Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nằm trong khu vực được coi là năng động nhất trên thế giới,Việt Nam
có được những thuận lợi để phát triển, hội nhập cùng các nước trong khu vực
và trên thế giới. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải rất linh hoạt và năng động để
tiêp thu những thành tựu tiên tiến cũng như kinh nghiệm phát triển của các
nước trên thế giới.Trong đó Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế tài
chính quan trọng bậc nhất trong việc phát triển của nền kinh tế.Tuy hoạt động
Ngân hàng ở nước ta gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề tồn tại nhất là
trong khâu tín dụng của các NHTM.Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản
của NHTM nhưng chất lượng tín dụng chưa cao đang là mối quan tâm của
các cấp lãnh đạo,các cấp quản lí và điêu hành hệ thống Ngân hang.
Là một trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất hiện
nay, Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua đã có những bước phát
triển lớn mạnh không ngừng.Tuy nhiên trong lĩnh vực tín dụng và đặc bịêt là
tín dụng ngắn hạn Ngân hàng gặp không ít khó khăn.Bởi vậy chất lượng tín
dụng ngắn hạn là vấn đề mà Ngân hàng cần đặc biệt quan tâm.
Xuất phát từ lý do trên trong thời gian thực tập tại Ngân hàng ngoại
thương Hà Nội em đã chọn đề tài ”Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn
tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội’’ làm chuyên đề tốt nghiệp.
Bố cục của chuyên đề ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo gồm 3 phần:
Chương 1: cơ sớ lí luận về chất lượng tín dụng ngắn hạn
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng
Ngoại thương Hà Nội.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi
nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
việc dự kiến, kiểm soát tín dụng trung và dài hạn.
Thứ hai, qui mô tín dụng ngắn hạn thường nhỏ hơn rất nhiều so với qui
mô tín dụng trung và dài hạn do đó thời gian Ngân hàng thu hôì vốn sẽ nhanh
hơn vốn có thể quay vòng nhiều hơn. Và giả sử có xảy ra tổn thất thì với tín
dụng ngắn hạn Ngân hàng thường sẽ chịu ít tổn thất hơn do qui mô của tín
dụng ngắn hạn thường không lớn như cho vay trung và dài hạn.
Thứ ba, thường thì cả tín dụng ngắn hạn hay tín dụng trung và dài hạn
đều phải có tài sản đảm bảo, trong thời gian ngắn thì việc quản lí tài sản đảm
bảo sẽ dễ dàng hơn trong thời gian dài do biến động của giá cả thị trường, hao
mòn của tài sản.
Tóm lại, tín dụng ngắn hạn sẽ ít rủi ro hơn và an toàn hơn so với tín
dụng trung và dài hạn. Nếu xét về tổng thể tín dụng ngắn hạn là một loại tài
sản đem lại cho Ngân hàng một khoản lợi nhuận rất lớn.
Phân loại:
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo hình thức tài trợ
• Cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
• Chiết khấu thương phiếu là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Cho thuê là việc Ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định và sau một thời gian nhất định khách hàng
phải trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng.
• Bảo lãnh là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
với các bên đối tác của khách hàng của mình thay cho khách hàng của mình.
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo đảm bảo
• Tín dụng có tài sản đảm bảo là loại hình tín dụng mà bên đi vay phải
cho vay bằng ngoại tệ chiếm 51,3% tổng dư nợ tương ứng với số tiền
1309869 triệu đồng.
Bảng 1 :Bảng phân loại tín dụng theo loại tiền cho vay
Đơn vị : triệu đồng
Dư nợ Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Bằng VND 1710532 2098534 1243311
% 48,6 49,1 48,7
Bằng ngoại tệ(quy
đổi)
1807496 2175466 1309689
% 51,4 50,9 51,3
Tổng 3518028 4274000 2553000
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn:
Tín dụng ngắn hạn có vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế hiện nay.
Đây là nguồn vốn khá lớn của nền kinh tế, nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp
phần làm ổn định, đảm bảo và mở rộng sản xuất đối với các doanh nghiệp,
nâng cao đời sống của các cá nhân các tổ chức, là cơ sở cho một nền kinh tế
phồn vinh, và phát triển. Tín dụng ngắn hạn có vai trò quan trọng với nền
kinh tế nói chung, và đối với Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp nói
riêng.
