Lời nói đầu
ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trởng
và phát triển kinh tế của đất nớc. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh
tế thì nớc ta cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn
vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong điều kiện nớc ta Thị trờng Chứng khoán
cha phát triển nên lợng vốn huy động đợc bằng con đờng tài chính trực tiếp
thông qua con đờng phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do đó, quá trình nhận và truyền
vốn trên thị trờng chủ yếu đợc thực hiện thông qua các ngân hàng thơng mại và
thị trờng tín dụng. Có thể nói ở Việt Nam hơn 80% lợng vốn trong nền kinh tế
là do hệ thống ngân hàng cung cấp. Do đó vai trò của ngân hàng trong hoạt
động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Nh vậy công tác huy động vốn của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế nói chung và hoạt động của ngân hàng nói riêng. Trong thời gian
học tập tại trờng và thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến
Thuỷ Thành phố Vinh Tỉnh Nghệ An em đã cố gắng nghiên cứu và tìm
hiểu kỹ công tác huy động vốn và chọn đề tài luận văn tốt nghiệp: Giải pháp
tăng cờng huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ
Thành phố Vinh Nghệ An .
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các phơng thức huy động vốn của ngân
hàng thơng mại, các nhân tố ảnh hởng đến các phơng thức huy động đó. Từ đó
đi vào phân tích thực trạng về công tác huy động vốn của Ngân hàng Công th-
ơng Bến Thuỷ (các phơng thức huy động vốn mà Ngân hàng áp dụng, các nhân
tố ảnh hởng, cũng nh những khó khăn thách thức), từ đó em xin đa ra một
số giải pháp và kiến nghị.
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận đợc kết cấu gồm có 3 chơng:
Chơng I: Vai trò của vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thuơng mại.
Chơng II: Thực trạng huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Công th-
bao nỗi thăng trầm bởi chiến tranh tàn khốc, không thể phát triển đợc. Phải cho
đến đầu thế kỷ thứ 12, khi chiến tranh đã dịu bớt, kinh tế hàng hoá đã có bớc
phát triển, nhất là khu vực Tây âu. Khi đó, một tổ chức đợc mệnh danh là ngân
hàng đợc thành lập ở Venise nớc ý vào năm 1171, tuy về thực chất chỉ là một tổ
chức tài chính đợc thiết lập để thực hiện sự tài trợ cho chiến tranh, nhng nội
dung hoạt động của nó đã bao hàm cả nghiệp vụ ngân hàng.
Cho đến đầu thế kỷ 15, một số tổ chức kinh doanh tiền tệ đợc thành lập đợc
xem nh những ngân hàng thực thụ: Ngân hàng Barcelone, Ngân hàng Valenee
của Tây Ban Nha. Những tổ chức này đã thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền ký
thác, cấp tín dụng, chuyển ngân và làm các nghiệp vụ thu- chi tiền cho khách
hàng với ý nghĩa là những nghiệp vụ kinh doanh cơ bản.
Sự phát triển của Ngân hàng thơng mại phải kể từ thời kỳ phục hng, và đặc
biệt là từ khoảng thế kỷ 17 cho đến nay. Đây là thời kỳ kinh tế hàng hoá phát
triển nhanh chóng, mạnh mẽ, nền thơng mại không ngừng mở rộng, các quan hệ
hàng hoá- tiền tệ phát triển bao trùm đời sống kinh tế- xã hội đã tạo ra những
tiền đề kinh tế cho sự hình thành và phát triển nghề Ngân hàng.
ở Việt nam, trong bớc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
3
theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật,
đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn
hợp đan xen với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh
nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh
tranh với nhau, bình đẳng trớc pháp luật. Theo hớng đó, nền kinh tế hàng hoá
phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều
loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986, hoà vào công cuộc
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nớc theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà n-
ớc, hệ thống ngân hàng đợc tổ chức lại theo Nghị định 53/HĐBT đợc tách ra
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nuớc đảm nhận công tác phát hành tiền và điều tiết
lu thông tiền tệ, còn chức năng kinh doanh đợc thực hiện bởi các Ngân hàng
kinh tế.
2.1. Nghiệp vụ nhận tiền gửi:
Đây là một hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại. Ngân hàng nhận đợc
các khoản tiền gửi của khách hàng dới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền
gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả gốc
và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến
rút tiền ở ngân hàng.
