Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển, ngành ngân hàng đã góp phần to lớn
đưa đất nước Việt Nam phát triển theo đường lối của Đảng và Bác Hồ đã chọn. Từ
nguồn vốn huy động được trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, các ngân
hàng thương mại sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu
vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Có thể nói, ngân hàng thương mại là
chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, là mối liên kết giữa nền tài chính
quốc gia và tài chính quốc tế, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Bước vào quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần
đây đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt từ 8%
trở lên, đời sống nhân dân đang được cải thiện từng ngày, là nơi thu hút vốn đầu tư
của các tổ chức quốc tế. Hòa chung với sự biến đổi của cả nước, ngành ngân hàng
đang tự khẳng định vị thế của mình đối với công cuộc phát triển của đất nước. Sau
gần hai thập kỉ đổi mới, hệ thống ngân hàng nước ta đã tạo lập được những cơ sở
vững chắc để tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng, cống hiện vào sự nghiệp chung của
cả nước. Tuy nhiên, so với các ngân hàng trong khu vực và thế giới thì trình độ các
ngân hàng nước ta chỉ ở mức trung bình, hoạt động còn đơn điệu, công nghệ vẫn còn
lạc hậu, giao dịch thủ công, chưa đồng bộ, khó liên kết với các ngân hàng khác.
Để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải lựa chọn cho
mình con đường đi phù hợp nhất, từng bước khẳng định uy tín và thương hiệu, nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình. Phương pháp tốt nhất giải quyết vấn đề của mình
trong bối cảnh hiện nay là các ngân hàng thương mại phải tăng cường họat động huy
động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của đất nước, từ đó có thể
đảm bảo khả năng thanh tóan, phát triển các hoạt động đầu tư và cho vay, nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.
Cùng với hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam, chi nhánh NHNo & PTNT Hà
Nội được thành lập và hoạt động trong bối cảnh khó khăn về nhiều mặt, những ảnh
1
Chuyên đề tốt nghiệp
hưởng to lớn và nặng nề của cơ chế bao cấp để lại. Tuy vậy, trong gần 20 năm qua
NHTM lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh. Do đó, vốn của NHTM chủ yếu
phải là vốn bằng tiền. Để có thể hoạt động, ngân hàng phải có một số vốn nhất định
(vốn pháp định), tuy nhiên ngân hàng kinh doanh phần lớn dựa trên số vốn huy động.
Đó là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong qúa trình sản xuất,
phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực
hiện các mục đích khác nhau. Hay nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng
vốn tiền tệ cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải trả lại cho họ một khỏan thu nhập.
Với số vốn huy động được, các NHTM tiến hành kế hoạch kinh doanh để trang trải
chi phí huy động và tích lũy, phục vụ sự phát triển lâu dài. Có nhiều hình thức sử
dụng vốn với các mức độ sinh lời và rủi ro khác nhau, tùy thuộc vào định hướng
cũng như cách thức thực hiện của từng đơn vị. Và như vậy, ngân hàng đã thực hiện
vai trò tập trung và phân phối lại vốn dứơi hình thức tiền tệ, chuyển vốn từ tay người
tiết kiệm sang những người đầu tư đang rất cần vốn để sản xuất, kinh doanh, làm
tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế
phát triển. Phần lợi nhuận thu về của các ngân hàng chính là phí dịch vụ ngân hàng,
chênh lệch giữa lãi suất tín dụng và lãi suất huy động hay chính là chênh lệch giữa
các khỏan thu và chi của ngân hàng trong một giai đọan nhất định.
Như vậy, nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập
hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh khác.
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng, quyết định tới sự sống còn
của các NHTM, là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh; quyết định
quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng; quyết định năng
lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế. Cơ cấu nguồn
vốn của NHTM có thể được chia thành bốn nhóm cơ bản : Nguồn vốn chủ sở hữu,
nguồn vốn huy động, nguồn đi vay và các nguồn khác.
1.1.1.Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, vốn điều lện không phải luôn
giũ cố định mà vẫn được bổ sung và tăng dần theo các hình thức: ngân sách nhà nước
cấp thêm, huy động thêm từ các cổ đông, lợi nhuận tích lũy… tùy thuộc vào điều
kiện cụ thể.