Đối với nền kinh tế
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là một trunh gian tài chính NHTM là nơi tập trung và tích tụ ngồn vốn
nhằm để đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế. Cho vay vốn là một trong các
hình thức mang tính chất đầu tư trong nền kinh tế của NHTM. Trong khi đó
thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các tổ chức tài chính trung gian phi Ngân
hàng như các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,các quỹ đầu tư... có chức
năng trong việc đưa vốn trung và dài hạn vào thị trường, thì NHTM có vai trò
làm tăng tính thanh khoản.
1.1.3 Các hình thức tín dụng ngắn hạn:
Để thực hiện việc quản lý các khoản cho vay vốn ngắn hạn, Ngân hàng
hay phân loại tín dụng theo các cơ sở khác nhau như theo phương thức cho
vay, theo mục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo.
Theo mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vốn vay ngắn hạn từ các
Ngaan hàng được sử dụng với các mục đích:
• Cho vay mua hàng dự trữ : Đây là một trong các mục đích mà các
doanh nhiệp đã sử dụng vốn vay đầu tiên khi tín dụng ra đời, các thương nhân
trước đây vì chưa thu được tiền bán hàng cho do đó họ cần có vốn để mua
hàng hoá mới, do đó phải những người này đã vay vốn Ngân hàng. Kỳ hạn
của các khoản vay này thường được Ngân hàng tính từ khi doanh nghiệp cần
vốn để mua hàng hoá cho đến khi nhận được tiền bán hàng và trả nợ cho
Ngân hàng. Đây là những khoản cho vay truyền thống của Ngân hàng, giờ
đây các khoản cho vay này thường chiếm hơn 50% giá trị của ấnh sách cho
vay của Ngân hàng thương mại.
• Cho vay vốn lưu động : đối với các khoản vay ngắn hạn này thì
thường được doanh nghiệp dùng để đáp ứng mức sử dụng và nhu cầu tín dụng
trong thời điểm cao điểm của chu kỳ dự trữ, các khoản vay ngắn hạn này cũng
thường được dùng để mua hàng hóa dự trữ ngoài ra còn có thể dùng để trả
lương cho công nhân nộp thuế... Kỳ hạn của các khoản vay này thường được
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tính toán gần như với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể đảm bảo,
cung cấp ngồn vốn cho khách hàng trong những lúc cao điểm của chu kỳ kinh
doanh.
• Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Để đầu tư các công trình
xây dựng lớn những người, doanh nghiệp vay vốn họ hay vay vốn trung và
dài hạn, tuy nhiên trong lúc chờ giải ngân vốn, doanh nghiệp nhiều lúc phải đi
• Chiết khấu thương phiếu: Là nghiệp vụ cho vay tín dụng ngắn hạn mà
khách hàng nhường lại thương phiếu chưa đáo hạn cho Ngân hàng để đổi lấy
một số tiền bằng giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và phí hoa hồng, đó
là hình thức cho vay gián tiếp trong khâu thanh toán trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cungc
như trước đây, việc mua bán chịu hàng hoá là hành vi thương mại phổ biến
xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như mục đích khuyến mại hay để cạnh
tranh thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường. Trong quá trình mua bán chịu hàng
hoá bên bán giao hàng hoá cho bên mua và chuyển quyền sở hữu cho bên
mua nhưng chưa nhận được tiền,bên bán chỉ nhận được một giấy nợ chờ
thanh toán. Giấy nợ có thể là một hoá đơn hàng hoá trả chậm hoặc là một
thương phiếu, trong trường hợp giấy nợ chưa đến kì hạn thanh toán, nhưng
người bán lại cần tiền để hoạt động sản xuất kinh doanh của mình họ có thể
nhường lại cho các Ngân hàng mà không cần đợi đến lúc đáo hạn.
• Cho vay trực tiếp: gồm một số nghiệp vụ như cho vay theo hạn mức,
thấu chi , cho vay từng lần.....
Cho vay theo hạn mức : Ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn,
chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định hạn mức tín dụng.
Trong nhiệp vụ này Ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn
tín dụng, doanh nghiệp có thể yêu cầu Ngân hàng chi trả liên tục nhưng cũng
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
luôn phải có tiền vào để đảm bảo cuối quý dự nợ bằng hạn mức tín dụng quy
định.