2.2. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng:
Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ
liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực
thanh toán bình thờng), sẽ đợc sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp
vụ đặc trng nhất của Ngân hàng Thơng mại. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân
hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình
thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung
vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng
nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu.
Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng đợc phân thành:
2.2.1. Căn cứ vào mục đích:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai.
- Cho vay công nghiệp và thơng mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thơng mại và dịch
vụ.
- Cho vay nông nghiệp.
- Thuê mua và các loại khác.
2.2.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay.
5
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dới 12 tháng, chủ yếu đợc
sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của
6
vụ thanh toán. Vì thế, nghiệp vụ này còn đợc gọi là tín dụng bằng chữ ký. Tín
dụng bằng chữ ký bao gồm: tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ, bảo lãnh
của ngân hàng.
2.3. Nghiệp vụ đầu t :
Ngân hàng tham gia vào đầu t, mua bán chứng khoán trên thị trờng chứng
khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch
lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trờng.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp
vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
2.4. Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.
Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu t cho vay cũng nh kiếm lời. Việc kinh doanh
ngoại tệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho
xuất nhập khẩu,...
2.5. Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng:
- Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ
chuyển tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ. Có hai phơng thức chuyển tiền
là chuyển tiền bằng điện và chuyển tiền bằng th.
- Thu chi hộ tiền hàng: Theo những lệnh uỷ nhiệm thu hoặc uỷ nhiệm chi,
ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng chuyển
trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng khi nhận đợc
chứng từ khách hàng nhờ thu hộ...
- Nghiệp vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác
của khách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản
chứng khoán, vàng bạc, giấy tờ có giá... để hởng hoa hồng.
- Mua bán hộ: Theo sự uỷ nhiệm của khách hàng ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ phát hành hộ trái phiếu hoặc chứng khoán cho các công ty, hoặc phát
hành trái khoán Chính phủ. Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng có đợc một
khoản thu nhập dới hình thức hoa hồng phát hành. Ngân hàng có thể tham gia
định.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro : Để dự phòng và bù đắp thiệt hại có nguy cơ
ăn mòn vốn do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các ngân
hàng đợc trích từ lợi nhuận ròng hằng năm theo tỷ lệ 10% cho tới khi bằng
100% vốn điều lệ.
8
Hai quỹ này bắt buộc phải trích lập tại các tổ chức tín dụng, không đợc dùng
các quỹ này để trả lợi tức cổ phần hoặc chuyển ra nớc ngoài.
Mặt khác, với t cách là một đơn vị kinh doanh, ngân hàng còn tiến hành trích
lập các quỹ từ lợi nhuận thu đợc:
- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng.
- Quỹ phúc lợi, khen thởng.
Các quỹ này tỷ lệ trích lập theo quyết định của Đại hội cổ đông hoặc theo
chỉ đạo của Nhà nớc.
Vốn riêng của ngân hàng đợc dùng để mua sắm tài sản cố định, các phơng
tiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, nhng không quá 50% vốn tự
có, để tài trợ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng và đợc sử dụng để hùn vốn
liên doanh, mua cổ phần...
Vốn tự có và các quỹ so với tổng số vốn hoạt động của ngân hàng chỉ chiếm
một phần nhỏ.
1.2.2. Vốn huy động.
Các khoản tiền gửi loại này không thuộc sở hữu của ngân hàng nhng ngân
hàng đợc quyền sử dụng đối với những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi này. Đây là
khoản vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn. Các hoạt động sử
dụng vốn tồn tại và phát triển đợc là nhờ nguồn vốn huy động này.
1.2.2.1. Vốn tiền gửi của khách hàng.
Đây là khoản vốn hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng
cao nhất trong nguồn vốn. Tuy nhiên, một bộ phận đáng kể trong vốn tiền gửi
này luôn luôn biến động, do vậy khi sử dụng ngân hàng luôn phải dự trữ để
đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của
cầm cố các thơng phiếu chứng từ có giá. Vay của các ngân hàng thơng mại, các
tổ chức tín dụng khác thông qua thị trờng tiền tệ liên ngân hàng. Ngân hàng th-
ơng mại cũng có thể vay ở ngân hàng nớc ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nớc
ngoài. Vậy các ngân hàng thơng mại đi vay khi nào?
- Ngân hàng vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Vì hoạt động chủ yếu và thờng xuyên của ngân hàng là nhận tiền gửi và với
trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử
dụng. Do vậy có những trờng hợp số tiền dự trữ và số tiền mà ngân hàng nhận
đợc trớc đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút ra thì ngân hàng sẽ gặp
khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng, nghĩa là ngân hàng thiếu
tiền trả cho khách hàng.Vậy ngân hàng phải đi vay.
