thủ tục xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngời cha thành niên phạm tội là một hiện tợng thực tế, tồn tại trong tất
cả các xã hội. Trong những năm qua và nhất là thời điểm hiện nay, tình trạng
ngời cha thành niên phạm tội ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp. Việc giải
quyết vấn đề ngời cha thành niên phạm tội là việc làm cần thiết để giữ
nghiêm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhng cũng là một vấn đề
phức tạp và tế nhị. Trớc hết, do xuất phát từ đặc điểm tâm lý đang phát triển,
nhân cách cha đợc định hình, nhận thức cha đợc đầy đủ nên một số em đã có
hành vi phạm tội một cách không tự giác. Mặt khác, khi phạm tội các em là
những ngời phạm tội, nhng đồng thời cũng là những nạn nhân của sự thiếu
giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trờng và xã hội; hành động của các em ít
nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh khách quan hoặc bị xúi giục, lừa dối
Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về vấn đề giải quyết
tội phạm về ngời cha thành niên là: "Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một
vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách
để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng
để các việc sai trái ấy xảy ra" [24], quán triệt tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam năm 2003 đã dành nguyên một chơng riêng biệt (Chơng XXXII)
quy định về thủ tục tố tụng đối với ngời cha thành niên.
Đây là cơ sở pháp lý để áp dụng khi xử lý đối với ngời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là ngời cha thành niên. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy
định này đã nảy sinh nhiều vớng mắc và bất cập. Qua quá trình nghiên cứu lý
luận và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong
việc giải quyết các vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên, chúng tôi thấy,
những ngời tiến hành tố tụng không những phải nắm vững các quy định của
pháp luật, tuân thủ chặt chẽ các thủ tục tố tụng đặc biệt này mà còn phải có
1
kiến thức nhất định về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi cha thành niên để
phục vụ cho công tác xét xử đạt chất lợng cao. Hơn nữa, trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu sâu những quy định của
pháp luật về việc xét xử đối với bị cáo là ngời cha thành niên và thực tiễn áp
dụng những quy định đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý luận, đánh giá thực trạng của quá
trình xét xử bị cáo là ngời cha thành niên, luận văn góp phần làm sáng tỏ các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc giải quyết vụ án mà bị cáo là
ngời cha thành niên để áp dụng vào thực tiễn công tác xét xử nhằm đạt chất l-
ợng và hiệu quả cao nhất, đồng thời đa ra một số thực trạng đối với việc áp
dụng thủ tục này và đề xuất hớng giải quyết.
b. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của thủ tục xét xử
vụ án hình sự mà bị cáo là ngời cha thành niên. Trong đó tập trung nghiên cứu
các vấn đề: khái quát về ngời cha thành niên; đặc điểm tâm lý lứa tuổi của ng-
ời cha thành niên; những quy định của pháp luật nói chung về ngời cha thành
niên; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục xét xử đối với
vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên; thực trạng xét xử và một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện thủ tục đó. Thông qua đó, luận văn có những giải pháp để tạo
ra một cơ chế pháp lý phù hợp cho việc xét xử bị cáo cha thành niên nhằm
giáo dục, cải tạo họ thành ngời có ích cho xã hội.
4. Phơng pháp nghiên cứu
3
Trong luận văn chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu nh:
phơng pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp, thống kê tình hình thực tiễn xét xử tại
Tòa án. Qua đó chúng tôi nghiên cứu rút ra những thành tựu cũng nh những
tồn tại, hạn chế của thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên
nhằm tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ
đó đề ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử vụ án mà

