Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hà Tây - Pdf 10

Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Việt Nam là một nước đông dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
trong khi hệ thống NHTM lại mới phát triển, tiềm lực còn yếu, nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư còn lớn, đây là thị trường hấp dẫn với các nhà đầu tư
nước ngoài. Đồng thời, theo cam kết khi gia nhập WTO, đến năm 2010 nước
ta sẽ mở cửa nền kinh tế về mọi mặt đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư nước ngoài, các Ngân Hàng lớn trên thế giới hoạt động tại Việt Nam,
tạo môi trưòng cạnh tranh bình đẳng giữa các Ngân Hàng trong và ngoài
nước.
Vì vậy, mỗi Ngân Hàng cần phải xây dựng cho mình chính sách phát
triển tối ưu trong thời gian tới. Đặc biệt là giải pháp để khai thác hiệu quả
nguồn vốn trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh cũng như góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong xu hướng đó, đề tài: “Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh
Ngân hàng Công Thương Hà Tây” được lựa chọn.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và nghiệp vụ huy
động vốn của NHTM
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHCT Hà Tây giai
đoạn 2005 – 2007
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng khả năng huy động vốn tại NHCT Hà
Tây
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
1
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NHTM
1.1. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1. khái niệm
Vốn là lượng tiền được dùng để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh

tư nhân, vốn ban đầu thuộc sở hữu cá nhân. Để phân biệt với các khoản tiền
của chủ thể khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ), chủ ngân hàng
còn gọi vốn mình ứng ra trong kinh doanh là vốn tự có. Với chức năng trung
gian tài chính, chủ ngân hàng không ngừng huy động tiền của chủ thể khác để
đầu tư, do vậy dần dần vốn của chủ ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong
tổng vốn. Một số ngân hàng trung ương qui định giới hạn tỷ lệ vốn chủ trên
tổng tiền gửi nhằm tăng đảm bảo an toàn cho người gửi tiền. Tuy chiếm tỷ
trọng nhỏ, song VCSH có vai trò rất quan trọng, góp phần xác định qui mô và
cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là
trung và dài hạn cũng như tạo rat rang thiết bị và công nghệ ngân hàng hiện
đại. Sau đây là các bộ phận cấu thành VCSH:
 Vốn chủ sở hữu ban đầu
Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành vốn ban
đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách Nhà
nước cấp (vốn của Nhà nước).. Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng
góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên
liên doanh góp, ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
VCSH ban đầu phải tuân thủ các qui định của Nhà nước. Các qui định
thường nêu rõ số vốn tối thiểu – vốn pháp định mà chủ ngân hàng cần phải có
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
3
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
khi bắt đầu hoạt động. Vốn pháp định có thể được qui định cho từng loại
ngân hàng trong từng điều kiện cụ thể.
VCSH không phải hoàn trả. Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay
đổi cơ cấu VCSH, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận.
 Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể:
- Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không,

trước thuế như một khoản chi phí, và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn
thất. Như vậy độ lớn của quĩ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của ngân
hàng, và tỷ lệ trích lập quỹ.
+ Trong môi trường lạm phát, VCSH bị giảm giá, để đảm bảo giá trị,
các Ngân hàng có thể tích lập quỹ bảo toàn vốn tính theo tỷ lệ lạm phát. Quĩ
này làm gia tăng VCSH.
+ Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn
hơn mệnh giá. Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa
thị giá và mệnh giá cổ phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn.
+ Do giá trị các tài sản và nợ của ngân hàng thường xuyên thay đổi
theo giá thị trường, đặc biệt là các chứng khoán, và bất động sản. Mặc dù
chưa bán, ngân hàng thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá thị trường.
Những chênh lệch do đánh giá lại được đưa vào Quĩ đánh giá lại. Quĩ này
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
5
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
thường xuyên biến động gắn liền với thay đổi thị giá, cho phép nhà quản lý
đánh giá giá trị thị trường của VCSH.
Ngân hàng thường trích lập các quĩ từ lợi nhuận sau thuế như: quĩ khen
thưởng, quĩ phúc lợi, quĩ đào tạo, quĩ nghiên cứu và phát triển sản
phẩm..phần lớn các quĩ này được sử dụng trong kỳ, và khả năng sử dụng các
quỹ này vào kinh doanh tùy thuộc vào mục đích sử dụng của quỹ.
 Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các khoản vay dài
hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu cũng thuộc VCSH
mặc dù chúng mang một số tính chất của một khoản nợ, tuy nhiên phần
này thường bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ. Việc gia tăng loại vốn
này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như không làm thay
đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức…
1.2.2. Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi

có thể thu được một lượng tiền gửi rất lớn.
- Tài khoản vãng lai: đây cũng là một loại tài khoản séc nhưng khác ở chỗ
tài khoản này có thể phát séc vượt quá dư của mình đến một mức độ nhất
định (đã được thỏa thuận trước với ngân hàng). Đối với tài khoản vãng lai
có hai lãi suất đồng thời: lãi suất mà đơn vị trả cho ngân hàng (nếu dư nợ
trên tài khoản) và lãi suất ngân hàng trả cho đơn vị (nếu dư có trên tài
khoản). Lãi suất này do chủ tài khoản và ngân hàng thỏa thuận trước và
lãi suất trả cho số dư nợ luôn lớn hơn lãi trả cho số dư có. Chính vì sự
phân biệt đó mà khách hàng phải tìm mọi cách gửi tiền vào tài khoản
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
7
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
nhằm làm giảm dư nợ đến mức thấp nhất, từ đó làm tăng nguồn vốn của
ngân hàng.
 Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ
được chi trả sau một khoảng thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất
thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu
cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ
hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi
thanh toán để đáp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi
tiền phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng
bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi
suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn.
 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng
(các khoản tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ
đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối
với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày
càng nhiều tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay

khách hàng, nếu khách hàng gửi kỳ hạn một năm nhưng đã quá ba tháng thì
sẽ được hưởng lãi suất kỳ hạn ba tháng cho đến sáu tháng, chín tháng... như
vậy khách hàng sẽ không cần phải làm thủ tục vay chiết khấu hoặc không bị
áp dụng lãi suất không kỳ hạn khi rút trước hạn.
1.2.3. Nguồn vốn vay và nghiệp vụ vay vốn của NHTM
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
9
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Tiền gửi là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất của ngân hàng thương mại, tuy
nhiên trong nhiều trường hợp nguồn tiền gửi không đáp ứng được nhu cầu
thanh toán của ngân hàng buộc các ngân hàng phải đi vay bằng nhiều cách
khác nhau như:
a. Vay ngân hàng nhà nước (vay ngân hàng trung ương)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của
ngân hàng thương mại như thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán.
Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng nhà nước là tái chiết khấu, các
thương phiếu đã được ngân hàng thương mại chiết khấu trở thành tài sản
của ngân hàng. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này lên
tái chiết khấu tại ngân hàng nhà nước. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của
ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại ngân
hàng nhà nước) tăng lên .
Việc tái chiết khấu này có thể làm lượng tiền trong lưu thông
tăng lên trong khi ngân hàng nhà nước không muốn tiền đưa vào lưu thông
quá nhiều sẽ gây tình trạng lạm phát. Do đó ngân hàng nhà nước điều hành
việc vay mượn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thương mại phải thực
hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường ngân
hàng nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những trái phiếu có chất lượng (thời
gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) phù hợp với muc tiêu của Ngân
hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu,
ngân hàng nhà nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp

tiền gửi đều là một loại hình phiếu nợ do ngân hàng phát hành để huy động
vốn trên thị trường, điểm khác biệt là ở chỗ kỳ phiếu không phát hành
thường xuyên nên thường có lãi suất cao hơn. Do vậy, vốn thu được từ phát
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
11
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
hành kỳ phiếu thường nhanh, khối lượng lớn, giúp ngân hàng sử dụng vốn
vào kinh doanh ngay được so với vốn từ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cần
thời gian dài.
Thực tế khi ngân hàng thương mại quyết định vay của thị trường
bằng hình thức này, bao giờ họ cũng có sẵn những kế hoạch đầu tư nhất
định và chắc chắn có hiệu quả. Do đó, việc phát hành kỳ phiếu thường bị
khống chế về khối lượng cũng như thời hạn.
-Trái phiếu: Trái phiếu là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường
vốn dưới hình thức giấy nhận nợ để huy động vốn trong đó cam kết trả lãi
và gốc cho người mua (hoặc người sở hữu) sau một thời gian nhất định.
Về hình thức, trái phiếu có những điểm giống với kỳ phiếu nhưng
thời hạn dài hơn. Thời hạn vay nợ dài hơn là có chủ ý của ngân hàng phát
hành sau khi cân nhắc thời điểm và thời gian cần sử dụng vốn, đủ để đồng
vốn sau một quá trình được đưa vào đầu tư sinh lời có thể hoàn trả lại cho
người giữ trái phiếu.Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm.
Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ vay mượn được nhiều hơn,
các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ
thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh. Khả
năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài
chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng.
Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị
trường để quyết định qui mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích
hợp. Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ cũng
được các ngân hàng quan tâm.

13
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
trường liên ngân hàng, một ngân hàng cần vươn tới thị trường liên ngân hàng
quốc tế với khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái.
Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định
cao cho ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự
án, tài trợ cho trang thiết bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu
dùng. Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn
định vĩ mô, sau đến là các kĩ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính
thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay. Mặc dù
lãi suất thường cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng vẫn phải sử dụng
phát hành giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được nhũng
yêu cầu như ổn định, qui mô đủ lớn trong khoảng thời gian xác định.
1.2.4. Các nguồn vốn khác
Loại này bao gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và các
nguồn khác.
*Nguồn ủy thác:
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ ủy thác cho vay, ủy
thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ... Các hoạt động
này tạo nên nguồn ủy thác tại ngân hàng. Cùng với sự phát triển các mối
quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu
phát triển như của ngân hàng, có nguồn tài chính, đã sử dụng mạng lưới
ngân hàng như các kênh dẫn vốn. Kết quả là hình thành nguồn ủy thác, làm
gia tăng nguồn vốn của ngân hàng.
*Nguồn trong thanh toán
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
14
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành

cho từng thời kỳ, ngân hàng phải căn cứ vào tình hình nền kinh tế, váo
chính sách tín dụng và phương hướng phát triển kinh tế của nhà nước.
Ngoài ra, cách thức khác thu hút khách hàng là áp dụng phương thức
trả lãi khác nhau như trả lãi nhiều kỳ hoặc trả lãi trước, lãi suất bậc thang...
1.3.1.2. Nguồn lực của ngân hàng
Một ngân hàng tồn tại lâu năm, đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm,
trình độ cao sẽ hấp dẫn hơn ngân hàng mới thành lập, chưa khẳng định
được vị thế chỗ đứng của mình trong lòng khách hàng và trên thị trường.
Nguồn lực ngân hàng chính là yếu tố con người và cơ sở vật chất của
ngân hàng đó.
-Khi đến một ngân hàng thực hiện giao dịch mà khách hàng nhận
được sự phục vụ chu đáo, tận tình, lịch sự, vui vẻ và tác phong làm việc
nhanh nhẹn thì ngân hàng đó đã gây được thiện cảm tốt đẹp với khàch
hàng. Nếu làm được điều đó thì sẽ là điểm mạnh trong cạnh tranh của mỗi
ngân hàng khi mà lãi suất huy động của các ngân hàng gần như là giống
nhau.
-Cơ sở vật chất cũng là điều hết sức quan trọng và cần thiết để đánh
giá tình hình hoạt động của mỗi ngân hàng. Một ngân hàng có trị sở được
trang trí phù hợp, khang trang, sạch sẽ, trang thiết bị hiện đại sẽ làm cho
khách hàng an tâm hơn khi đến giao dịch. Ngoài ra, địa điểm giao dịch
thuận tiện sẽ tạo thuận lợi hơn cho khách hàng khi đến với ngân hàng,
cũng như giúp ngân hàng có thể quảng bá hình ảnh của mình đến với khách
hàng một cách rộng rãi hơn, hiệu quả hơn.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
16
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
1.3.1.3. Các loại hình huy động
Do nhu cầu chi tiêu của từng đối tượng khách hàng khác nhau, nên
nhu cầu gửi tiền với các kỳ hạn cũng khác nhau, vì thế mà các ngân hàng
thường đưa ra nhiều hình htức huy động dài ngắn khác nhau, từ không kỳ

