Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng chứa đựng những rủi ro tiềm
ẩn và hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ.
Hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng mang lại
lợi nhuận cao nhất nhưng lại hàm chứa rủi ro nhiều so với hoạt động khác.
Trong hoạt động tài trợ vốn cho doanh nghiệp, các khoản vay thường lớn và
chênh lệch thu nhập và chi phí của nó ngày càng nhỏ do sự cạnh tranh gay gắt
giữa các ngân hàng vì thế chỉ cần một khoản cho vay không thu được sẽ làm
cho toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng bị mất và họ đối mặt với nguy cơ phá
sản. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng
tới mức thấp nhất thì đòi hỏi công tác tín dụng nói chung và hoạt động thẩm
định tài chính doanh nghiệp nói riêng phải được xem xét, nghiên cứu kỹ hơn
và toàn diện hơn cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế nói chung và điều
kiện của mỗi ngân hàng nói riêng.
Chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội là chi nhánh cấp một của
ngân hàng ngoại thương Việt Nam – một trong những ngân hàng phát triển
nhất hiện nay. Chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội với phương châm “
An toàn – Hiệu quả”, luôn cố gắng hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm
định tài chính doanh nghiệp, hạn chế tới mức tối đa rủi ro cho ngân hàng.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song công tác thẩm định tại chi nhánh ngân hàng
ngoại thương Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập gây rủi ro cho ngân hàng.
Trong quá trình thực tập tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà
Nội, quá trình khảo sát thực tế, thu thập số liệu tại VCB HN em đã lựa chọn
đề tài: “ Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính doanh nghiệp trong hoạt
động cho vay của chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội” để nghiên cứu.
1
Nội dung nghiên cứu đề án thực tập tốt nghiệp của em bao gồm
ba phần:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng thẩm định tài chính
doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tình hình tài chính

_Phân loại theo thời gian
Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể
loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển.
3
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp, thời hạn tối đa là 12 tháng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng. Các hình thức tín dụng ngắn hạn bao
gồm : chiết khấu và tín dụng ứng trước.
Cho vay trung hạn là loại cho vay mà ngân hàng cung cấp nhằm tài trợ
cho nhu cầu vốn thường xuyên của doanh nghiêp, đó là nhu cầu tài trợ cho tài
sản cố định và một phần tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp.
Thời hạn của khoản vay trung và dài hạn là trên 1 năm, từ 1 đến 5 năm là tín
dụng trung hạn và trên 5 năm là tín dụng dài hạn. Tín dụng trung dài hạn có
các hình thức sau : Hình thức cho vay theo dự án, tín dụng tuần hoàn và cho
vay hợp vốn.
_ Phân loại theo hình thức: Nếu phân loại theo hình thức thì tín dụng
ngân hàng gồm có chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu là việc khách hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ. Về mặt
pháp lý thì ngân hàng không phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu. Đây
là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy vậy, đối với ngân hàng thì việc bỏ tiền ra
hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định
trước được coi như là hoạt động tín dụng
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng và cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Tuy không phải xuất tiền ra nhưng ngân hàng đã cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.

mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng
có lợi thế.
5
1.1.3 Quy trình cho vay
Quy trình cho vay của các ngân hàng thương mại nói chung có các
bước sau đây :
STT Các giai
đoạn của
quy trình
Nguồn và nơi
cung cấp thông
tin
Nghiệp vụ của
ngân hàng ở mỗi
giai đoạn
Kết quả sau khi kết
thúc một giai đoạn
1 Lập hồ sơ
đề nghị
cấp vốn
Khách hàng đi
vay cung cấp
các thông tin
( báo cáo tài
chính, tình hình
sản xuất kinh
doanh…)
Ngân hàng tiếp
xúc, phổ biến và
hướng dẫn lập hồ

tài chính và phi
tài chính do các
cá nhân hoặc bộ
phận thẩm định
thực hiện
Báo cáo kết quả tín
dụng để chuyển
sang bộ phận có
thẩm quyền và
quyết định cho vay
3 Quyết
định cho
vay của
ngân hàng
đối với
doanh
- Các số liệu
thông tin từ giai
đoạn 2 chuyển
sang và báo cáo
kết quả thẩm
định
Quyết định cho
vay hoặc từ chối
của cá nhân hoặc
bộ phận được
giao quyền phán
quyết
- Quyết đinh cho
vay hoặc từ chối