Chơng 2: Quy định về thủ tục xét xử các vụ án mà bị cáo là ngời cha
thành niên trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và thực tiễn áp dụng
Chơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ
tục xét xử vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên.
5
Chơng 1 Một số vấn đề chung về thủ tục xét xử các vụ
án mà bị cáo là ngời cha thành niên
1.1. Khái niệm thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là
ngời cha thành niên
1.1.1. Khái niệm bị cáo là ngời cha thành niên
Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm ngời cha thành niên đợc định
nghĩa nh sau: "Ngời cha thành niên là ngời cha phát triển đầy đủ, toàn diện về
thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng nh cha có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân".
Theo quy định tại Điều 1 Công ớc quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 thì "Trẻ
em có nghĩa là ngời dới 18 tuổi trừ trờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó
có quy định tuổi thành niên sớm hơn". Bên cạnh Công ớc về quyền trẻ em thì
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối
với ngời cha thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
thông qua ngày 14.12.1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng
đề cập đến khái niệm "ngời cha thành niên là ngời dới 18 tuổi" nh là một sự kế
thừa của Công ớc về Quyền trẻ em. Quy tắc Riát về phòng ngừa phạm pháp ở
ngời cha thành niên đợc Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1990 mặc dù
không đa ra một cách cụ thể về khái niệm ngời cha thành niên, song thông qua
các quy định cũng giúp chúng ta hiểu ngời cha thành niên là ngời dới 18 tuổi.
Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm ngời
cha thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đa ra khái niệm
này thì Công ớc về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các n-
ớc quy định về độ tuổi cho ngời cha thành niên, thậm chí ngay trong một quốc
gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này.
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm đợc thừa nhận trong

coi là ngời cha có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do đó, họ cũng chỉ
7
phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm (rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc đặc biệt nghiêm trọng) chứ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả
các tội phạm. quy định này cũng thể hiện chính sách nhân đạo trong pháp luật
hình sự của Đảng và Nhà nớc ta.
Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định bị cáo là ngời đã
bị Tòa án quyết định đa ra xét xử, nh vậy, căn cứ vào quy định này và quy
định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên,
thì có thể hiểu bị cáo là ngời cha thành niên là ngời từ đủ 14 tuổi đến cha đủ
18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đa ra xét xử.
Từ phân tích trên có thể đa ra định nghĩa về bị cáo là ngời cha thành
niên nh sau:
Bị cáo là ngời cha thành niên là ngời từ đủ 14 tuổi đến cha đủ 18 tuổi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm bị
Tòa án quyết định đa ra xét xử.
Việc xác định tuổi của bị cáo là ngời cha thành niên rất quan trọng vì
đây là căn cứ ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ngời cha thành niên. Việc xác định tuổi của
bị cáo còn giúp Cơ quan tiến hành tố tụng xác định đợc việc xét xử và áp dụng
hình phạt đối với ngời cha thành niên
1.1.2. Khái niệm thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là ngời cha thành
niên
Nh đã nêu trên, ngời cha thành niên là ngời đang ở lứa tuổi mà khả
năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn
chế và nhiều khi do bị tác động mạnh của điều kiện bên ngoài. Chính sách
hình sự của Nhà nớc ta đối với ngời cha thành niên chủ yếu là nhằm giáo dục,
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm để phát triển lành mạnh, trở thành công dân có
ích cho xã hội.
8