- Ngân hàng vay hộ cho khách hàng: Vì hoạt động cơ bản của ngân hàng là
tài trợ cho nền kinh tế nên khi có khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng và
đảm bảo các yêu cầu mà ngân hàng đề ra thì ngân hàng sẽ cho vay. Chẳng hạn:
10
với những khoản vay với số lợng lớn, thời gian dài mà ngân hàng lại không
muốn dùng toàn bộ số tiền mình có để đầu t cho dự án này ( rủi ro cao) vì nh
thế sẽ mất đi toàn bộ những cơ hội đầu t khác. Vì vậy ngân hàng sẽ thay mặt
khách hàng phát hành trái phiếu nhằm thu gom tiền trong nền kinh tế để phục
vụ cho dự án. Ngời ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng
và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án.
- Ngân hàng vay để cho vay: Hầu nh toàn bộ số tiền trong lu thông đã trở
thành tiền gửi tại các ngân hàng, nghĩa là các ngân hàng chia nhau nắm giữ l-
ợng tiền trong lu thông. Để tăng lợng tiền gửi của mình, các ngân hàng thờng
tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác chảy về. Nhng
thực tế khi một ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các ngân
hàng khác cũng sẽ đồng loạt tăng lãi suất lên làm chi phí ngân hàng tăng lên mà
lợng tiền gửi lại thay đổi không đáng kể. Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các
dự án mà ngân hàng cho là có hiệu quả thì ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi
vay. Do tính chất hoạt động không đồng đều giữa các ngân hàng về huy động
cấu vốn của ngân hàng con còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu t. Khoản
vốn này hình thành chủ yếu hình thành là do các tổ chức tài chính nớc ngoài,
trong nớc uỷ thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng thực hiện cho
vay các dự án của mình. Có thể là các khoản vay của Chính Phủ đợc uỷ thác.
Trên đây là cơ cấu vốn chính của các ngân hàng thơng mại. Vốn huy động là
nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn. Tuy nhiên, các
ngân hàng thơng mại phải tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động tối đa
không vợt quá hai mơi lần vốn thuộc sở hữu của ngân hàng và phải chấp hành
tốt các quy định về tỷ lệ dự trữ...
2. Vai trò của vốn đối với Ngân hàng th ơng mại.
Nh mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh đợc tiến hành
cần phải có t liệu sản xuất. Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền
tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh đợc. Hoạt động tìm kiếm t
liệu sản xuất của ngân hàng thơng mại là hoạt động huy động vốn. Nh vậy, huy
động vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thơng
mại.
Thứ nhất: vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh. Đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đợc thì phải có vốn, vì
vốn phản ánh năng lực kinh doanh. Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy
động, vốn đi vay của ngân hàng. Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc
thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu
t, cho vay nên sẽ ảnh hởng tới thu nhập của ngân hàng.
Vậy, nếu ngân hàng không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động kinh
doanh. Bởi vì, với đặc trng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phơng
12
tiện kinh doanh mà còn là đối tợng kinh doanh chủ yếu. Trên thực tế, ngân
hàng nào có khối lợng vốn lớn hơn thì ngân hàng đó có thế mạnh cạnh tranh
trong kinh doanh.
Thứ hai: Vốn ảnh hởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của ngân hàng
doanh. Nguồn vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của ngân
hàng nh chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro
và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lợi.
Thứ t : Vốn giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín
của mình trên thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt
động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín của mình trên thị thờng là điều quan
trọng. Uy tín đó trớc hết đợc thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho
khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng
càng lớn. Mặt khác, uy tín của ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và
đầu t của ngân hàng (ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn
dài nếu nh ngân hàng có nguồn vốn lớn). Điều này phụ thuộc vào hoạt động
huy động vốn của ngân hàng. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn
lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến
hành cạnh tranh có hiệu quả; vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của ngân
hàng trên thị trờng.
Bên cạnh đó, một trong những tác dụng lớn nhất của vốn tự có là tạo sự uy
tín trong công chúng. Một ngân hàng có trụ sở là tài sản riêng càng đồ sộ
chừng nào thì càng dễ gây tín nhiệm của dân chúng chừng ấy. Vốn tự có của
ngân hàng càng lớn thì sức chịu đựng của ngân hàng càng mạnh khi mà tình
hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của ngân hàng trải qua giai đoạn
khó khăn.