quá hạn
- Các thông tin
từ nội bộ ngân
hàng
- Các báo cáo tài
chính theo định
kỳ
- Các thông tin
khác
- Phân tích hoạt
động tài khoản
các báo cáo tài
chính, kiểm tra
cơ sở của khách
hàng
- Thu nợ
- Tái xét và xếp
hạng
- Xử lý nợ quá hạn
Báo cáo kết quả
giám sát và đưa ra
các giải pháp xử lý
Lập các thủ tục để
xử lý các khoản nợ
quá hạn
1.1.4 Các nguyên tắc cho vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên
tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lợi cho ngân hàng.
Các nguyên tắc này được ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại
quy định cụ thể:

các khoản nợ trong tương lai. Đây cũng là căn cứ quan trọng nhất để ngân
hàng xem xét có cho vay hay không? Mức cho vay là bao nhiêu?
Thẩm định tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại là rất quan trọng, nó là nội dung không thể thiếu trong công
tác thẩm định khách hàng. Vậy công tác thẩm định tình hình tài chính doanh
nghiệp của ngân hàng bao gồm những nội dung gì?
8
1.2.2 Nội dung thẩm định tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính
Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường và trở thành thành
viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới – WTO thì vấn đề minh bạch
hoá tình hình tài chính trong các quan hệ kinh tế nói chung và trong lĩnh vực
tài chính nói riêng trở thành một vấn đề bức xúc và có tầm quan trọng đặc
biệt. Một báo cáo tài chính sẽ trở nên vô nghĩa đối với ngân hàng khi nó được
làm đẹp, các thông tin trên báo cáo là không trung thực dẫn đến phản ánh
không chính xác tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp. Vì vậy, trước
khi tiến hành thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp, cán bộ tín dụng
phải tiến hành thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanh
nghiệp cung cấp. Đây là yếu tố quyết định đến chất lượng thẩm định.
Các cán bộ tín dụng cần phải kiểm tra và có các đánh giá sơ bộ về tình
hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp
vay vốn gửi lên. Trước khi tiến hành thẩm định, cán bộ tín dụng cần thẩm
định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành
kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các báo cáo tài chính, ví dụ như các báo
cáo tài chính gửi cho ngân hàng có giá trị hợp lý hay không, các số liệu trong
các báo cáo tài chính có đảm bảo phù hợp không hay có mâu thuẫn với nhau
không, chế độ kế toán và phương pháp kế toán mà doanh nghiệp áp dụng có
tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không.
Sau khi đã hoàn tất công việc kiểm tra sơ bộ, cán bộ tín dụng sẽ tiến

độ tin cậy của các báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành thẩm định
nội dung trong các báo cáo tài chính đó.
10
1.2.2.2 Thẩm định các báo cáo tài chính
Mỗi khoản mục trên báo cáo tài chính đều có cách tiếp cận phân tích,
đặt câu hỏi đánh giá khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là làm
rõ số liệu của các khoản mục này và sự biến động của nó. Việc thẩm định sự
biến đổi của các khoản mục sẽ giúp ngân hàng xác định được các vấn đề đang
phát sinh tại doanh nghiệp để có cơ sở đưa ra các dự báo triển vọng về tình
hình tài chính tương lai.
A, Thẩm định các khoản mục trong bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính ở một thời điểm nhất
định. Nó phản ánh tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp ở một thời
điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán cho người sử dụng biết những tài sản
doanh nghiệp sở hữu và cách thức tài trợ chúng. Nhìn vào bảng cân đối kế
toán, cán bộ tín dụng có thể nhận biết được các loại hình doanh nghiệp, quy
mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
Thẩm định bảng cân đối kế toán là việc cán bộ tín dụng sẽ đánh giá khái
quát các chỉ tiêu về cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn và sự biến động của chúng, đồng
thời xem mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn. Tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp sẽ liên tục biến động cả về quy mô và cơ cấu trong quá trình hoạt
động. Khi doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì tổng tài
sản của doanh nghiệp cũng tăng làm cho doanh thu lợi nhuận cũng tăng theo.
Còn khi mà tổng tài sản tăng mà doanh thu và lợi nhuận không tăng chứng tỏ
hiệu suất sử dụng tài sản kém và cán bộ tín dụng phải tìm nguyên nhân và xu
hướng thay đổi.
Bên cạnh việc so sánh tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng
tài sản và xu hướng biến động về tỷ trọng, cán bộ tín dụng cần phải tìm hiểu
xem sự biến động giữa đầu kỳ và cuối kỳ của tổng tài sản cũng như từng loại
tài sản. Cán bộ tín dụng sẽ căn cứ vào tình hình phân bổ tài sản, tính chất

