z
LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp trong
phân bổ hạn ngạch
Khi hạn ngạch nhập khẩu quy định cho cả mặt hàng và thị trường thì hàng hoá
đó chỉ được nhập khẩu từ nước (thị trường) đã định với số lượng bao nhiêu, trong
thời hạn bao lâu.
ở Việt Nam, danh mục số lượng ( hoặc giá trị ) các mặt hàng nhập khẩu quản
lý bằng hạn ngạch cho từng thời kỳ ( hàng năm ) do Chính phủ phê duyệt trên cơ sở
đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại.
2. Nhà nước áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch chủ yếu là nhằm
một số mục đích.
Thứ nhất, hạn ngạch nhập khẩu có khả năng bảo hộ sản xuất trong nước bằng
cách chống được các “ cơn sốt giá “. Điều này được minh họa qua đồ thị sau: P S P2
P1
D
0 Q1 Q2 Q3 Q4 Q
Đồ thị 1
Trên đồ thị 1, ta thấy đường cung nội địa S cắt đường cầu nội địa D tại O. ở
mức giá P1, người tiêu dùng nội địa có nhu cầu là Q4, nhưng sản xuất trong nước chỉ
đáp ứng được ở mức Q1. Như vậy cầu lớn hơn cung một khoảng là Q4-Q1. Do cầu
lớn hơn cung nên giá hàng hoá trong nước sẽ tăng lên, nếu không có biện pháp điều
chỉnh sẽ xuất hiện “ cơn sốt giá “ trong nước làm cho giá cả hàng hoá trong nước
tăng vọt lên P2. Để khắc phục tình trạng này đồng thời để bảo hộ ngành sản xuất nội
địa, Chính phủ cho phép nhập khẩu hàng hoá ở một mức hạn chế thông qua việc đưa
ra một hạn ngạch nhập khẩu hàng hoá đó.
Giả sử do nhập khẩu giá hàng hoá đó sẽ giảm xuống từ P1-P2, giá cả trở lại bình
thường. Như vậy hạn ngạch có tác dụng điều chỉnh giá nội địa tránh được những “
cho phép xuất khẩu, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy một
doanh nghiệp khi xuất khẩu phải biết mặt hàng của mình có nằm trong những mặt
hàng được cấp hạn ngạch nhập khẩu của nước bạn hàng không, ở dạng nào, số lượng
( hoặc trị giá ) hạn ngạch quy định cho mặt hàng đó ở nước nhập khẩu là bao nhiêu?
Thể thức xin hạn ngạch và khả năng có thể xin được bao nhiêu? Sự thay đổi trong
những quy định cấp hạn ngạch của nước nhập khẩu ra sao? Đây là một trong những
vấn đề có ý nghĩa chiến lược tiêu thụ sản phẩm của nhà xuất khẩu.
Sau khi nhận được công văn phân bổ hạn ngạch, chủ hàng xuất khẩu phải tới
Bộ Thương mại xin đổi lấy phiếu hạn ngạch (Quota certificate). Khi thực hiện hợp
đồng nhập khẩu chủ hàng phải giấy phép nhập khẩu. Đơn xin phép cần kèm với
phiếu hạn ngạch, bản sao hợp đồng nhập hoặc L/C và các giấy tờ có liên quan.
4. So sánh tác động của hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan tới thương mại, dịch vụ.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét sự khác nhau giữa tác động của thuế và hạn
ngạch nhập khẩu tới thương mại, dịch vụ. Giữa hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan có
nhiều điểm giống cũng như khác nhau. Mỗi công công cụ có một ưu nhược điểm
riêng, để sử dụng được các công cụ này phải vận dụng một cách chính xác dựa trên
những ưu nhược điểm và tác động của mỗi loại đến thương mại.
4.1 Trong trường hợp không có hạn ngạch và thuế.
Một nước có thể nhập một sản phẩm khi giá cả thế giới thấp hơn giá cả trên
thị trường. Khi đó thương mại tự do sẽ phát triển.