Cho vay thấu chi: Ngân hàng cho khách hàng vay để khắc phục khó
khăn tạm thời về tài chính trong những trường hợp nhất định như khi doanh
nghiệp đã bán hàng nhưng chưa có tiền để trả lương cho nhân viên hoặc nộp
thuế..... Ngân hàng cho phép khách hàng có mức chi vượt số dư nợ cuối quý,
thu được trong thời gian nhất định. Nghiệp vụ này thường chỉ được thực hiện
đều phải được tính toán cẩn thận sao cho phù hợp với năng lực bản thân công
ty tài chính, đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường của công ty, phản
ánh được sức mạnh của công ty trong quá trình cạnh tranh trên thị trường để
tồn tại.
Đối với khách hàng
Chất lượng tín dụng thể hiện qua việc công ty có đáp ứng được đúng
nhu cầu của khách hàng hay không, có tạo điều kiện cho hoạt động đi vay của
khách hàng không: về lãi suất kỳ hạn hợp lý, thủ tục vay đơn giản thuận tiện,
thu hút được những khách hàng tốt, đảm bảo được nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Tín dụng là mạch máu lưu thông của nền kinh tế, khi tín dụng góp phần
làm tăng trưởng kinh tế xã hội góp phần phục vụ qúa trình sản xuất phát triển
được thuận tiện hơn, giải quyết công ăn việc làm, khai thác những khả năng
phát triển của nền kinh tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín
dụng và tăng trưởng kinh tế, như vậy nó đã thể hiện đây là một khoản tín
dụng tốt.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngắn hạn vừa là một
khái niệm cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu hoạt động của công ty tài
chính như: nợ quá hạn, lãi thu được từ hoạt động tín dụng ngắn hạn… Tuy
nhiên nó lại vừa mang tính trừu tượng như: việc hấp dẫn lôi cuốn khách hàng
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đến với công ty, việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển như thế nào… Chất
lượng tín dụng ngắn hạn cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan
như: trình độ quản lý, quy trình tín dụng của công ty, định hướng phát triển
của công ty, trình độ của cán bộ công nhân viên trong công ty… Chịu ảnh
hưởng của các nhân tố khách quan như: môi trường pháp lý, môi trường hoạt
động kinh doanh, chính sách phát triển của chính phủ, thái độ của khách
hàng…
- Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà
khách hàng không trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số
tiền đó và không được ngân hàng gia hạn. Số tiền này ngân hàng chuyển
thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này
(cao hơn lãi suất thông thường). Đây là những khoản những khoản nợ có độ
rủi ro cao và ngân hàng có khả mất vốn. Để đánh giá chất lượng tín dụng trên
cơ sở nợ quá hạn, người ta người ta thường thông qua tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ
đầu tư rủi ro:
Tỷ lệ nợ quá hạn
ngắn hạn
=
Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
X 100%
Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ đầu tư rủi
ro
=
Tổng dư nợ món vay có phát sinh nợ quá hạn
Tổng dư nợ cho vay
Hai chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng cao.
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng là tất nhiên. Do đó nợ quá hạn của ngân hàng là tất yếu. Tuy nhiên, để
đảm bảo an toàn, sinh lời và tăng khả năng cạnh tranh ngân hàng phải cố gắng
giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn. Hai chỉ tiêu trên rất quan trọng để đánh giá chất
lượng tín dụng ngắn hạn.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cả hai chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho
vay. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai tỷ lệ là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá
Tỷ lệ này được hình thành dựa trên tỷ lệ vỡ nợ trước đây, tỷ lệ chỉ ra %
dư nợ được dự đoán là không có khả năng thu hồi. Tỷ lệ dự phòng mất vốn
liên quan đến tỷ lệ dự phòng mất vốn trích lập theo quy định và tỷ lệ mất vốn.
Tỷ lệ dự phòng mất vốn trích lập theo quy định đại diện cho khoản trích lập
mất vốn được xoá nợ một thời kỳ. Tỷ lệ mất vốn tính trên tổng giá trị các
khoản nợ quá hạn được xoá trong một thời kỳ.
-Chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá thông qua lợi nhuận thu
được từ cho vay ngắn hạn. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả của hoạt động tín
dụng ngắn hạn.