người bên trong doanh nghiệp nên thông thường nếu nhìn thấy khoản mục
tiền mặt trên bảng cân đối kế toán nhiều bao giờ cũng yên tâm hơn so với các
doanh nghiệp có lượng tiền mặt ít hơn. Nhất là khi qua các quý, hoặc qua các
năm, lượng tiền mặt tăng lên đều đặn và ổn định, nó là một tín hiệu cho thấy
doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt, đang phát triển rất mạnh. Tiền mặt tích
lũy quá nhanh đến mức các nhà quản trị không kịp có thời gian để lên kế
hoạch sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất. Nói như thế không có nghĩa là
bao giờ có nhiều tiền mặt hơn mức lý thuyết đưa ra cũng tốt. Một mức tiền
mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt
câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường. Tại
sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi sử dụng? Nhà đầu
tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban
quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không thể biết làm gì với lượng
tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều luôn có chi phí cơ
hội. Tuy nhiên xét cho đến cùng thì các khoản vay ngân hàng sẽ được trả bằng
tiền mặt, vì vậy, cán bộ tín dụng cần đánh giá được nhu cầu tiền mặt của
doanh nghiệp.
- Các khoản phải thu: Là một loại tài sản của doanh nghiệp tính dựa
trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ
tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Phải
thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán,
bao gồm tất cả các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ
chưa đến hạn thanh toán. Các khoản phải thu là nguồn chủ yếu để doanh
nghiệp chi trả các khoản vay đến hạn nên nó phải được xem xét một cách cẩn
thận. Khi thẩm định khoản mục các khoản phải thu này, cán bộ tín dụng cần
đưa ra được những nhận xét về khả năng thu hồi được các khoản phải thu của
13
doanh nghiệp, loại trừ các khoản bán chịu không thu được hoặc khó thu hoặc
đã bán cho người khác. Cán bộ tín dụng cần phải tính toán xác định vòng
quay các khoản phải thu. Khi đánh giá các khoản phải thu cán bộ tín dụng cần

A.2 Thẩm định các khoản mục bên nguồn vốn
Bên nguồn vốn thì có hai khoản mục chính : Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
- Nợ phải trả: là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán, nó phản
ánh toàn bộ số nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả tại thời điểm lập
báo cáo. Nợ phải trả là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng của đối tác.
Nhìn vào bảng cân đối kế toán , các khoản phải quá lớn sẽ dẫn đến doang
nghiệp mất khả năng thanh toán. Nếu như các khoản nợ của doanh nghiệp còn
dây dưa kéo dài thì ngân hàng cần xem xét lại uy tín của doanh nghiệp đó.
Như vậy thông qua các khoản phải trả ngân hàng có thể biết được uy tín của
doanh nghiệp với bạn hàng. Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ ngắn hạn và
các khoản nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn một khoản nợ của công ty hay một nghĩa
vụ nợ mà thường xác định trong khoảng thời gian 1 năm ( năm tài chính ). Nợ
ngắn hạn bao gồm các khoản như nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải
nộp, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Thông
thường các khoản nợ ngắn hạn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động. Còn các
khoản nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn trên một năm hoặc sau một chu
kỳ kinh doanh ( nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu ). Các khoản nợ dài hạn được dùng
để tài trợ cho tài sản cố định.
Ngoài ra, các cán bộ tín dụng cũng cần phải quan tâm đến chủ nợ của
doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì nếu như ngân hàng giành vị trí quan trọng
15
nhất trong danh sách các chủ nợ thì ngân hàng đó sẽ dễ dàng thu nợ hơn các
vị trí khác.
Như vậy, khi đánh giá các khoản nợ của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng
có thể thấy được khả năng của doanh nghiệp trong tương lai và rủi ro tài
chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải.
- Vốn chủ sở hữu: thường bao gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không
chia và nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu mới. Vốn chủ sở hữu là một nhân tố
quan trọng ảnh hưởng tới quyết định cho vay của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu

- Thẩm định lợi nhuận: Chỉ tiêu quan trọng nhất trong báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh đó là lợi nhuận. Một doanh nghiệp có tồn tại và phát
triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được
lợi nhuận hay không. Các doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận thu được để tái đầu
tư hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh của mình. Và doanh nghiệp cũng sử
dụng lợi nhuận để trả nợ cho các khoản vay của mình. Vì vậy mà cán bộ tín
dụng cần đánh giá, xem xét xem lợi nhuận thể hiện trên báo cáo kết quả kinh
doanh có phản ánh đúng thực tế không hay đó chỉ là con số ảo mà doanh
nghiệp dựng lên để phục vụ cho mục đích vay vốn của mình. Trên thực tế có
những doanh nghiệp hoạt động có lãi nhưng lại mất khả năng thanh toán.
Điều này là do sự lệnh pha giữa doanh thu và thu, giữa chi phí và chi. Doanh
thu khác với thu ở chỗ doanh thu được hạch toán khi mà người mua chấp
nhận thanh toán, nhưng chưa biết là đã trả tiền hay chưa, trong khi đó thu là
khoản tiền thực tiền mà doanh nghiệp đã nhân được. Chi phí và chi cũng
tương tự như thế. Đây chính là lý do mà các cán bộ tín dụng cần tiến hành
thẩm định báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Kết luận: Một doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán với các khoản
mục lành mạnh, kết hợp với báo cáo kết quả kinh doanh với các khoản mục
17
chuyển biến theo chiều hướng tốt sẽ là cơ sở đảm bảo vững chắc cho việc
hoàn trả nợ vay. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần phải tìm hiểu rõ các khoản
phải trả bất thường của doanh nghiệp. Các khoản mục này không xuất hiện
trên bảng cân đối kế toán nhưng có thể chuyển thành quyền đòi hỏi thực sự về
tài chính đối với doanh nghiệp và làm giảm các quỹ hiện có để tài trợ.
C. Thẩm định các khoản mục trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Một doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao và các tỷ số tài chính tốt
chưa hẳn là doanh nghiệp đó có khả năng chi trả tốt khi không duy trì mức
ngân quỹ ở mức độ hợp lý. Số tiền thực trong quỹ của doanh nghiệp là yếu tố
đảm bảo chính xác nhất khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Một tình trạng đã
xảy ra đối với doanh nghiệp là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao song

các kỳ, so sánh với chỉ số trung bình ngành, sau đó tuỳ vào mức độ quan
trọng của các tỷ số mà cho điểm và đánh giá.
Để thấy rõ được các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp như hiệu quả
sử dụng các nguồn lực, khả năng kiểm soát chi phí, tiêu thụ sản phẩm, khả
năng trang trải chi phí tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi…
ngân hàng cần chú trọng phân tích các tỷ số tài chính sau. Có bốn nhóm chỉ
tiêu dùng để thẩm định tài chính doanh nghiệp :
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu mà không riêng gì có ngân hàng mà còn có rất
nhiều đối tượng khác quan tâm tới, bất kỳ đối tượng nào có liên quan đến
doanh nghiệp như các nhà đầu tư, cán bộ công nhân viên…Nhóm chỉ tiêu này
phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp đối với các khoản nợ ngắn hạn.
Một doanh nghiệp có lịch sử thanh toán lành mạnh, sòng phẳng sẽ an toàn
hơn một doanh nghiệp luôn có nợ khó đòi hay quá hạn
19
- Khả năng thanh toán hiện hành:
Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ
chuyển nhượng ( tương đương tiền ), các khoản phải thu và dự trữ ( tồn kho ),
còn nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn của các ngân hàng thương
mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản
nợ dài hạn đến hạn trả trong kỳ… Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán
ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ
ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một
giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó. Tỷ số này càng cao
thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và
ngược lại. Thông thường tỷ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đó được coi là
có khả năng đáp ứng nghĩa vụ các khoản nợ hiện hành.
- Khả năng thanh toán nhanh :
Khả năng thanh toán nhanh = ( Tài sản lưu động - Dự trữ ) / Nợ ngắn hạn