P S P0
Pw
D
0 Q3 Q0 Qd Q
Đồ thị 2
hoặc các hàng rào phi thuế quan khác. Ta sẽ xem xét thuế và hạn ngạch nhập khẩu
trên các góc độ giả thiết là:
a.Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Cũng giống như thuế, hạn ngạch nhập khẩu được coi là một biện pháp để bảo
vệ ngành công nghiệp non trẻ, vì hạn ngạch nhập khẩu có xu hướng làm tăng giá trên
thị trường nội địa, giảm khối lượng tiêu thụ và nhập khẩu. Tác dụng làm tăng giá
trong nước như vậy gọi là “ bảo hộ danh nghĩa “. Hạn ngạch nhập khẩu và thuế giữ
giá trong nước của một sản phẩm cao hơn mức giá thế giới và do đó tạo cho ngành
sản xuất trong nước hưởng lợi nhuận cao hơn so với trường hợp tự do thương mại.
Tác động này làm cho các nhà sản xuất kém hiệu quả sản xuất ra một sản lượng cao
hơn so với trong điều kiện thương mại tự do. Hạn ngạch nhập khẩu và thuế cũng dẫn
tới sự lãng phí của cải xã hội. Điều này được minh hoạ qua các đồ thị sau:
P S Pd Pd = Pw.(1+t0)
Pw
D
0 Q1 Q2 Q3 Q4 Q
Hình a
P S P2
P1
D
Một phần khoản này rơi vào tay người sản xuất (a), một phần rơi vào tay
những nhà nhập khẩu (c), b phần mà người tiêu dùng trả cho nhà sản xuất để tăng
sản xuất với giá cao hơn giá Pw. Nếu người tiêu dùng được mua hàng hoá ở mức chi
phí Pw< P1 thì khoản (P1-Pw). Q1’ sẽ được chi dùng hiệu quả hơn ở những nơi khác
của nền kinh tế. Đây chính là tổn thất ròng đối với xã hội, đã chi phí một cách không
có ích cho nhà sản xuất trong nước. Phần d cũng chính là tổn thất ròng đối với xã họi
do giảm số lượng hàng hoá Q1’ mà người tiêu dùng dịnh mua ở mức giá Pw (Qw)
khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu.
Trong trường hợp này thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất sẽ thay đổi
tương đối tương tự như trường hợp áp dụng thuế, Nhưng thay vì số thu nhập biểu thị
bằng hình chữ nhật c rơi vào tay Chính phủ thì số tiền này rơi vào tay các nhà sản
xuất nước ngoài và các nhà nhập khẩu.
So với thuế, hạn ngạch nhập khẩu làm Chính phủ mất đi phần c cùng phần
mất không b và d. Phần này sẽ rơi vào tay những ai được cấp hạn ngạch nhập khẩu
nếu như Chính phủ giữ toàn quyền phân phối các hạn ngạch nhập khẩu. Nếu không
đồi hỏi bất cứ thủ tục gì, khi đó những người được nhận hạn ngạch sẽ không bỏ ra
bất cứ một khoản chi phí nào mà thu được “ lợi nhuận trời cho “ (Wind Fall).
Tóm lại, so với hạn ngạch nhập khẩu Chính phủ không thu được thuế vì các
hạn ngạch nhập khẩu làm tăng giá nội địa của hàng hoá bị hạn chế cho nên những
người cung cấp nước ngoài và những nhà nhập khẩu hàng hoá của họ sẽ có được lợi
nhuận nhờ doanh số này. Nếu lợi nhuận này thuộc về những người nước ngoài thì đó
chính là chi phí ròng của xã hội cho các hạn ngạch nhập khẩu nhiều hơn so với việc
chi phí cho việc đánh thuế quan tương đương. Vì vậy ở nhiều nước Chính phủ luôn
luôn bán đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch để thu hồi khoản thu nhập này.