Cổ phần phát hành thêm, ngân sách nhà nước cấp thêm
Để mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường khả năng chống đỡ rủi ro các
NHTM cổ phần có thể huy động thêm vốn bằng con đường phát hành thêm cổ phiếu
(có thể là cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi), các NHTM thuộc sở hữu nhà nước
có thể xin cấp thêm vốn ngân sách, các ngân hàng tư nhân hay ngân hàng liên doanh
có thể cùng nhau góp thêm vốn.
Lợi nhuận bổ sung
Khi ngân hàng hoạt động hiệu quả và có lãi, chủ ngân hàng có xu hướng gia
tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ
lện tích lũy tùy thuộc vào khả năng hoạt động cũng như chính sách gia tăng vốn chủ
của mỗi ngân hàng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy
từ lợi nhuận sẽ cao so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Các quỹ
Ngòai nguồn vốn hình thành ban đầu, NHTM còn có các quỹ dự trữ, các quỹ
này được coi là nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng và hằng năm được bổ sung từ
lợi nhuận ròng của ngân hàng đó. Tùy theo quy định của từng quốc gia, các ngân
hàng phải thực hiện trích lập các quỹ khác nhau. Thông thường các NHTM phải lập
các quỹ:
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
Quỹ được trích lập theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng lợi nhuận ròng (có
mức giới hạn do pháp luật từng nước quy định). Tại Việt Nam, theo quy định, hàng
năm các NHTM được trích lập 5% lợi nhuận sau khi hoàn thành nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp để hình thành quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Mức tối đa của quỹ này
Quỹ đánh giá lại
Do giá trị thị trường của các tài sản đặc biệt mà ngân hàng nắm giữ như bất
động sản, chứng khoán… có xu hướng biến động mạnh trong từng thời kì khác nhau
nên quỹ này nhằm ghi chép phần chênh lệch do đánh giá lại giá trị của các tài sản và
nợ của ngân hàng. Dựa vào quỹ này, nhà quản lý ngân hàng có thể theo dõi và đánh
giá giá trị thị trường của nguồn vốn chủ sở hữu.
Các quỹ khác
Các NHTM còn sử dụng lợi nhuận sau thuế để trích lập các quỹ khác như:
quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới,
quỹ trợ cấp mất việc làm… Các quỹ này không nhất thiết phải lập, tùy thuộc vào
chính sách của các NHTM trong từng thời kỳ. Khi chúng không được sử dụng, hoặc
sử dụng không hết sẽ bổ sung làm gia tăng vốn chủ.
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay trung và dài hạn của NHTM có khả năng chuyển đổi thành
vốn cổ phần như trái phiếu có khả năng chuyển đổi có thể được coi là một bộ phận
của vốn chủ sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do một số đặc điểm như sử dụng
lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
Nguồn vốn này thực sự là một công cụ hữu hiệu đối với ngân hàng trong việc gia
tăng vốn chủ sở hữu mà lại không làm mất đi quyền kiểm soát của các cổ đông hiện
hữu.
Trong quá trình hoạt động của ngân hàng, nguồn vốn chủ sở hữu mặc dù được
tích lũy tăng lên đáng kể nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 10%) trong cơ cấu
vốn của các NHTM. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu là điều kiện ban đầu để thành lập
ngân hàng, là nguồn tài trợ chính cho xây dựng trụ sở ngân hàng, mua sắm thiết bị.
Đây là cơ sở để đánh giá thực lực và quy mô của một ngân hàng, tạo uy tín cho ngân
hàng và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Bên cạnh đó, chức năng quan trọng
của vốn chủ sở hữu là chống đỡ rủi ro cho những người gửi tiền. Nguồn vốn chủ sở
hữu càng lớn, ngân hàng càng có nhiều khả năng chống đỡ rủi ro trong giai đoạn
bách, cần thiết trong thời đại kinh tế bùng nổ và xu hướng hôi nhập toàn cầu hóa như
hiện nay.
1.1.2.Nguồn tiền gửi
Nguồn tiền gửi của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được từ
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua nghiệp vụ tiền gửi, thanh
toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của nguồn vốn này là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả
9
Chuyên đề tốt nghiệp
đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn (tiền gửi có kì hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút
vốn (tiền gửi không kì hạn). Tiền gửi đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt
động kinh doanh của NHTM.
Nguồn tiền gửi luôn biến động, nên ngân hàng không được phép sử dụng hết
số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng
thanh toán. Nguồn vốn huy động bao gồm tiền gửi và các nguồn huy động khác.