nợ chấp nhận ở mức hợp lý khi nó lớn hơn hoặc bằng 2.
- Khả năng trả nợ gốc :
Khả năng trả nợ gốc = ( Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao ) / Nợ gốc
Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ gốc dài hạn của doanh nghiệp. Khi
ngân hàng cho vay các khoản vay trung, dài hạn thì họ quan tâm đặc biệt tới
các chỉ số này, bởi đây là nguồn trả nợ của doanh nghiệp.
- Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động :
Các tỷ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của
21
doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản
khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động.
- Vòng quay tiền
Vòng quay tiền = Doanh thu / ( Tiền + Chứng khoán ngắn hạn )
Tỷ số này cho biết số vòng quay của tiền trong năm
- Vòng quay dự trữ
Vòng quay dự trữ = Giá vốn hàng bán / Dự trữ
Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết chu kỳ luân chuyển vật tư hàng
hoá bình quân, tỷ số này càng lớn thì càng tốt.
- Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu / Doanh thu bình quân ngày
Kỳ thu tiền bình quân chính là độ dài thời gian bình quân mà doanh
nghiệp phải đợi để nhận tiền sau khi bán hàng, nó được sử dụng để đánh giá
khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu
bình quân một ngày. Tỷ số này mà thất thì chứng tỏ doanh nghiệp không bị
đọng vốn trong khâu thanh toán. Ngược lại, nếu tỷ số này cao chứng tỏ doanh
nghiệp bị ứ đọng vốn, có thể gặp phải các khoản nợ khó đòi và chính sách bán
hàng chưa phù hợp.
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định :
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Tài sản cố định

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong điều kiện bình thường chỉ tiêu này
càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng tốt.
Ngoài việc phân tích các tỷ số tài chính cán bộ tín dụng còn sử dụng
phương pháp phân tích DUPONT:
23
ROA = TNST/TS = TNST/DT*DT/TS = PM * AU
ROE = TNST/VCSH = TNST/TS * TS/VCSH = ROA * EM = PM * AU * EM
Trong đó:
- EM là hệ số nhân vốn chủ sở hữu phản ánh mức huy động vốn từ bên
ngoài doanh nghiệp. EM tăng có nghĩa là doanh nghiệp đang tăng vốn từ bên ngoài.
- PM là doanh lợi tiêu thụ sản phẩm phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau
thuế trong doanh thu của doanh nghiệp. PM tăng có nghĩa là việc quản lý
doanh thu và quản lý chi phí của doanh nghiệp là có hiệu quả.
- AU là hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh khả năng
quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Nói tóm lại, các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp thể hiện kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cho việc phân tích để ra quyết định
tín dụng của ngân hàng. Những doanh nghiệp nào có tỷ lệ sinh lời cao, việc
cho vay của ngân hàng càng an toàn. Tuy nhiên không phải chỉ có những
doanh nghiệp có lãi mới được ngân hàng xem xét cấp tín dụng mà trên thực tế
có trường hợp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có lợi nhuận
nhưng đang có xu hướng cải thiện và các chỉ số thanh toán, chỉ số hoạt động
được đánh giá tốt…thì bên cạnh tư vấn cho khách hàng, các ngân hàng vẫn ra
quyết định cấp tín dụng cho họ.
Kết luận: Việc xem xét về khía cạnh quy mô và sự biến động của các tỷ
số tài chính sẽ giúp ngân hàng làm rõ từng vấn đề đã đặt ra. Để có bức tranh
tổng thể về tình hình tài chính doanh nghiệp, trong quá trình thẩm định các
cán bộ tín dụng cần phải nắm rõ mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa
các tỷ số tài chính này. Việc sử dụng phân tích DUPONT sẽ là cách tốt nhất

phương pháp sau:
25

Trích đoạn Phương pháp thẩm định HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.3.1 Khái niệm Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Nhóm chỉ tiêu định lượng: Các nhân tố chủ quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status