hiểu biết cu rdân cao, nghĩa là trình độ văn hóa cao, sự am hiểu về hoạt
động kinh doanh ngân hàng thì ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc quảng
bá , tuyên truyền các sản phẩm dịch vụ cung ứng của mình đén với khách
hàng như vậy sẽ tạo thuận lợi hơn cho cả khách hàng lẫn ngân hàng trong
việc sử dụng chúng.
Thu nhập của khách hàng cũng là một yếu tố quan trọng quyết định
đến số lượng và chất lượng tiền gửi của ngân hàng. Ở những nơi mà đời
sống phát triển, người dân có thu nhập cao thì ngân hàng sẽ dễ dàng hơn để
huy động vốn lớn mà chi phí thấp, trong khi ở những vùng kinh tế kém phát
triển, xa trung tâm thì lượng tiền nhàn rỗi trong dân thấp, ngân h àng kó
huy động vốn hơn rất nhiều.
1.3.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Để huy động được nguồn vốn lớn, mỗi ngân hàng cần có những
khách hàng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nhất định của mỗi
địa bàn như: cơ cấu dân cư, tình hình xã hội, thu nhập...
Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, có lạm phát hoặc có nguy
cơ xảy ra lạm phát thì người dân phần lớn không thích gửi tiền tiết kiệm mà
sẽ dùng để mua vàng và ngoại tệ mạnh để tích trữ với kỳ vọng bảo toàn giá
trị trong điều kiện lạm phát xảy ra. Nếu ngân hàng không có hình thức huy
động hấp dẫn như gửi tiền tiết kiệm giá trị theo vàng, gửi tiết
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
18
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
kiệm có tính trượt giá, thì sẽ không huy động được tiền gửi tiết kiệm và lạm
phát có thể bị đẩy lên.
1.3.2.3.Môi trường pháp lý
Ngân hàng hoạt động trong điều kiện đất nước có môi trường pháp lý
đầy đủ, chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc thực hiện công
tác huy động vốn của mình. Môi trường pháp lý lành mạnh sẽ giúp hoạt
động kinh doanh của ngân hàng an toàn hơn, người dân cũng được bảo vệ

năm 2006 và đầu năm 2007. Như vậy, NHCT Hà tây chỉ còn lại hội sở và
điểm giao dịch số 1 tại La phù mới thành lập tháng 11/2006. Do đó, NHCT
Hà tây lại phải sắp xếp lại tổ chức để từng bước ổn định lại kinh doanh của
chi nhánh.
2.1.1.1.Thuận lợi
Hội sở chính của ngân hàng công thương Hà Tây đóng tại 169
Quang Trung, thành phố Hà Đông, Hà Tây trên trục đường vành đai nối thủ
đô Hà Nội với Hà Tây. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho ngân hàng trong
việc tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm quản lý kinh doanh cũng như tạo điều
kiện cho các đơn vị bạn đến giao dịch tại hội sở. Cũng do gần với thủ đô
nên ngân hàng luôn nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ và sát sao của các cấp
chủ quản, có cơ hội tiếp cận với những trang thiết bị phục vụ ngân hàng
hiện đại một cách nhanh chóng.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
20
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ tương đối cao, nhiệt tình,
sáng tạo, đam mê công việc. Tính đến nay ngân hàng có 80 cán bộ
trong đó 85% có trình độ đại học và trên đại học.
Đã xây dựng được cho mình chỗ đứng riêng vững chắc, có được
lượng khách hàng thân thiết nhất dịnh và chiếm thị phần tương đối lới trong
hoạt động kinh doanh tiền tệ tại Hà Tây.
2.1.1.2.Khó khăn
Ngoài những thuận lợi nêu trên, ngân hàng công thương Hà Tây
cũng phải đối đầu với không ít khó khăn và thử thách, cụ thể là:
- Một là: Nhu cầu về vốn kinh doanh của các doanh nghiệp hầu hết là
trong thời gian dài, lãi suất thấp nhưng việc huy động vốn trung và dài hạn
lại gặp nhiều khó khăn. Để huy động được nguồn vốn đó thì phải đảm bảo
lợi ích cho người gửi tiền (lãi suất dài hạn phải lớn hơn lãi suất tiền gửi
ngắn hạn). Huy động dài hạn với lãi suất cao nên cho vay đầu tư cũng phải

