Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên - Pdf 29

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
CN Chi Nhánh
TW Trung ương
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DN Doanh nghiệp
DA Dự án
LỜI NÓI ĐẦU
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài
chính là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiều
rủi ro nhất của các NHTM và các định chế tài chính khác.
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong bối cảnh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày
càng tăng, hoạt động tín dụng cần phải được phát triển sao cho phù hợp nhằm
đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội. Nhưng vấn đề là phải
đảm bảo chất lượng tín dụng như thế nào để NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả
và phát triển bền vững.
Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho NHTM làm tốt chức
năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế và sẽ là cầu nối giữa phần tiết kiệm
và đầu tư. Từ đó góp phần điều hoà nguồn vốn trong xã hội, phân bố các nguồn
vốn cho đầu tư một cách hợp lý, giảm lãng phí ở những nơi thừa vốn trong xã
hội, giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, tạo quan hệ tốt giữa cung và cầu vốn,
đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền tệ.
Như chúng ta đã biết, tín dụng cũng là một trong những công cụ để Đảng
và Nhà nước thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế. Do vậy,
chất lượng tín dụng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, giúp đầu tư

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên" để làm chuyên đề
nghiên cứu của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề thực tập gồm có 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên
Thông qua việc phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
đối với thành phần kinh tế này tại Ngân hàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên. Từ
đó, tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé của bản thân mình vào việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả trong hoạt động tín dụng, phòng ngừa và hạn chế những rủi
ro do nguyên nhân chủ quan. Xét về khía cạnh nào đó, tôi hy vọng tại Ngân
hàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên nói riêng và hệ thống NH nói chung luôn
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
luôn phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, góp phần thúc đẩy sự phát triển
chung của nền kinh tế đất nước theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên, thời gian trong phạm vi 03 năm, từ
năm 2010 đến 31/12/2010.
Do khả năng và trình độ của bản thân có hạn, nên chắc rằng đề tài này sẽ
không thể tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định, vì thế tôi rất mong
muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và đặc biệt là các
thầy, cô trong bộ môn hướng dẫn để đề tài được hoàn chỉnh, mang tính thực tiễn
và khả thi cao hơn./.

đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới,
DNV&N đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổn
định và bền vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
triển; đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải
thiện thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư; góp
phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các vùng đất nước.
Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ vào
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Các DN này đã tạo ra một mạng lưới liên
kết giữa các thành phần kinh tế với nhau, thúc đẩy và lưu thông các nguồn lực
sẵn có trong xã hội như: vốn, nhân lực...
Rõ ràng sự thành công của những cải cách trước đây trong thập niên 80
phần lớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía cung của các hộ gia đình nông
nghiệp: việc bãi bỏ hình thức nông nghiệp tập thể đã nhanh chóng biến từ chỗ
thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Trong
những năm gần đây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của những
tranh luận về phát triển. Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn đề tạo
việc làm.
Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộng
đồng các nhà tài trợ. Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói các
DNV&N cũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vực
nông thôn. Với việc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưu
tiên của cộng đồng các nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trong
chính sách thúc đẩy sự phát triển DNVVN của mình.
Các DN trong quá trình hoạt động và sản xuất của mình đã cung cấp hàng
hoá, tạo ra sự lưu thông hàng hoá trong thị trường. Tuy nhiên để đảm bảo hoạt
động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả thì các DN phải có một chiến

như vậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền kinh tế
và có tốc độ gia tăng cao.
* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các
DNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2
tỷ đồng/DN. Theo quy định của Luật DN, DNV&N là các DN có số vốn pháp
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá 300 lao động. Với số
vốn nhỏ như vậy, các DN gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnh tranh
với các DN lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường. Nhất là khi
nền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNV&N khó có khả
năng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản. Đồng thời, với số lao động ít, các
DNV&N sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng
sản xuất kinh doanh. Nhất là với tình trạng ít lao động, DNV&N sẽ khó có được
các lao động với tay nghề cao. Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các lớp
đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên. Mặt khác đa số người
lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên môn
giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các DN lớn trên thị
trường, điều này khiến các DNV&N gặp khó khăn trong quá trình tuyển dụng
lao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển dụng lao động.
* Đa số các DNV&N là các DN ngoài quốc doanh
Các DNV&N chủ yếu là các DN tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc
điểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ. Điều này tạo khó khăn cho việc
quản lý các DNV&N. Nhất là đối với các DN tư nhân hoạt động linh hoạt nhưng
kém hiệu quả. Các DN tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình hoạt
động chưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho DN của mình. Và trong
khi vận hành sản xuất kinh doanh, khi că một biến cố xảy ra thì không có kinh

kinh doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ
chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý DN, một phần
là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa
theo kịp diễn biến của thị trường.
Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm
và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của trước áp lực
cạnh tranh quốc tế.
* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạt
nhất. Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác động
và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó. Với tính
năng động như vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt động của
mình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế. Sự đa dạng về loại hình hoạt
động, phương thức quản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ đứng vững
được trong thị trường.
1.1.2. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên tín
dụng khi gắn với chủ thể là NH thì tín dụng NH nghĩa là NH cho vay.
Tín dụng được xem xét là một chức năng cơ bản của NH, vì vậy trên cở
sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng có thể dược hiểu như
sau :
Tín dụng là một quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay
(Ngân hàng) và bên đi vay (Doanh nghiệp Vừa và nhỏ), trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

NH tiến hành phân loại tín dụng để dễ quản lý các khoản tín dụng và nhằm đa
dạng hoá tín dụng nhằm thoả mãn nhu cầu của DN. Phân loại tín dụng để NH
quyết định lãi suất cho vay, cũng như loại hình cho vay thích hợp với mỗi loại
tín dụng khác nhau.
Việc xác định phương thức cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng của quá
trình cấp tín dụng choĐNN. Nếu xác định đúng phương thức cho vay cho từng
DN từ đú sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp cho DN thuận lợi trong quá trình giao
dịch và chủ động về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh và thuận lợi
để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, khuyến khích được DN về quan hệ
vay vốn với NH, Ngân hàng chủ động trong việc cân đối giữa nguồn vốn và sử
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng vốn. Nếu xác định sai phương thức cho vay sẽ dẫn đến NH không kiểm
soát chặt chẽ được số vốn cho vay làm tăng rủi ro tín dụng, không khuyến khích
được DN vay vốn.
Hiện nay các NH thường áp dụng các phương thức cho vay sau
* Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vu cho vay qua đó NH cho phép người vay
được chi trội tren số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức
thấu chi.
Để được thấu chi, DN làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian thấu
chi (có thể phải trả phí cam kết cho NH ). Trong quá trình hoạt động, DN có thể
ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả (song trong
hạn mức thấu chi). Khi DN có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, NH sẽ thu nợ gốc
và lãi. Số lãi mà DN phải trả là :
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng
hình thức này. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp về

=
Giá trị hợp đồng - Khấu hao cơ bản -
Thuế - Lợi nhuận định mức cho SXKD
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Mức cho vay= (Giá trị tài sản đảm bảo x Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo).
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình DN sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng, nếu
thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ
quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. NH có thể kiểm soát từng
món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo.
* Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó NH thoả thuận cấp cho DN hạn mức tín
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa
tại thời điểm tính.
Mỗi lần vay, DN chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi
kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho DN.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này, NH không ấn định trước ngày trả nợ. Khi DN có thu nhập,
NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN. Tuy nhiên, do các
lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm soát hiệu
quả sử dụng từng lần vay. NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp báo cáo
tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
* Cho vay luân chuyển

làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thoả thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định và tài sản lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp
với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế cuả DA, hoặc
từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
NH thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
nhất định. NH sẽ thanh toán cho ngưòi bán lẻ về số hàng hoá mà DN đã mua trả
góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phía NH và làm đại
lý thu tiền cho NH, hoặc DN trả trực tiếp cho NH. Đây là hình thức tín dụng tài
trợ người mua (qua đó đến người bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá.
Cho vay trả góp rủi ro cao do DN thường thế chấp bằng hàng hoá mua trả
góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người
vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của NH cũng bị ảnh
hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của NH.
* Cho vay gián tiếp
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó NH cũng phát
triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ
chức trung gian.
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông dân,
Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các thành
viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền
lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảm
nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức
trung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra
bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho

phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân NH và phải
đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận
hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng
quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và dài hạn
trong nền kinh tế.
Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ làm
cho NH hiểu rõ nhu cầu tín dụng của NH, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp lý về
vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng là yêu cầu hàng
đầu, vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng, lãi
suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được khách hàng nhưng
vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với tốc độ phát
triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH, góp phần làm lành
mạnh tài chính khách hàng.
Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng
động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với
những nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả
năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh

rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một tỷ lệ
nhất định được coi là giới hạn an toàn. Mức giới hạn này ở mỗi nước là khác
nhau, riêng ở hiện nay chấp nhận tỷ lệ là 5%.
* Cách phân loại nợ
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 (có hiệu lực
ngày 17/03/2005) của Thống đốc NHNN VN về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001. Trong đó điều chỉnh kỳ
hạn nợ là việc NH chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay trong
phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc NH
chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vay vượt
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
19
=
Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100% ≤ 5%
(1.1) (1.1)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và chất lượng tín dụng được thể
hiện là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN đã có
nhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí thời
gian quá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản vay nên
chưa phản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng.
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụngdự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín
dụng” và quyết định số 18/2009/QĐ-NHNN ngày 25/04/2009 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân

không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả
nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần
đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần
thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ
chờ xử lý.
Các khoản nợ nếu có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của của
khách hàng bị suy giảm thì phải phải tính một cách chính xác, minh bạch để
phân loại nợ vào các nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro, cụ thể:
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhóm 2: Các khoản nợ tổn thất tối đa 5% giá trị nợ gốc.
Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc.
Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc.
Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc.
Việc phân loại nợ theo Quyết định 493và quyết định 18 của Ngân hàng
Nhà nước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vào
tiêu chí rủi ro của khoản vay đã làm cho các NH phải đánh giá lại thực sự các
khoản nợ đã cho khách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất lượng
tín dụng của mình.
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.2) dưới đây:
Hiệu suất sử dụng vốn =

phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn
vay và từng đối tượng vay cụ thể.
1.2.2.4. Chỉ tiêu lợi nhuận
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.4) dưới đây:
Lợi nhuận =
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
(1.4)
Tổng dư nợ tín dụng
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70%-85% tổng lợi
nhuận của NHTM. Nếu lợi nhuận của một NH nào đó tăng lên hàng năm, điều
đó chứng tỏ chất lượng tín dụng được nâng lên. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng
sinh lời của tín dụng. Lợi nhuận ở đây phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào
(lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của
vốn tín dụng , một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn không thể xem là có
chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho NH. Chỉ tiêu này cao chứng
tỏ các khoản cho vay của NH sinh lời và ngược lại chỉ tiêu này thấp chứng tỏ
các khoản vay không sinh lời, đồng nghĩa với chất lượng tín dụng chưa tốt.
Đánh giá chất lượng khoản tín dụng trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận thu được
của các NHTM, đây cũng là chỉ tiêu tương đối vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: chính sách lãi suất, chính sách khách hàng v.v. Thông thường trong hoạt
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động NH, nếu chấtlượng tín dụng NHTM tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng sẽ cao hơn khi cùng một mức dư nợ so với các NH khác.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp Vừa và nhỏ
Như ta đã biết, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu để đánh giá tình hình hoạt
động tín dụng của một NH và có ý nghĩa lớn đến sự tồn tại và phát triển của NH.
Chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách

sách tín dụng, các nhà hoạch định luôn coi trọng việc đảm bảo mục tiêu phải đạt
được, nên ta có thể nói rằng: Chất lượng tín dụng của một NH có tốt hay không
còn phụ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng NH có đúng đắn, phù
hợp không.
* Công tác tổ chức NH
Để tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng thì
cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết từ
trên xuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên. Điều đó có ý nghĩa là
công tác tổ chức NH được thực hiện tốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp vụ
tín dụng lành mạnh. Hơn nữa thực hiện tốt công tác này, NH đã làm cho guồng
máy của mình hoạt động một cách uyển chuyển linh hoạt. Chính vì vậy, trong
quá trình hoạt động NH nên luôn chú trọng công tác này để ngày càng phát
triển và hoàn thiện hơn.
* Thông tin tín dụng
Cho vay không phải là một vấn đề đơn giản. Trên thực tế không phải DN
nào cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là chưa nói tới
những kẻ mạo danh, mạo nhận là DN để cho vay trái phép, chiếm dụng vốn bất
hợp pháp, gây rủi ro và tổn thất cho NH. Vì vậy, hoạt động tín dụng muốn đạt
hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công
tác này. Nắm bắt kịp thời và chính xác luồng thông tin là điều kiện để xem xét,
phân tích, nhằm tìm ra cơ hội tốt nhất trong kinh doanh cũng như đề phòng những
rủi ro có thể xẩy ra trong các hoạt động của NH.
SV: Nông Thị Thanh Huệ Lớp: KC1-TCNH
25

Trích đoạn Định hướng chung Mở rộng và duy trì, thiết lập mối quan hệ lâu dài đối với các khách hàng Kiến nghị đối với Nhà nước Kiến nghị với Chính quyền địa phương xuất với NHNo & PTNT huyện Vị Xuyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status