Tiền gửi
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 2004 – sửa đổi, bổ sung Luật các tổ chức
tín dụng 1997 quy định rằng “Tiền gửi là số tiền các tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức
tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi
không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi
được hưởng lãi, không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.”
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi
một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để
giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của
các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng,
chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 60-70%) trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia
tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng
ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác
nhau.
Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của một tầng lớp dân cư chưa sử
dụng cho tiêu dùng. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an
toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để
tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Trên thực tế, trong nền kinh tế thị
trường, tiền gửi tiết kiệm được phát triển thành hai loại hình tiết kiệm: tiền gửi tiết
kiệm không kì hạn và tiền gửi tiết kiệm có kì hạn. Khoản tiền gửi tiết kiệm không kì
11
Chuyên đề tốt nghiệp
hạn là khoản tiền gửi tiết kiệm có thể rút ra bất kì lúc nào song không được sử dụng
các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn là
khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với
tiền gửi tiết kiệm không kì hạn. Hình thức tiền gửi này được ngân hàng đa dạng hóa
thành các kì hạn với các mức lãi suất tương ứng khác nhau, thỏa mãn tốt nhất yêu cầu
của mọi đối tượng khách hàng. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền gửi tiết kiệm, các
ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt
tại nhà, chấp nhận khách hàng gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, vàng, và khách hàng có
thể dùng sổ tiết kiệm đó để thế chấp vay vốn.
Tóm lại, nguồn tiền gửi là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặc dù phạm
vi sử dụng nguồn tiền gửi của các NHTM bị hạn chế so với vốn chủ sở hữu, song nếu
các ngân hàng sử dụng tốt số vốn này thì không những nguồn lợi của ngân hàng được
tăng mà còn tạo cho ngân hàng có được uy tín ngày càng cao. Qua đó, tạo cho ngân
hàng mở rộng được vốn và góp phần mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
1.1.3.Nguồn vốn đi vay
Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng. Tuy nhiên, khi các ngân
hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động thì các NHTM sẽ
đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình. Vốn đi vay là quan hệ vay vốn
Ngân hàng Nhà nước cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá là các thương
phiếu. Các thương phiếu này phải là các thương phiếu có chất lượng, tức là phải thỏa
mãn những điều kiện: hợp pháp, hợp lệ, đảm bảo an toàn, thời gian đáo hạn ngắn,
khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng. Tái cấp vốn bao gồm hai
13
Chuyên đề tốt nghiệp
hình thức:
- Cho vay tái chiết khấu: Ngân hàng Nhà nước nhận các thương phiếu mà các
NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như trước đây các
NHTM đã làm. Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đối với các NHTM đã được
giới hạn trong mức cho phép (hạn mức tái chiết khấu) để thực hiện chính sách tiền tệ
của Nhà nước.
- Cho vay có đảm bảo: là hình thức các NHTM đem các thương phiếu đến
Ngân hàng Nhà nước để làm đảm bảo xin vay vốn. Căn cứ trên tổng mệnh giá các
chứng từ có giá làm đảm bảo, Ngân hàng Nhà nước sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định
tùy theo sự quản lý của Nhà nước.
Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín
dụng khác trên thị trường liên ngân hàng do trong quá trình hoạt động, cũng có lúc
các NHTM thiếu hụt dự trữ hoặc thiếu tiền mặt, buộc phải vay mượn các tổ chức tín
dụng khác. Các tổ chức tín dụng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng
bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các
ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang
thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh toán. Như vậy
nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp
bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ
ngân hàng Nhà nước. Quan hệ vay mượn này diễn ra khá thường xuyên nhưng chỉ
trong một thời gian ngắn thường là dưới một tuần hoặc chỉ trong vài ngày do tính
chất của các khoản vay này là đáp ứng nhu cầu trước mắt, hoặc do các NHTM không
muốn lạm dụng hình thức vay mượn này. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân
Thông qua nghiệp vụ đại lý, thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho
vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân, thu hộ… các NHTM cũng
thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm
15
Chuyên đề tốt nghiệp
đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự
án đầu tư. Do việc phát tiền được thực hiện theo tiến độ công việc, nên ngân hàng có
thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh. Khi thực hiện các dịch vụ này,
mạng lưới các NHTM được sử dụng như là kênh dẫn vốn tới các mục tiêu. Do vậy,
vốn hình thành từ nguồn ủy thác thường không mấy chi phí.
Nguồn trong thanh toán
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được một khoản
vốn gọi là vốn trong thanh toán: vốn trên tài khỏan mở thư tín dụng, tài khoản tiền
gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng chấp nhận
các hối phiếu thương mại… Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài khỏan này
nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng nên tạm thời được coi là tiền nhàn rỗi.
Tiền khác
Bao gồm các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán như lương chưa trả, thuế chưa
nộp…
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng
và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn thất rất lớn
cho nền kinh tế và mất ổn định chính trị. Các nhà quản lý đã và đang không ngừng
cải tiến chính sách quản lí để hạn chế sự sụp đổ và mở đường cho sự phát triển cho
ngành ngân hàng. Một nội dung lớn trong chính sách quản lý này chính là chính sách
quản lý nguồn vốn của ngân hàng. Một nguồn vốn dồi dào, phù hợp là mục tiêu lớn
của các nhà quản lý ngân hàng, từ đó có thể phát triển hoạt động tín dung và các hoạt
động khác của ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như uy tín của ngân
hàng trong nền kinh tế.
1.2.Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Như đã trình bày ở trên, nguồn vốn huy động là nguồn vốn chính, chiếm tỷ
17
Chuyên đề tốt nghiệp
xuyên chăm lo, bổ sung cho nguồn vốn của mình bằng hoạt động huy động vốn trong
suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình.
Vốn quyết định quy mô của ngân hàng trong hoạt động tín dụng và các
hoạt động khác
Vốn của ngân hàng có tính chất quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp quy
mô hoạt động tín dụng, đầu tư của ngân hàng, khả năng thanh tóan, chi trả cũng như
các họat động khác. Thông thường, so với các ngân hàng lớn, các ngân hàng nhỏ có
khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và đối tượng cho vay của
các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi đó, các ngân hàng lớn dễ dang mở rộng
phạm vi cho vay, không chỉ trên địa bàn mình mà còn hướng ra khu vực và quốc tế.
Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy
bén được với sự biến động về lãi suất, gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút vốn
đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Với nguồn vốn lớn, các ngân
hàng dễ dàng hơn trong việc chủ động quyết định kỳ hạn, lãi suất, thời hạn của các
khoản mục cho vay và đầu tư, phạm vi và khối lượng cũng được nhiều hơn. Vốn có
tầm quan trọng lớn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nền kinh tế nước ta đang
trên đà phát triển, hiện tại và tương lai nhu cầu vốn là rất lớn, nếu các ngân hàng
không dự đoán, điều chỉnh công tác huy động để duy trì nguồn vốn thì có thể bỏ qua
những cơ hội phát triển quý báu.
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng
Như đã trình bày ở trên, phần lớn nguồn vốn của ngân hàng là nguồn tiền gửi
từ các tổ chức kinh tế và dân cư. Đặc điểm của nguồn tiền này là hoàn trả khi có yêu
cầu, nên ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Vì thế năng lực thanh toán cao là yếu tố các ngân hàng cần phải đảm bảo và luôn
được chú trọng. Vốn khả dụng của ngân hàng càng cao thì khả năng thanh toánn chi
trả của ngân hàng càng lớn. Do đó, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của
ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng nói riêng.
18
ngân hàng. Để có nguồn vốn lớn, các ngân hàng phải nâng cao hoạt động huy động
vốn của mình kể cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đó, để có thể phát triển bền vững
và lâu dài, các ngân hàng phải tự xây dựng cho mình một chiến lược huy động vốn
khả thi, hiệu quả và lâu dài.
1.2.2.Các hình thức huy động vốn
Trong nền kinh tế mở cửa hội nhập hiện nay, để thu hút được nguồn vốn lớn,
các NHTM phải tìm cách đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu và
thỏa mãn mọi mong muốn của khách hàng. Vì thế, theo các tiêu thức khác nhau có
thể phân các hình thức huy động vốn thành các loại khác nhau.
1.2.2.1.Theo đối tượng huy động
Huy động vốn từ dân cư
Trong nền kinh tế phát triển, đời sống dân cư được nâng cao thì ngoài khỏan
tiền tiêu dùng, các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi.
