận thấy rằng bên được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên
nó gây bất lợi rất lớn cho bên được bảo lãnh và cả phía ngân hàng. Do việc bồi
thường mang tính chủ quan nên khả năng xảy ra gian lận lừa đảo từ bên nhận
bảo lãnh là khá cao.
1.1.2.4.2 Bảo lãnh có điều kiện

- Quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Quy định về bồi hoàn sau khi tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh.
- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Những thỏa thuận khác.
Hợp đồng bảo lãnh có thể được sửa đổi, bổ sung, hoặc huỷ bỏ nếu các bên
liên quan có thỏa thuận.
1.1.3.2 Phí bảo lãnh
Mức phí do 2 bên thỏa thuận, mức phí không vượt quá 2%/ năm tính trên
số tiền còn đang được bảo lãnh. Ngoài ra, khách hàng phải thanh toán cho chi
nhánh các chi phí hợp lý khác phát sinh liên quan đến giao dịch bảo lãnh khi
các bên có thỏa thuận bằng văn bản.
1.1.4 CÁC HÌNH THỨC PHÁT HÀNH BẢO LÃNH
Sau khi ký kết hợp đồng bảo lãnh với khách hàng, ngân hàng sẽ căn cứ vào
yêu cầu của bên cho vay hoặc chủ đầu tư quy định trong hợp đồng vay vốn
hoặc hợp đồng thi công xây lắp, ngân hàng sẽ ký phát hành một trong số các
hình thức bảo lãnh sau cho khách hàng.
1.1.4.1 Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh
Ngân hàng có thể phát hành thư bảo lãnh và xác nhận bảo lãnh cho tất cả
các loại hình bảo lãnh. Thư bảo lãnh và xác nhận bảo lãnh do ngân hàng lập ra
theo yêu cầu của bên được bảo lãnh và các điều khoản trong thư bảo lãnh phải
được bên nhận bảo lãnh chấp thuận và phù hợp với lợi ích của ngân hàng.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
21
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
1.1.4.2 Ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu, lệnh phiếu
Hình thức này được sử dụng chủ yếu với loại hình bảo lãnh vay vốn và
bảo lãnh thanh toán. Sau khi kiểm tra và đối chiếu giữa bộ hối phiếu do bên
được bảo lãnh phát hành hoặc lệnh phiếu do bên nhận bảo lãnh phát hành với
các nội dung tương ứng trong hợp đồng gốc. Ngân hàng sẽ ký xác nhận bảo
Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh x 100%
Tổng doanh thu
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
* Từ góc độ ngân hàng:
Trước khi tiến hành một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã phân loại chủ
thể theo mức độ an toàn từ cao đến thấp như là: chính phủ, công ty bảo hiểm,
các NH, các DN, các cá nhân. Tuy vậy, một nghiệp vụ bảo lãnh được coi là tốt
phải được tiến hành tốt ngay từ khi thẩm định bảo lãnh cho đến khi kết thúc một
nghiệp vụ bảo lãnh với kết quả là ngân hàng thu được doanh thu từ nghiệp vụ này.
Tóm lại, một hoạt động bảo lãnh được coi là có chất lượng khi mà nó đem
lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Bên được bảo lãnh thì có nhiều điều kiện
tiếp cận với nguồn vốn, công nghệ để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất, nâng
cao lợi nhuận. Bên nhận bảo lãnh cũng yên tâm hơn khi cho vay vốn, bán hàng
hoá, máy móc, thiết bị công nghệ. Còn ngân hàng thì hỗ trợ cho khách hàng
phát triển, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường mối quan hệ
với khách hàng, đẩy mạnh uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế, thu hút
thêm khách hàng. Góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
Để đánh giá một nghiệp vụ bảo lãnh có chất lượng hay không, ta phải đánh
giá cả quá trình thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đó.
- Ngân hàng phải đảm bảo mọi bước thực hiện đều đúng pháp luật.
- Ngân hàng phải đáp ứng dịch vụ bảo lãnh hoàn hảo theo yêu cầu của khách
hàng trong thời gian nhanh nhất như: thủ tục đơn giản, quá trình cấp bảo lãnh
nhanh chóng, các điều khoản thuận lợi khi thanh toán. Về thời gian để thực hiện
một món bảo lãnh, mỗi một ngân hàng có quy định thời gian làm việc đáp ứng

Nếu hệ số này lớn chứng tỏ hoạt động dịch vụ bảo lãnh ngân hàng rất phát
triển, số lượng khách hàng đến sử dụng dịch vụ bảo lãnh không phải là nhỏ.
- Chỉ tiêu chi phí từ hoạt động bảo lãnh.
Phản ánh các khoản tiền mà ngân hàng đã bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh và các nghĩa vụ khác có liên quan đến hoạt động bảo lãnh. Chi phí này
được đưa vào chi phí ngoài để hạch toán. Chi phí này càng giảm chứng tỏ hoạt
động bảo lãnh không xảy ra nhiều rủi ro.
- Chỉ tiêu lãi từ hoạt động bảo lãnh.
Lãi từ hoạt động bảo lãnh được tính bằng:
Lãi từ hoạt động bảo lãnh = Doanh thu – chi phí
Lãi từ hoạt động bảo lãnh góp phần tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân
hàng. Chỉ tiêu này cho biết hoạt động bảo lãnh mạng lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho ngân hàng.
Nguyễn Thu Hằng Tài chính doanh nghiệp 46Q
24
Tỷ trọng doanh thu từ

hoạt động bảo lãnh (%)

=
Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh x 100%
Tổng doanh thu
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng - Tài Chính
- Chỉ tiêu dư nợ bảo lãnh quá hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status