thương Hà Tây đã có những sự đổi mới cho phù hợp:
- Tháng 12 năm 2001, hội đồng quản trị ngân hàng công thương Hà
Tây quyết định sáp nhập 2 phòng giao dịch số 2 và số 3 trực thuộc ngân
hàng công thương tỉnh Hà Tây thành chi nhánh cấp hai và chi nhánh ngân
hàng công thương Sông Nhuệ.
- Tháng 12 năm 2004, sáp nhập phòng giao dịch số 2 và số 4, nâng
cấp thành chi nhánh cấp hai Quang Trung.
SVTH: Dương thị huyền Lớp: TCDN – 46QN
22
Trường đại học Kinh tế quốc dân chuyên đề tốt nghiệp
- Tháng 8 nănm 2005, thực hiện hiện đại hóa ngân hàng giai đoạn
một : mọi giao dịch, bút toán... đều được hạch toán trực tiếp từ ngân hàng
công thương Việt Nam.
- Ngày 1 tháng 7 năm 2006, các chi nhánh cấp hai: Sông Nhuệ,
Quang Trung, Nguyễn Trãi được tách khỏi ngân hàng công thương Hà Tây,
trở thành ngân hàng cấp một và trực thuộc ngân hàng công thương Việt
Nam.
- Ngày 1 tháng 2 năm 2007, phòng giao dịch Xuân Mai thuộc ngân
hàng công thương Hà Tây được ngân hàng công thương Việt Nam nâng
cấp thành chi nhánh cấp một.
Do quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như tình
hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng công thương Hà Tây mà quy mô
và cơ cấu tổ chức của ngân hàng thường xuyên có sự thay đổi để phù hợp
với mục tiêu phát triển của ngân hàng cũng như của địa phương.
Ngân hàng công thương Hà Tây có trụ sở chính đặt tại 269-Quang
Trung-thành phố Hà Đông, bao gồm 8 phòng ban, 1 phòng giao dịch trực
thuộc ban giám đốc và 1 điểm giao dịch thuộc phòng kế toán giao dịch,
tổng số cán bộ công nhân viên của toàn chi nhánh là 80 người trong đó
85% có trình độ đại học và trên đại học.
• Cơ cấu bộ máy tổ chức

mại
Phòng
khách
hàng
doanh
nghiệp
Phòng
khách
hàng cá
nhân
Phòng
thông
tin điên
toán
Phòng
tiền tệ
kho quỹ
Phòng
tổng
họp tiếp
thị
Phòng
tổ chức
hành
chính
Điểm
giao
dịch số
1
24

7
1.4
2. Huy động trung và dài
hạn
144.07
7 18.6
149.66
1 22.9 158.065
2
0.3
3.Phát hành KP,TP,CCTG 12.092 1.6 32.602 5.0 4.259
0
.5
4. Vay NHTW, TCTD
khác
353.34
0 45.6
120.00
0 18.4 60.000
7
.7
II. Vốn và quỹ - 48 100.0 163
1
00.0
III. Sử dụng vốn 773.785 100.0 690.387 100.0 761.722
1
00.0
1. dụ trữ và thanh toán 49.827 6.4 13.404 1.9 5.757
0
.8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status