Thứ năm: Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Quy mô, trình độ cán bộ, công nhân viên, phơng tiện kỹ thuật hiện đại của
ngân hàng là tiền đề thu hút vốn. Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối
với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh
tế cả về quy mô tín dụng, lẫn việc chủ động về thời hạn cho vay và thậm chí
trong khi quyết định lãi suất phù hợp với khách hàng. Điều này sẽ thu hút ngày
càng nhiều khách hàng đến với mình, nghĩa là doanh số hoạt động của ngân
hàng sẽ tăng lên trong tơng lai và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh
tiêu thức khác nhau mà đợc chia thành từng loại khác nhau:
1.1. Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay, ngời ta thờng phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này để
có thể quản lý tốt lợng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để ngân hàng xây dựng
chiến lợc dự trữ phù hợp.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, ng-
ời gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãi suất thờng thấp. Tiền gửi không kỳ
15
hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có
thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn (giao dịch) có thể huy động. Hình
thức này chủ yếu là mở cho các doanh nghiệp. Bởi vì các doanh nghiệp gửi tiền
vào ngân hàng mục đích chính không phải để nhận lãi mà là để hởng các dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp; đó là các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, thu chi
hộ,...
Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu của
những khách hàng cha có dự định rõ ràng trong tơng lai, hoặc không thực sự an
tâm về việc gửi tiền mà chỉ mong muốn nhận đợc một số tiền lãi nào đó với l-
ợng tiền hiện còn nhành rỗi.
Do tính chất không ổn định của nó nên ngân hàng chỉ đợc sử dụng một tỷ lệ
phần trăm nhất định nào đó của lợng tiền gửi không kỳ hạn nhận đợc, và ngân
hàng muốn sử dụng thì phải dự tính về sự ổn định tơng đối của lợng tiền này.
Do vậy, quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quản lý dự
trữ trong các ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa ngời gửi tiền
và ngân hàng về số lợng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi. Do có sự xác định
rõ ràng về kỳ hạn, nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền có sự ổn định
cao, ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tơng ứng hoặc có thể
chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Chính vì lý
do này mà lãi suất của các khoản tiền gửi kỳ hạn thờng cao hơn nhiều lãi suất
tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì mục đích chính của việc gửi tiền vào ngân hàng là
thanh toán có khối lợng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời cha sử dụng
thì ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh.
1.4. Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi.
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó phụ
thuộc vào thu nhập trong nớc và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lợng tiền gửi.
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì ngân hàng còn nhận tiền gửi
dới dạng ngoại tệ nh USD, GBP, DEM,... những khoản ngoại tệ này cũng rất
quan trọng cho hoạt động ngân hàng nh kinh doanh ngoại tệ trong nớc, tài trợ
xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế,...
2. Chứng th tiền gửi loại lớn.
Chứng th tiền gửi loại lớn là một loại hình phiếu nợ do ngân hàng phát ra để
vay tiền của thị trờng. Có hai cách phát hành loại chứng th này:
Một là khi có các đối tợng đến vay tiền để sản xuất hoặc tiêu dùng theo hợp
đồng với ngân hàng, ngân hàng phát lại chứng th này cho họ. Hoặc ngân hàng
có thể công bố phát hành chứng th này cho các đối tợng muốn đầu t hoặc muốn
gửi tiền vào ngân hàng. Thay vì một cuốn sổ tiền gửi có kỳ hạn, họ có thể nhận
17
loại chứng th này. Nhng chứng th loại này không có những đơn vị quá nhỏ bằng
tiền mặt.
- Khi ngân hàng thơng mại phát ra chứng th này, nó hớng tới việc vay tiền của
thị trờng, của nhân dân và chứng th là giấy xác nhận khoản vay này. Đồng thời
trên chứng th có ghi rõ thời hạn sẽ trả lại tiền mặt (6 tháng, 1 năm,...) và lãi suất
ngời cho vay đợc hởng. Đến ngày đáo hạn cuối cùng, ngời sở hữu chứng th đem
nộp nó cho ngân hàng đã phát hành để nhận lại cả vốn theo giá trị bề mặt và
tiền lời.
- Loại chứng th này ở các nớc công nghiệp thờng có thời gian đáo hạn không
qúa 6 tháng kể từ ngày phát hành. Với thời gian ngắn và tính chất đợc sử dụng,
chấp nhận không khác gì Séc hay tiền mặt, trong khi nó có lãi suất mà Séc và
tiền mặt không có lãi suất, chứng th này trở thành loại đầu t ngắn hạn hấp dẫn
nhất đối với các nhà kinh doanh và hộ gia đình.