Nhằm mục đích đảm bảo an toàn và sinh lời, họ có thể sử dụng các hình thức đầu tư
như mua vàng, ngoại tệ mạnh, bất động sản, cổ phiếu hay trái phiếu. Các hình thức
này mặc dù mang lại nguồn lợi nhuận cao nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. Do đó,
trong đại bộ phận dân chúng thì đều chọn hình thức gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng
vừa được đảm bảo an toàn, vừa có thể thu được một khoản lợi tức nhất định. Tùy
thuộc vào nhu cầu sử dụng tiền mặt mà khách hàng có thể lựa chọn các hình thức gửi
tiền khác nhau với các kì hạn khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn mang giá trị cốt lõi là
sinh lời, trong khi đó tiền gửi thanh toán hay tiền gửi không kì hạn lại mang mục đích
phục vụ cho nhu cầu thanh tóan của khách hàng. Đặc tính của loại này là biến động
hơn rất nhiêu so với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn. Do đó, để thu hút nguồn vốn ổn định
trong xã hội, các ngân hàng thường quy đinh mức lãi suất tiền gửi có kì hạn cao hơn
tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với nguồn tiền huy động từ dân cư, do nhu cầu sử dụng là khác nhau nên
20
Chuyên đề tốt nghiệp
các NHTM luôn tìm mọi cách để đa dạng hóa nguồn vốn huy động này bằng cách đa
dạng hóa các sản phẩm như rút ngắn kì hạn gửi tiền có thể theo ngày, theo tuần, theo
ích thanh toán, chủ sở hữu tài khỏan phải trả cho ngân hàng một khỏan phí.
Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài
khoản: tài khỏan tiền gửi thanh tóan và tài khỏan vãng lai. Đối với tài khỏan tiền gửi
thanh tóan, việc rút tiền hay chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc
hay chuyển khoản. Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích thanh tóan và sử
dụng dễ dàng, thuận tiện đồng vốn khi cần. Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư
nợ, có lúc dư có. Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được ngân hàng đáp ứng
nhu cầu tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định và trong một giới hạn nhất
định được gọi là hạn mức thấu chi.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: đây là khoản tiền của doanh nghiệp, cá
nhân, tổ chức gửi vào ngân hàng trong khi chưa có kế hoạch sử dụng cụ thể nhằm
mục đích đảm bảo an toàn tài sản và khi cần có thể sử dụng ngay, không mang tính
chất phục vụ thanh toán. Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rút ra để chi tiêu.
Hình thức gửi tiền này không được ngân hàng cho phép phát hành séc.
Nói chung, tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng phản ánh mối
quan hệ kinh tế, pháp lý giữa ngân hàng với người gửi tiền nên giữa ngân hàng với
người gửi tiền phải tuân thủ quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi do Thống đốc
NHNN ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đồng thời chủ
tài khoản phải làm thủ tục mở tài khoản và đăng kí mẫu chữ ký của chủ tài khoản đối
với khách hàng là cá nhân, mẫu chữ ký chủ tài khoản và kế toán trưởng, mẫu con dấu
đối với các khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức xã hội tại các ngân hàng mở tài
khoản. Ngân hàng được từ chối thanh toán nếu người gửi tiền vi phạm quy định quản
lý tài khoản thanh toán và chế độ chứng từ kế toán ngân hàng.
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kì hạn một khoản nợ mà ngân
hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong mỗi
ngân hàng có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh
tóan hay giữa các tài khỏan của các doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên
tồn khoản. Khi đã đảm bảo khả năng thanh toán của mình, ngân hàng có thể sử dụng
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có
thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể
rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm.
Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng
nguồn vốn huy động, nhất là đối với các ngân hàng bán lẻ. Do đó, việc tăng cường
huy động nguồn tiền này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của
NHTM.
Phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn
trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sự dụng cho một mục đích nào
đó. Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
tiền gửi.
Theo chuẩn mực kế toán số 16, các doanh nghiệp trong đó có NHTM phát
hành giấy tờ có giá theo ba phương thức là phát hành giấy tờ có giá ngang giá, phái
hành giấy tờ có giá chiết khấu và phát hành giấy tờ có giá phụ trội. Về trả lãi phát
hành giấy tờ có giá thường áp dụng ba hình thức trả lãi là trả lãi trước, trả lãi sau và
24
Chuyên đề tốt nghiệp
trả lãi định kỳ.
Trong hình thức huy động vốn này, ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn so với
lãi suất tiền gửi huy động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn
mà vốn tự có và vốn huy động tiền gửi không đủ. Như vậy, khi thực hiện huy động
vốn dưới các hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về
khối lượng huy động. mức lãi suất và thời hạn, phương thức huy động. Vốn này chỉ
được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng vốn
theo dự kiến, các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu, chứng
chỉ tiền gửi.