Các nhà nhập khẩu trong nước hoặc những người cung cấp nước ngoài sẵn sàng trả
giá về khoản này để có trong tay một giấy phép quan trọng. Nếu hạn ngạch nhập
khẩu được bán đấu giá cạnh tranh thì hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan đều có ảnh
hưởng giống nhau đến lợi ích thương mại.
b. Trên góc độ cạnh tranh không hoàn hảo.
nhuận khi doanh thu biên (MR) tương ứng với chi phí biên (MC) ở sản lượng Qt.
thuế quan luôn nâng giá hàng hoá trong nước Pw(1+t0) và sản lượng của ngành sản
xuất trong nước trong khi nhu cầu trong nước giảm chỉ còn Qt’ và nhập khẩu cũng
giảm. Như vậy ngành sản xuất trong nước vẫn sản xuất ra một khối lượng tương tự
như khi đó là ngành cạnh tranh hoàn hảo.
Nhưng cũng có trường hợp thuế quan tác động đến ngành công nghiệp độc
quyền hoàn hảo khác nhau. Đó là khi thuế quan rất cao đến mức nhập khẩu bị xoá bỏ
hoàn toàn ( thuế quan có tính chất cấm đoán ). Đối với ngành công nghiệp có tính
chất cạnh tranh. Khi nhập khẩu bị loại bỏ hoàn toàn việc tăng thuế không có tác động
nào. Nhưng đối với nhà độc quyền họ vẫn phải hạn chế giá của mình do mối đe doạ
nhập khẩu ngay cả khi nhập khẩu bằng không. Vì vậy việc tăng thuế quan có tính
chất cấm đoán sẽ cho phép nhà độc quyền tăng giá gần đến mức tối đa hoá lợi nhuận
(mức giá PM)
Bây giờ ta xem xét một nhà độc quyền được bảo hộ bằng hạn ngạch. Nếu lúc
này Chính phủ đưa ra hạn ngạch nhập khẩu hàng hoá với một số lượng cố định Q*
thì đưa ra giá cao hơn Pw nhà độc quyền sẽ không ế toàn bộ hàng hoá của mình.
Ngược lại ở giá đó họ sẽ bán ra lượng hàng bằng lượng cần trong nước trừ đi số nhập
khẩu được phép - Q*
Ta có đồ thị sau: P MC
P’M
Pwt Pwt = Pw.(1+t)
giới.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, thuế quan tương ứng với hạn ngạch
nhập khẩu MQ sẽ là hiệu số Pd-Pw (hình a) (trang11) và thiệt hại lợi ích ròng sẽ là
tam giác (b+d). Tuy nhiên các nhà độc quyền sẽ tối đa hoá lợi nhuận khi MR=MC
nên các doanh nghiệp chỉ có lợi khi giảm sản lượng xuống OQ* và bán sản phẩm ở
mức giá độc quyền P*.
DE: Khoảng cách giữa giá trị của người tiêu dùng phải bỏ ra và chi phí sản xuất hàng
hoá đó.
AB: Số lượng hàng hoá được tiêu dùng do áp dụng thuế quan nay không được tiêu
dùng nữa.
Chính sách độc quyền gây hậu quả phân phối ở chỗ người tiêu dùng bị thiệt
nhiều hơn trong khi những người có hạn ngạch nhập khẩu và các nhà doanh nghiệp
nội địa có lợi nhiều hơn. Các doanh nghiệp nội địa và những người có hạn ngạch
nhập khẩu thích áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cả trong trường hợp thị trường nội địa
là cạnh tranh bởi lẽ do xoá bỏ số lượng nhập khẩu bổ sung ở mức giá thế giới, sức
mạnh độc quyền của các doanh nghiệp nội địa đã được chấp nhận.
Như vậy: Hạn ngạch có thể biến doanh nghiệp trong nước trở thành độc
quyền.
II. Hạn ngạch xuất khẩu (export quota).
1. Khái niệm.
Hạn ngạch xuất khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng (hoặc trị giá) một
mặt hàng nào đó được xuất khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó trong một
thời gian nhất định (một năm).
Các hình thức hạn chế xuất khẩu được áp dụng tuỳ từng nước và trong thời
gian nhất định.