Chứng khoán mà ngân hàng đem bán là chứng khoán mà ngân hàng đang đầu
t. Không phải là phiếu nợ do nó phát hành nh các trờng hợp vừa rồi. Những loại
chứng khoán mà ngân hàng thờng đầu t nhất và có thể đem bán theo loại hợp
đồng này là Trái phiếu Kho bạc, Tín phiếu Kho bạc và một số loại trái phiếu, cổ
phiếu khác của thị trờng.
Hợp đồng mua lại có những đặc điểm sau:
- Hợp đồng thuyết minh rõ ràng, ngân hàng chỉ bán ra trong một ngày, hai
ngày hay một tuần, hai tuần. Sau đó, ngân hàng đợc phép mua lại chính các loại
chứng khoán mà nó đã bán ra với giá đúng bằng giá gốc cộng thêm chi phí giao
dịch. Đó là lý do ngời ta gọi đây là thoả thuận hoặc hợp đồng mua lại. Ngời đã
mua chứng khoán của ngân hàng, chỉ đợc bán lại cho chính ngân hàng này vào
một thời gian ngắn sau đó mà không đợc phép bán cho ai khác.
- Do đó, đây là một hình thức giải quyết vấn đề kẹt tiền mặt cấp thời cho
ngân hàng thơng mại. Thời gian bán tối đa không quá 2 tuần ( ở các nớc công
nghiệp hiện nay).
- Khi ngân hàng bán chứng khoán ra theo loại hợp đồng này nó thu tiền mặt
về lợng tiền mặt này xuất hiện nh một khoản vay ngắn hạn từ thị trờng vì lợng
chứng khoán xuất ra vẫn đợc xem nh một bộ phận tài sản có mà ngân hàng sẽ
thu hồi. Khoản vay ngắn hạn này là một bộ phận của tài sản nợ.
- Tổ chức mua chứng khoán là ngời cho vay. Ngân hàng phát ra chứng khoán
là chủ thể đi vay. Ngân hàng không bao giờ áp dụng hình thức bán này cho
nhân dân. Bởi lẽ bán ra cho nhân dân dới hình thức nh phát hành lẻ và sau này
mua lại sẽ tốn rất nhiều thời gian và hiệu quả rất chậm không giải quyết những
nhu cầu tiền mặt gấp trong ngắn hạn. Hầu nh phơng thức này chỉ áp dụng cho
các đại lý lớn mà thôi.
19
- Chi phí giao dịch mà ngân hàng sẽ trả cho đại lý chính là tiền lãi từ thơng
vụ cho vay này đứng về phía ngời mua là các đại lý. Thông thờng giá bán và giá
mua lại(gồm cả lãi) đã đợc thống nhất sắn trong hợp đồng với những khoảng
thời gian đã định trợc. ở các nớc có thị trờng tài chính phát triển nh Nhật Bản,
khoản mục cố định trong tài sản nợ vì không có ngân hàng thơng mại nào mà
cha hề vay của Ngân hàng Trung ơng bao giờ từ khi thành lập.
7. Các khoản vay từ công ty mẹ.
Một hình thức vay vốn khác ngoài các hình thức trên là vốn vay từ công ty
mẹ (parents company). Tại các nớc đã phát triển, một công ty hoặc một tập
đoàn kinh doanh có thể là chủ của một đến rất nhiều ngân hàng thơng mại.
Thay vì ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ để vay tiền của thị trờng
bằng các hình thức kể trên, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của Ngân
hàng Trung ơng về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của ngân
hàng có thể thay thế nó làm chuyện đó dới hình thức phát hành trái phiếu, cổ
phiếu công ty hoặc các loại thơng phiếu, rồi chuyển vốn đã huy động đợc về
cho ngân hàng hoạt động.
Mỗi khi Ngân hàng Trung ơng ràng buộc họ quá nhiều điều kiện không thể
phát hành trái phiếu đợc nh ý muốn. Hoặc nếu phát hành đợc cũng sẽ phải trả
chi phí rất cao. Vậy nên giao cho các công ty mẹ phát hành là cách trốn thoát
của họ để đạt những muc đích ấy. Lý do này giải thích vì sao hầu nh ở tất cả các
nớc phát triển, các ngân hàng thơng mại luôn luôn là con đẻ của một công ty
kinh doanh, công ty tài chính hoặc ít nhất là có quan hệ mật thiết với các đối t-
ợng trên.