Lợi nhuận tín dụng ngắn hạn
Tỷ lệ sinh lời ngắn hạn =
Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay ngắn
hạn. Tỷ lệ sinh lời cao chứng tỏ khoản cho vay đó có hiệu quả, có chất lượng
cao. Để đạt tỷ lệ sinh lời cao thì việc thu nợ và giải quyết nợ quá hạn tốt. Tỷ
lệ này cao một phần nói lên kết quả kinh doanh tốt của ngân hàng, điều này
rất quan trọng vì doanh thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của
ngân hàng.
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn.
Vòng quay vốn tín dụng:
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ vòng quay của tín dụng ngân hàng càng
nhanh, điều này cũng chứng tỏ việc thu hồi nợ nhanh và đúng hạn do đó tỷ lệ
này cao cũng chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng rất tốt. Mặt khác
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vòng quay vốn tín dụng nhanh chứng tỏ tốc độ luân chuyển tiền tệ trong nền
Tỷ lệ dư nợ tín dụng
ngắn hạn
=
Dư nợ ngắn hạn
(%)
Tổng dư nợ
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỷ lệ doanh số cho
vay ngắn hạn
=
Doanh số cho vay
Tæng doanh sè cho vay
Hai chỉ tiêu này cho biết cơ cấu dư nợ và cơ cấu doanh số cho vay của
tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ và tổng doanh số cho vay. Từ đó có thể so
sánh hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn với các loại tín dụng trung và dài
hạn
- Chỉ tiêu xử lý nợ:
Tỷ lệ thanh toán nợ do
bán tài sản của KH
=
Số tiền thu nợ do bán tài sản của KH
Tổng doanh số thu nợ
Để thu hồi nguồn vốn của mình ngân hàng có hai nguồn để thu đó là, từ
hoạt động kinh doanh của ngân hàng nếu khách hàng làm ăn thua lỗ thì ngân
hàng có nguồn thu thứ hai đó là tài sản thế chấp, cầm cố và bảo hiểm. Khi đến
hạn nếu khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mãi tài sản.
Như vậy nếu tỷ lệ này lớn thì không thể đánh giá chất lượng tín dụng của
ngân hàng cao được, kể cả trường hợp số tiền bán tài sản thu được nợ.
hàng và từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn nhằm mang lại hiệu quả cao
trong việc cho vay. Nếu trình độ, kinh nghiệm, năng lực của cán bộ Ngân
hàng hạn chế sẻ không thể đưa ra được nhưng quyết định sáng suốt, không thể
đem lại hiệu quả tốt . Bên cạnh đó phải có những cán bộ quản lí co phẩm chất
tốt, liêm khiết. Qua đó chúng ta có thể thấy được nhân tố con người không thể
thiếu được,nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
tín dụng ngắn hạn.
• Thẩm định cho vay
Để nâng cao chất lượng và đem lại hiệu quả cao cho hoạt động của
Ngân hàng, thì nhiệm vụ cần thiêt mà NHTM đề ra đó là phải thực hiện tốt
công tác thẩm định dự án đầu tư.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét, thẩm định tính khả thi của dự
án để qua đó xem xét có đầu tư vào dự án đó hay không . Thẩm định dự án
đầu tư là khâu cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhưng lại là khâu
then chốt để quyết định đầu tư và do đó quyết định đến sự thành công hay thất
bại của dự án đầu tư.
Thẩm định cho vay là khâu quan trọng trong hoạt động tín dụng và ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng.Thẩm định đó là khâu đánh giá, dự
đoán, thẩm tra về độ chính xác,an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín
dụng. Mặc dù không chính xác tuyệt đối nhưng làm tốt khâu này sẻ tạo tiền
đề cho việc thu hồi cả vốn lẫn lãi đầy đủ khi đến kì hạn thanh toán> Trong
quá trình thẩm định phải có trình độ chuyên môn và sự phán đoán linh
hoạt,tuy nhiên phai tuân thu nghiêm ngặt về hồ sơ và an toàn thông tin.
Đặc biệt đối với khoản vay ngắn hạn, do tính đặc thù của hoạt động này
là cho vay thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời vốn lưu động cho các doanh
nghiệp do đó thẩm định phải nhanh chóng kịp thời nhưng phải chính xác.
Chính sách tín dụng của NHTM
ngắn hạn.
b. Các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng các khoản vay từ ngân hàng có
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Những khách hàng
đủ điều kiện để vay, sử dụng vốn vay co hiệu quả, hợp lý, thanh toán vốn và
lãi đúng hạn và đầy đủ sẻ làm cho chât lượng tín dụng được nâng cao. Hoạt
động tín dụng của Ngân hàng. Do đó khách hàng là nhân tố ma tín dụng
Ngắn hạn ít nhiều phụ thuộc vào. Những yếu tố mà khách hàng ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng đó là:
• Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp được thể hiện ở chất lượng sản
phẩm, sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ, khả năng và vị trí của doanh
nghiệp trong nền kinh tế hiện nay, mối quan hệ của doanh nghiệp trên thị
trường đóng vai trò khá quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh
nghiệp.... Năng lực thị truờng cho biết khả năng mà doanh nghiệp có thể đáp
ứng được sản phẩm cho thị trường. khả năng sản phẩm có thể thích ứng với
thị trường hay không, thể hiện mức độ chấp nhận thị trường đối với sản phẩm
của doanh nghiệp . Năng lực thị trường càng cao, thì dẩn đến nhu cầu đầu tư
càng lớn, rủi ro mà doanh nghiệp phải chịu sẻ càng nhỏ đó chính là nhân tố
nâng cao chất lượng tín dụng
• Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Hiện nay các doanh nghiệp thường thiếu các điều kiện cần và đủ để
thực hiện các nguyên tắc và các quy định cho vay thế chấp của Ngân hàng.
Theo quy định của Ngân hàng thì khi khách hàng vay vốn phải có tài sản thế
chấp, cầm cố. Thực tế nhiều bộ phận khách hàng khi vay không thực hiện
đúng pháp lệnh về cho vay. Điều đó làm cho ngân hàng và khách hàng không
có sự ràng buộc nào cả dẫn đến làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
* Môi trường kinh tế xã hội
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền kinh tế.
trong nền kinh tế phát triển môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn. Môi
trường đầu tư, ổn định kinh tế và lạm phát là những yếu tố tác động trực tiếp
đến việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHTM. Hoạt động tín
dụng ngắn hạn của NHTM đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít đều
liên quan chặt chẽ với môi trưòng kinh tế xã hội và sự phát triển của nền kinh
tế. Một môi trường kinh tế xã hội ổn định thì đất nước sẻ phồn vinh, sẻ đẩy
mạnh hoạt động tín dụng, giúp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đổi mới và đạt được những
kết quả đáng quan tâm. Với sự thay đổi môi trường kinh tế bên cạnh đó không
thể không nói đén sự thay đổi của môi trường pháp lý. Một đất nước ổn định
phồn vinh khi có sự chấp hành luật pháp.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
2.1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương
Được thành lập ngày 01/03/1985, là thành viên trong hệ thống Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam và được nhà nước ta công nhận la doanh nghiệp
hạng 1.
Cùng với sự phát triển của Ngân hàng ngoại thương Viêt Nam.chi nhánh
Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội với truyền thống chuyên doanh đối ngoại,
thanh toán quốc tế, các dich vụ tài chính, các ngân hàng quốc tế khác. tính
đến cuối năm 2005 chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã phát triển
Nội
Tên viết tắt: Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế : Bank for Foreign Trade of Viet Nam – Hanoi
Branch
Viết tắt : Vietcombank Hanoi (VCBHN)
Trụ sở chính : 78 Nguyễn Du – Hai Bà Trưng – Hà Nội
2.1.2 Tổ chức bộ máy
2.1.2.1 cơ cấu tổ chức của NHNT Hà Nội hiện nay
NHNT Hà Nội có 9 phòng ban chức năng, 06 phòng giao dịch và 01
quầy thu đổi ngoại tệ.
Phòng quan hệ khách hàng
Thực hiện tất cả nghiệp vụ tín dụng phát sinh trong quá trình hoạt động và
làm nhiệm vụ giám sát việc sử dụng vốn vay, thu hồi nợ cho các tổ chức, cá
nhân trên địa bàn hà Nội.
Lê Tiến Dũng Lớp: Tài chính 46B
25