Một số nước chỉ cho phép một số tổ chức có quyền xuất khẩu một số mặt hàng
nhất định.
Hiện nay ở Việt Nam chế độ cấp hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo bởi
Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm Bộ Thương mại công bố danh mục các mặt hàng
hàm hầu hết số lượng buôn bán về ô tô, thép, hàng dệt và quần áo may sẵn giữa các
nước đang phát triển.
Hậu quả của hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng tương tự như hạn ngạch nhập
khẩu nhưng có 3 sự khác biệt làm cho nó kém tác dụng hơn theo quan điểm của các
nước nhập khẩu.
Một là, tiền thuê hạn ngạch do hạn chế xuất khẩu tự nguyện hoàn toàn thuộc
về dân cư của nước xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là nước nhập khẩu bị thiệt và so với
thuế quan thu nhập của Chính phủ chuyển cho nước ngoài.
Hai là, nước nhập khẩu phải thanh toán ở mức giá nội địa đầy đủ mà không
phải ở mức giá thế giới cho các hàng hoá nhập khẩu.Trong trường hợp này tương
quan giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu sẽ xấu đi và đường cong định giá của nước
nhập khẩu dịch chuyển sang phải.
Ba là, hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính phân biệt đối xử nên chỉ áp
dụng cho các nước cung ứng sản phẩm với chi phí thấp nhất. Hạn chế xuất khẩu tự
nguyện cũng có thể buộc các nhà nhập khẩu phải chấp nhận nhập khẩu của các nước
có chi phí cao hơn làm tăng khoản tiền phải trả của các nước nhập khẩu và phân phối
không có hiệu quả các nguồn lực của thế giới.
Các nước xuất khẩu thích áp dụng hạn chế xuất khẩu tự nguyện hơn so với
hạn ngạch nhập khẩu hoặc thuế quan vì thiệt hại đối với nước nhập khẩu sẽ là lợi ích
đối với nước xuất khẩu (Tiền thuê quota + Pd >Pw) (Đồ thị ).
Trong thương mại quốc tế khía cạnh phân biệt đối xử phụ thuộc vào sự có mặt
của các nhà cung ứng thay thế và chỉ xảy ra khi các nước nhập khẩu chấp nhận và
khuyến khích các nhà cung ứng này mà thôi.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện kém tác dụng hơn các hàng rào thương mại khác
nhưng dưới góc độ thể chế nó được các nước nhập khẩu ủng hộ. Tăng thuế quan và
hạn ngạch đều trái với quy định chung của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vì
vậy áp dụng các giải pháp đều có thể bị trả đũa bằng cấm vận quốc tế. Để tránh được
hậu quả đó nước nhập khẩu mua chuộc các nhà cung ứng nước ngoài bằng cách đưa
liên quan đến thuế quan và hạn ngạch như thế nào.
Phương thức định giá của hải quan là hàng rào phi hạn ngạch dễ nhận thấy
nhất. Bằng cách định giá hàng nhập khẩu ở mức giá cao hơn, nhân viên hải quan đã
tăng tiền thuế phải trả. Sử dụng phương thức định giá của hải quan như là một hàng
rào thương mại chỉ làm tăng chi phí nhập khẩu tương tự như thuế quan nhưng không
làm tăng thu nhập cho Chính phủ của nước nhập khẩu. Nhiều khi nó mang tính chất
chuyển đổi thuế hải quan.
Quy định về thành phần sản phẩm có nguồn gốc địa phương cũng là một hàng
rào thương mại quan trọng. Các quy định này bảo vệ các nhà sản xuất sản xuất phụ
tùng nội địa tương tự như hạn ngạch nhập khẩu. Cũng do quy định về thành phần địa
phương, các doanh nghiệp buộc phải thực hiện một số hoạt động có hiệu quả hơn so
với thực hiện ở nước ngoài. Tuy nhiên các quy định này không khuyến khích đầu tư
nước ngoài mà chỉ làm tăng hoạt động buôn bán và có thể làm tăng chi phí do hàng
hoá không được kết thúc quá trinhg sản xuất tại nơi có chi phí thấp nhất.