Trên đây là các hình thức huy động vốn thờng thấy của ngân hàng thơng
mại. Tuy nhiên đối với mỗi ngân hàng khác nhau, ở các nớc khác nhau và trong
các giai đoạn khác nhau thì có thể có các phơng thức huy động khác.
IV. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng huy động vốn
của NHTM
1. Các nhân tố bên ngoài
1.1. Chu kỳ phát triển kinh tế.
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực
tiếp đến mọi hoạt động của các ngân hàng thơng mại nên cũng ảnh hởng đến
hoạt động huy động vốn. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, thu
nhập dân c đợc đảm bảo và ổn định thì nguồn tiền vào ra của các ngân hàng
1.4. Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng.
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những ngời có vốn gửi tại ngân hàng và
những đối tợng sử dụng vốn đó. Về môi trờng xã hội ở các nớc phát triển, khách
hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập đợc chuyển vào tài khoản của họ.
Nhng ở các nớc kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thờng lớn hơn. ở khoản
mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm
lý của ngời gửi tiền. Thu nhập ảnh hởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng
22
có thể huy động trong tơng lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hởng đến sự biến động ra
vào của các nguồn tiền. Tâm lý tin tởng vào tơng lai của khách hàng có tác
dụng làm ổn định lợng tiền gửi vào, rút ra và ngợc lại nếu niềm tin của khách
hàng về đồng tiền trong tơng lai sẽ mất giá gây ra hiện tợng rút tiền hàng loạt
vốn là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng. Một đặc điểm quan trọng của đối t-
ợng khách hàng là mức độ thờng xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân
hàng. Mức độ sử dụng càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy
động vốn.
2. Các yếu tố thuộc về ngân hàng.
2.1. Các hình thức huy động vốn mà ngân hàng sử dụng.
Để thực hiện tốt công tác huy động vốn, các ngân hàng thờng đa ra nhiều
hình thức huy động vốn đa dạng. Khối lợng vốn mà ngân hàng huy động đợc
phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động vốn mà ngân hàng áp dụng. Khi
áp dụng nhiều hình thức huy động vốn sẽ tạo những cơ hội để ngời gửi lựa
chọn, đáp ứng đợc các nhu cầu của ngời gửi. Mỗi ngân hàng đều tìm cho mình
những hình thức huy động vốn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tâm lý dân
c vùng mà ngân hàng đặt địa điểm, đồng thời phù hợp với yêu cầu sử dụng cũng
nh dễ dàng quản lý có hiệu quả nguồn vốn của mình. Khi hình thức huy động
vốn đa dạng nghĩa là số lợng vốn huy động đợc tăng lên và chi phí huy động có
xu hớng giảm xuống.
2.2. Chiến lợc kinh doanh của ngân hàng.
Trong một ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các
chất lợng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất huy
động nh nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lợng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện
hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các
nghiệp vụ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản
lý tốt nguồn vốn, thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất l-
ợng huy động vốn .
2.5. Uy tín của ngân hàng
Trên thực tế, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo đợc một hình ảnh riêng của
mình trong lòng khách hàng. Một ngân hàng lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn
trong hoạt động huy động vốn. Sự tin tởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân
hàng có khả năng ổn định khối lợng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy
động. Từ đó ngân hàng có thể đề ra chiến lợc dự trữ dễ dàng hơn. Thậm chí
trong điều kiện lãi suất gửi tiền tại ngân hàng có uy tín thấp hơn đôi chút,
những ngời có tiền vẫn lựa chọn ngân hàng đó để gửi mà không tìm những nơi
trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt đối an toàn.
24
Chơng II
Thực trạng huy động vốn của CHi nhánh
Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ
I. Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ
1. Sơ l ợc quá trình hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ là một chi nhánh trực thuộc
Ngân hàng Công thơng Việt Nam có trụ sở chính nằm ở 229 đờng Lê Duẩn-
Thành phố Vinh - Tỉnh Nghệ An.
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ ra đời trên cơ sở nâng cấp
phòng giao dịch Bến Thuỷ trực thuộc Ngân hàng Công thơng Nghệ An
(1/1/1995) rồi sau đó đợc nâng cấp lên trực thuộc Ngân hàng Công thơng Việt
Nam.
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Bến Thuỷ đã phải đối mặt với những thử