1.2.1. Phạm vi áp dụng thủ tục xét xử đối với ngời cha thành niên
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì quan hệ pháp luật tố
tụng hình sự phát sinh từ khi một ngời bị bắt, bị tạm giữ về hình sự. Đối với
ngời thực hiện hành vi phạm tội bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố, truy tố và xét xử
là ngời cha thành niên thì xuất phát từ nhận thức ngời cha thành niên là ngời
cha phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, khả năng nhận thức về hành vi
còn hạn chế, dễ bị tác động bởi những điều kiện ngoại cảnh, Bộ luật tố tụng
hình sự Việt Nam năm 2003 đã dành một chơng (chơng XXXII) quy định về
thủ tục đặc biệt đối với ngời cha thành niên.
Phạm vi áp dụng của Chơng này đợc thể hiện tại Điều 301 Bộ luật tố
tụng hình sự nh sau: "Thủ tục tố tụng đối với ngời bị bắt, ngời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là ngời cha thành niên đợc áp dụng theo quy định của Chơng này,
đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy
định của Chơng này".
Nh vậy, có thể hiểu phạm vi áp dụng thủ tục xét xử đối với bị cáo là
ngời cha thành niên bao gồm các quy định tại Chơng XXXII Bộ luật tố tụng
hình sự (từ Điều 302 đến Điều 310) và tất cả những quy định khác của Bộ luật
tố tụng hình sự nếu không trái với những quy định của chơng này. Việc quy
định phạm vi áp dụng nh vậy để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo là
ngời cha thành niên.
1.2.2. Những vấn đề cần xác định rõ trong vụ án mà bị cáo là ngời
cha thành niên
Khi tiến hành xét xử với những vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên,
ngoài những vấn đề bắt buộc phải chứng minh đối với các vụ án hình sự nói
chung, thì theo quy định tại khoản 2 Điều 302 của Bộ luật tố tụng hình sự Tòa
án cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây:
Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về
hành vi phạm tội của ngời cha thành niên: Việc xác định tuổi của bị cáo là
10
ngời cha thành niên đặc biệt quan trọng vì đây là căn cứ để truy cứu trách

Chúng ta muốn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm do ngời
cha thành niên thực hiện và đề ra đợc những biện pháp khắc phục và ngăn
ngừa có hiệu quả thì phải tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện dẫn họ đến việc
phạm tội.
1.2.3. áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo là ngời cha
thành niên
Các biện pháp ngăn chặn đợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
bao gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

Tùy theo tính chất mức độ nghiêm trọng
của hành vi phạm tội, nhân thân của bị can, bị cáo, các biện pháp ngăn chặn
này có thể đợc áp dụng đối với cả trờng hợp ngời phạm tội là ngời thành niên
và trờng hợp ngời phạm tội là ngời cha thành niên ở các giai đoạn tố tụng
nhằm bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Tuy
nhiên, pháp luật về tố tụng hình sự cũng có những quy định đặc biệt để áp
dụng biện pháp ngăn chặn trong trờng hợp bị can, bị cáo là ngời cha thành
niên.
Đối với các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam
Ngoài những yêu cầu chung quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88
và 120 của Bộ luật tố tụng hình sự, theo quy định tại Điều 303 của Bộ luật tố
tụng hình sự và những quy định có liên quan thì việc áp dụng biện pháp bắt,
tạm giữ, tạm giam đối với ngời cha thành niên đợc thực hiện nh sau:
Biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, chỉ có thể đợc áp dụng đối với ngời
từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi trong trờng hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng
do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; đối với ngời từ đủ 16 tuổi đến
dới 18 tuổi, bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ có thể đợc áp dụng trong trờng hợp họ phạm
12
tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng.

đối với bị can, bị cáo cha thành niên, thủ tục bảo lĩnh chỉ đợc đặt ra đối với
bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi c trú rõ ràng và phải có cá
nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh. Việc cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh là do họ
hoàn toàn tự nguyện, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể bắt buộc họ đ-
ợc.
1.2.4. Việc điều tra, truy tố và xét xử những vụ án mà bị can, bị
cáo là ngời cha thành niên
Thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là ngời cha thành niên là thủ
tục đặc biệt đợc quy định tại Chơng XXXII, Phần thứ bảy Bộ luật tố tụng hình
sự. Những thủ tục này gồm: Điều tra, truy tố, xét xử; bắt, tạm giữ, tạm giam;
giám sát bị can, bị cáo; bào chữa; việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trờng
và tổ chức xã hội; xét xử; chấp hành án phạt tù; chấm dứt việc chấp hành biện
pháp t pháp và giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án.
Việc áp dụng quy định về tố tụng hình sự đối với ngời cha thành niên
phải căn cứ vào tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã đợc quy định trong Bộ luật
hình sự. Trong trờng hợp bị can, bị cáo có hành vi phạm tội lúc cha đủ mời
tám tuổi nhng khi phát hiện đợc tội phạm thì họ đã đủ mời tám tuổi thì áp
dụng những quy định về tố tụng hình sự đối với ngời đã thành niên, vì áp dụng
với họ tố tụng đối với ngời cha thành niên không còn phù hợp nữa. Nh vậy,
cần phải hiểu rằng việc xử lý ngời cha thành niên phạm tội phụ thuộc vào thời
điểm phát hiện tội phạm mà ngời đó thực hiện.
Riêng về xét xử thì tuổi của ngời cha thành niên đợc tính đến lúc phạm
tội chứ không phải đến lúc xét xử. Có thể khi xét xử ngời phạm tội đã thành
niên (đủ mời tám tuổi) nhng khi phạm tội ngời đó cha đủ mời tám tuổi thì vẫn
áp dụng các hình phạt đối với ngời cha thành niên.
14
Ngời cha thành niên phạm tội là ngời ở lứa tuổi mà khả năng nhận
thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và
nhiều khi còn bị tác động mạnh của những điều kiện bên ngoài. Do đó, quá
trình điều tra, truy tố và xét xử phải đợc tiến hành hết sức thận trọng, cụ thể và

năm 2003 quy định rõ việc mà các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác
định khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử là "có hay không có ngời thành niên
xúi giúc" thay vì quy định trớc đây của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 là
"có hay không ngời lớn xúi giục" để tránh hiểu khác nhau dẫn đến việc áp
dụng pháp luật không thống nhất (điểm c khoản 2 Điều 302).
1.3. Những vấn đề về ngời tiến hành tố tụng trong vụ án
mà bị cáo là ngời cha thành niên
Xuất phát từ những đặc điểm tâm sinh lý, trình độ, khả năng nhận thức
của ngời cha thành niên, Bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam có những quy
định đặc biệt để áp dụng riêng đối với những trờng hợp mà ngời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là ngời cha thành niên. Bộ luật tố tụng hình sự đã dành toàn bộ Ch-
ơng XXXII để quy định về thủ tục tố tụng đối với ngời cha thành niên trên cơ
sở kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đợc Quốc hội thông
qua ngày 29-6-1988, đồng thời có một số bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện hơn
các quy định về thủ tục tố tụng áp dụng trong trờng hợp ngời phạm tội là ngời
cha thành niên. Theo đó, khoản 1 Điều 302 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
quy định " Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với ngời cha thành niên phạm tội
phải là những ngời có hiểu biết cần thiết về tâm lý học và khoa học giáo dục
cũng nh về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của ngời cha thành
niên". Đối với Hội thẩm nhân dân, khi tham gia xét xử những vụ án mà bị cáo
là ngời cha thành niên, luật không quy định phải có những điều kiện nêu trên,
nhng trong Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc
cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Những tiêu chí này là những
16
điều kiện cần thiết để Thẩm phán, Hội thẩm có thể hiểu và có những phơng
pháp phù hợp khi tiến hành hoạt động xét xử, bảo đảm nguyên tắc quy định tại
khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự là "việc xử lý ngời cha thành niên phạm tội
chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và
trở thành công dân có ích cho xã hội". Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cha có
văn bản pháp luật nào quy định về đội ngũ những ngời tiến hành tố tụng

các phơng tiện làm việc và nhất là vấn đề con ngời của các cơ quan Tòa án thì
khó có thể thực hiện đợc quy định này, đặc biệt là đối với ngời cha thành niên
phạm tội là những trẻ lang thang, không có địa chỉ c trú rõ ràng.
1.4. Vấn đề tham gia của ngời bào chữa và đại diện gia
đình, nhà trờng và tổ chức xã hội
1.4.1. Việc tham gia tố tụng của ngời bào chữa
Trong những vụ án mà ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cha thành
niên thì việc tham gia tố tụng của ngời bào chữa là bắt buộc. Tuy nhiên, cần lu
ý là đối với những trờng hợp khi phạm tội, ngời phạm tội là ngời cha thành
niên nhng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì không bắt buộc phải
có sự tham gia của ngời bào chữa. Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ
luật tố tụng hình sự thì ngời bào chữa có thể là luật s, ngời đại diện hợp pháp
của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân. Việc tham
gia tố tụng của ngời bào chữa có thể theo yêu cầu của ngời bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng. Trong trờng hợp ngời bào chữa tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ
quan tiến hành tố tụng thì ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và ngời đại diện hợp
pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối ngời bào chữa theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về việc xác định những trờng hợp cụ thể nào có thể tham gia tố tụng
với t cách là ngời bào chữa cho bị cáo là ngời cha thành niên, chúng tôi thấy
18
rằng:
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh Luật s đợc ủy
ban Thờng vụ Quốc hội thông qua ngày 25-7-2001 và có hiệu lực kể từ ngày
01-10-2001 thì "Công ty luật hợp danh không đợc thực hiện dịch vụ pháp
lý trong lĩnh vực tố tụng". Nh vậy, theo quy định này thì có thể hiểu các luật
s là thành viên của công ty luật hợp danh không đợc tham gia tố tụng với t
cách là ngời bào chữa nói chung và là ngời bào chữa cho ngời cha thành niên
phạm tội nói riêng. Ngày 29-6-2006, Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ

viên nhân dân cũng phải đáp ứng đợc những tiêu chuẩn nhất định. Hiện nay,
Tòa án nhân dân tối cao đang phối hợp với các cơ quan có liên quan soạn
thảo thông t liên tịch hớng dẫn về vấn đề này. Về những tiêu chuẩn để có thể
đợc công nhận là bào chữa viên nhân dân, chúng tôi đề nghị cân nhắc và thể
hiện trong dự thảo thông t liên tịch một số tiêu chuẩn sau đây:
- Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Là thành viên của một tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
- Có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực;
- Có kiến thức pháp lý;
- Có sức khỏe để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ;
- Không thuộc một trong các trờng hợp không đợc bào chữa quy định
tại khoản 2 và khoản 3 Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1.4.2. Việc tham gia tố tụng của đại diện gia đình, nhà trờng, tổ chức
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời cha thành niên phạm
tội đòi hỏi phải đợc tiến hành thận trọng nhằm hạn chế tối đa những ảnh hởng
20
tiêu cực đến tơng lai của họ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật
tố tụng hình sự, thì trong trờng hợp ngời phạm tội là ngời cha thành niên, việc
tham gia tố tụng của đại diện của gia đình ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; thầy
giáo, cô giáo, đại diện nhà trờng, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ
chức khác nơi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo học tập, lao động và sinh sống
vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Cho đến nay, mặc dù cha có văn bản giải thích chính thức "đại diện gia đình"
của ngời cha thành niên phạm tội là ai; tuy nhiên, chúng tôi cho rằng khái
niệm "đại diện gia đình" trong điều luật này đợc hiểu rộng hơn khái niệm "ng-
ời đại diện hợp pháp của ngời cha thành niên", không chỉ bao gồm cha, mẹ,
ngời giám hộ của ngời cha thành niên mà còn có thể là anh, chị, ông, bà, cô,
dì, chú, bác hoặc những ngời thân thích khác của họ.

Mọi hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự chủ yếu tuân thủ và dựa
trên cơ sở các quy định mang tính hiến định cho toàn bộ hoạt động t pháp Việt
Nam trong Hiến pháp 1946 (Chơng VI từ Điều 63 đến Điều 69). Do vậy, cha
thể có đợc chế định riêng về thủ tục đặc biệt áp dụng để giải quyết các vụ án
mà bị can, bị cáo là ngời cha thành niên. Hoạt động tố tụng trong những vụ án
mà ngời cha thành niên phạm tội nhìn chung vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy
định về thủ tục tố tụng dành cho ngời đã thành niên phạm tội.
Sang chế độ xã hội chủ nghĩa, khi xử tội ngời cha thành niên đều phải
tôn trọng những nguyên tắc: "T pháp cha quyết định thì cha đợc bắt bớ và
giam cầm công dân Việt Nam" - Điều 11 Hiến pháp 1946 và "Các phiên tòa
đều phải công khai, trừ trờng hợp đặc biệt", "ngời bị cáo đợc quyền bào chữa
lấy hoặc mợn Luật s", "cấm không đợc tra tấn, đánh đập, ngợc đãi bị cáo và
tội nhân" - Điều 67 và 68 Hiến pháp 1946.
22
Những quy định trên, về cơ bản đã đảm bảo cho ngời cha thành niên
phạm tội đợc xét xử một cách công bằng, khách quan theo quy định của pháp
luật, đây là những quy định tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển các chế
định về thủ tục đặc biệt cho những vụ án mà bị can, bị cáo là ngời cha thành
niên giai đoạn sau này.
1.5.2. Giai đoạn 1954 đến 1975
Giai đoạn này, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc với hai
chế độ và hai hệ thống pháp luật hoàn toàn khác nhau. Sau năm 1954, miền
Bắc lập lại hòa bình, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp
tục nằm dới ách thống trị của thực dân Pháp, rồi đến đế quốc Mỹ và bè lũ
ngụy quân, ngụy quyền. Pháp luật Việt Nam lúc này chia thành hai mảng rõ
rệt, tơng ứng với mỗi chế độ trên mỗi miền lãnh thổ.
Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa đợc xây dựng từ năm 1945 ở
miền Bắc, tiếp tục đợc kế thừa, phát triển và hoàn thiện. Còn ở miền Nam, đế
quốc Mỹ và ngụy quyền cũng xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng.
Trớc tiên, Chính phủ Việt Nam cộng hòa ban hành Luật số 11/58 ngày

đại diện gia đình, quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng khi giải
quyết vụ án mà bị can, bị cáo là ngời cha thành niên.
Tóm lại, do cha có Bộ luật tố tụng hình sự nên hoạt động xét xử ngời cha
thành niên phạm tội nói riêng vẫn phải dựa vào các bản án lệ, các đờng lối,
chính sách của Đảng và Nhà nớc. Nhng hàng năm, Tòa án nhân dân tối cao
đều có bản tổng kết rút kinh nghiệm, hóng dẫn xét xử cho Tòa án nhân dân
các cấp để không ngừng hoàn thiện hoạt động xét xử các vụ án mà bị can, bị
cáo là ngời cha thành niên và góp phần hoàn thiện chế định về thủ tục đặc
biệt. Cơ bản và quan trọng nhất là đặt nền móng cho sự phát triển của chế định
về thủ tục đặc biệt trong các giai đoạn sau.
24
1.5.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến trớc khi pháp điển hóa lần thứ
nhất với sự thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và kết thúc bằng chiến thắng 30/4/1975
đánh dấu cho kỷ nguyên mới của dân tộc ta: Độc lập dân tộc và thống nhất
đất nớc.
Trong bối cảnh lịch sử mới, việc ban hành các văn bản luật tố tụng hình
sự dới các hình thức đơn lẻ, thiếu hệ thống nh trớc đây không còn phù hợp mà
cần thiết phải có những bộ luật, luật có tính hệ thống, hiệu lực ổn định trong thời
gian dài làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, nhất là
trong điều kiện miền Nam mới đợc giải phóng, các quy định của pháp luật ngụy
quyền Sài Gòn trớc đây về xét xử đối với ngời cha thành niên phạm tội vẫn ít
nhiều còn ảnh hởng. Với những cố gắng, nỗ lực của các nhà làm luật, ngày
28/6/1988 Bộ luật tố tụng hình sự đợc Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1989 thay thế cho các văn bản
pháp luật đơn lẻ trớc đây về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nói
chung và thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là ngời cha thành niên nói riêng.
1.5.4. Giai đoạn từ năm 1988 đến trớc khi pháp điển hóa lần thứ
hai với việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 là Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status