Sự ưu đãi của Chính phủ luôn luôn là khu vực màu mỡ cho sự phân biệt giữa
nhà cung ứng nước ngoài và nội địa, chẳng hạn việc đấu thầu các dự án công cộng
chỉ dành cho các nhà cung ứng nội địa. Hàng rào phi thuế quan này tăng cùng với sự
tăng trưởng của khu vực Nhà nước. Sự ưu đãi của Chính phủ cũng tác động tương tự
như thuế quan nhưng không có thu nhập. Trên thực tế đo lường ảnh hưởng của công
cụ này rất khó khăn, đặc biệt là đối với những dự án lớn do không có thị trường mở
để quan sát giá cả thế giới cho các dự án đó.
Chính phủ có thể sử dụng các dịch vụ marketing và các dịch vụ bán lẻ riêng để
tạo ra các hàng rào thương mại. Các cửa hàng bán đồ uống địa phương ở Canada với
độc quyền bán rượu đã quy định giá cao hơn đối với rượu nhập khẩu nhằm khuyến
khích tiêu thụ rượu nội địa mặc cho đó là những sản phẩm khác biệt.
Các hàng rào phi thuế quan mang tính kỹ thuật như khác biệt về đơn vị đo
trọng lượng, kích thước, ngôn ngữ trên bao bì đóng gói khó tiếp cận hơn. Quan trọng
hơn nữa là những tiêu chuẩn về sức khoẻ, an toàn, môi trường cũng đòi hỏi những
chi phí bổ sung đối với các doanh nghiệp nước ngoài và gây ra những cản trở cho
Các doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu bà phạm vi
kinh doanh xuất nhập khẩu có bao gồm mặt hàng xin phân bổ hạn ngạch mới được
xin hạn ngạch.
Đối với hàng hoá xuất khẩu mà hạn ngạch do nước ngoài phân cho Việt Nam
thì số lượng ( hoặc trị giá ) của mặt hàng cũng như thời hạn thực hiện hạn ngạch do
Bộ Thương mại quyết định.
Hạn ngạch về hàng hoá nhập khẩu để lắp ráp, gia công chế biến (như linh kiện
điện tử, các bộ phận rời và phụ tùng xe máy, ô tô, phụ liệu thuốc lá) chỉ phân bổ cho
các doanh nghiệp có cơ sở sản xuất và lắp ráp khi doanh nghiệp yêu cầu. Sau khi cân
đối các yêu cầu về hạn ngạch cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ xét yêu
cầu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh ngiệp có nhu cầu sử dụng hạn ngạch gửi cho Bộ Thương mại đơn xin
hạn ngạch theo mẫu quy định sẵn.
Bộ Thương mại cấp phiếu hạn ngạch trong đó ghi số lượng (hoặc trị giá) mặt
hàng, thời hạn thực hiện hạn ngạch.
4. Quản lý Nhà nước về hạn ngạch và nghĩa vụ của cả doanh nghiệp được phân bổ
hạn ngạch.
Bộ Thương mại có trách nhiệm phân bổ hạn ngạch công khai, đúng đói tượng
theo tổng mức mà Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã phê duyệt.
Bộ Thương mại có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện hạn ngạch đã cấp.
Các doanh nghiệp khi xin giấy phép xuất nhập khẩu từng chuyến hàng phải
xuất trình phiếu hạn ngạch (bản chính), trường hợp uỷ thác phải có thêm hợp đồng uỷ
thác.
Những doanh nghiệp đã được cấp hạn ngạch, nhưng không có khả năng thực
hiện hoặc thực hiện không hết hạn ngạch phải báo cho Bộ Thương mại tối thiểu 3
tháng trước khi hạn ngạch hết hạn.
Nghiêm cấm việc mua bán hạn ngạch.
Mọi vi phạm những quy định trên tuỳ theo mức độ, Bộ Thương mại sẽ xử lý theo một
hoặc những hình thức sau đây: