Tài liệu LUẬN VĂN: Đảm bảo xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam doc - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Đảm bảo xuất khẩu bền vững
mặt hàng gạo của Việt Nam
truyền thống trồng lúa từ lâu đời, lúa gạo là sản phẩm lương thực thiết yếu đối với
nước ta. Từ việc đảm bảo lương thực còn là một nỗi lo, Việt Nam đã vươn lên là
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới và duy trì vị trí đó trong nhiều năm gần đây.
Mặt hàng gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu truyền thống và chủ lực của
Việt Nam. Kết quả đó là thành tựu to lớn đối với ngành trồng lúa nước ta, song điều
đặt ra không chỉ là việc tiếp tục tăng kim ngạch xuất khẩu gạo để duy trì vị trí số hai
hoặc có thể vượt Thái Lan về mặt số lượng trong trước mắt mà phải nghiên cứu làm
sao để việc xuất khẩu gạo phát triển cả về lượng và chất trong lâu dài, tức là tăng

trưởng và bền vững. Để đạt được điều đó không chỉ là tăng quy mô, tăng năng suất,
tăng chất lượng mà cần chú ý đến những giá trị từ việc sản xuất và xuất khẩu gạo
mang lại cho xã hội đồng thời không làm tổn hại đến môi trường sinh thái.
Chính vì lý do trên em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đảm bảo xuất khẩu bền
vững mặt hàng gạo của Việt Nam” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về phát triển bền vững để làm rõ nội dung,
bản chất của xuất khẩu bền vững và phân tích thực trạng xuất khẩu bền vững mặt
hàng gạo của Việt Nam để từ đó đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm phát triển
xuất khẩu bền vững gạo trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo của Việt Nam
từ giai đoạn 1989 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích, so sánh,
tổng hợp những tài liệu liên quan đến phát triển bền vững, xuất khẩu bền vững và
xuất khẩu gạo.

5. Kết cấu đề tài
Đề tài này gồm 3 chương:

các thế hệ tương lai”. Đó là sự phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái
tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ
thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Qua
các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của
nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con
người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế
hệ; nó không chỉ là sự hòa giải mối quan hệ kinh tế và môi trường mà còn bao hàm

khía cạnh về chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Như vậy phát triển bền
vững là sự kết hợp hài hòa mục tiêu kinh tế xã hội và môi trường.
Khi xã hội ngày càng phát triển đặc biệt là từ khi cách mạng công nghiệp ra
đời nó đã thay đổi bộ mặt thế giới, đóng góp những nguồn lực phát triển mới là kỹ
thuật và khoa học công nghệ, nó làm thay đổi sâu sắc mối quan hệ giữa con người,
xã hội và tự nhiên. Cùng với tốc độ của công nghiệp hóa, nền kinh tế phát triển, quá
trình đô thị hóa nhanh, dân số gia tăng, mọi nhu cầu đều gia tăng… tất cả các yếu tố
đó làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác nhiều hơn, mức độ ảnh hưởng
cũng trầm trọng hơn. Và nếu như các quốc gia chỉ quan tâm đến tăng trưởng mà
không chú ý đến mức độ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái thì đó chỉ là sự phát
triển vội vã, không mang tính lâu dài, vì nếu trong tương lai khi mà môi trường đã
bị phá hủy, nguồn tài nguyên đã cạn kiệt thì sẽ không còn nguồn lực để phát triển
nữa. Chính vì thế các nước bây giờ đều đã quan tâm đến việc phải làm gì để phát
triển có tính bền vững, tức là sự phát triển cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội
và bảo vệ môi trường.
1.1.2. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững
Năm 2002, Hội nghị thưởng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát
triển bền vững họp tại Johannesburg, Nam Phi. Trong hội nghị này, những nội dung
cơ bản của Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 được nhắc lại. Hội nghị
đã đưa ra được hai văn kiện quan trọng có tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và
“Kế hoạch thực hiện”. Trong các văn kiện này đã xác định ba trụ cột của phát triển
bền vững đó là: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bề vững về môi trường

1.1.2.2. Phát triển bền vững về xã hội
Xã hội bền vững là một xã hội có sự phát triển kinh tế, có công bằng xã hội,
phát triển con người, chất lượng cuộc sống được nâng cao không ngừng, chất lượng
môi trường sống được đảm bảo. Thông thường thì sự phát triển kinh tế kèm theo
nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, song nó lại có nhiều tác động
tiêu cực như làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo vì có thể những người giàu sẽ
giàu lên nhưng những người nghèo vẫn cứ nghèo. Trong nền kinh tế thị trường, tốc

độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng gây ra sự phát triển mất cân đối trong dân cư.
Cùng với đó là nhiều tác động nảy sinh nhiều vẫn đề xã hội như: tệ nạn xã hội, dịch
bệnh, bạo loạn… Vì vậy phát triển bền vững xã hội là cân bằng lại sự phát triển
kinh tế.
Để đo sự phát triển bền vững của xã hội, tiêu chí cao nhất là chỉ số phát triển
con người HDI. Chỉ số phát triển con người gồm: thu nhập bình quân trên đầu
người, trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ thành tựu văn
minh,…
1.1.2.3. Phát triển bền vững về môi trường
Tình hình kinh tế thị trường phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc
gia ngày càng sau rộng, quan hệ thương mại ngày càng mở rộng có tác động hai mặt
tới môi trường. Một mặt, thương mại phát triển các nước có nhiều cơ hội cũng như
nhu cầu sử dụng các sản phẩm tốt hơn thân thiện với môi trường hơn, trao đổi học
hỏi nhưng công nghệ hiện đại để đối phó, cải thiện tình hình ô nhiễm môi trường.
Song mặt khác thương mại lại thúc đẩy các nước sản xuất nhiều hơn, như vậy sẽ
khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn nhất là các nước đang phát
triển, quá trình sản xuất còn thâm dụng tài nguyên thiên nhiên. Đối với các nước có
nền công nghiệp thải ra môi trường một lượng khổng lồ các chất thải độc hại. Và
còn rất nhiều tác động khác của hoạt động kinh tế và con người ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái.
Phát triển bền vững về môi trường sinh thái là khai thác và sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống,

xây dựng mục tiêu phát triển cho nhiều ngành và lĩnh vực. Áp dụng lý thuyết về
phát triển bền vững chúng ta có thể xây dựng lý thuyết về xuất khẩu bền vững.
Khái niệm: Xuất khẩu bền vững là duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao
và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao góp phần
tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường.

1.2.2. Nội dung của xuất khẩu bền vững
Từ khái niệm xuất khẩu bền vững được hiểu bao hàm hai nội dung:
- Duy trì nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định, đảm bảo chất lượng xuất khẩu
được nâng cao.
- Xuất khẩu đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi
trường.
1.2.2.1. Xuất khẩu duy trì nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định, đảm bảo chất lượng
xuất khẩu được nâng cao
Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu.
Tăng trưởng ở đây không mang tính thời vụ mà cần có sự liên tục và ổn định. Kèm
theo sự tăng trưởng về số lượng là chất lượng của sự tăng trưởng. Sự tăng lên này
dựa trên cơ sở gia tăng giá trị xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
hiện đại hóa phù hợp với xu hướng biến động của thế giới, sức cạnh tranh không
ngừng được nâng cao. Cụ thể là sự chuyển dịch cơ cấu từ các ngành sử dụng nhiều
tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ, giá trị thấp sang các ngành tạo giá trị gia
tăng cao trên cơ sở tăng năng suất lao động, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hạn chế
khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo
được. Tóm lại sự xuất khẩu bền vững phải dựa trên mô hình tăng trưởng theo chiều
sâu và trên cơ sở khai thác các lợi thế canh tranh do các yếu tố thể chế, chất lượng
lao động, công nghệ mang lại. Năng lực duy trì nhịp độ và chất lượng tăng trưởng
xuất khẩu là một trong những yếu tố để đo tính bền vững của hoạt động xuất khẩu.
1.2.2.2. Xuất khẩu đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi
trường
Xuất khẩu tăng trưởng cao và ổn định trong thời gian dài là chưa đủ để đạt

tăng trưởng ổn định và chất lượng xuất khẩu tăng.
- Quy mô và nhịp độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất khẩu, đây là tiêu chí
đánh giá sự tăng trưởng về số lượng của hoạt động xuất khẩu, có thể được đo
bằng kim ngạch xuất khẩu năm sau so với năm trước hoặc tỷ lệ phần trăm kim
ngạch xuất khẩu tăng lên năm sau so với năm trước.

- Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thể hiện ở cơ cấu xuất khẩu theo nhóm
hàng, theo mức độ chế biến, cơ cấu thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu, có
cấu thị trường… Ngoài ra chất lượng hoạt động xuất khẩu cũng được thể hiện
qua chất lượng các hoạt động tài chính, ngân hàng, dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu,
kết cấu hạ tầng cơ sở phục vụ hoạt động xuất khẩu, hệ thống phân phối hàng
hóa…
Xuất khẩu bền vững về kinh tế thể hiện qua sự ảnh hưởng của xuất khẩu đến
tính ổn định của nền kinh tế:
- Mức độ đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế được đo bằng tỷ lệ
phần trăm của kim ngạch xuất khẩu trên GDP.
- Phản ánh mức độ an toàn về tài chính của một quốc gia qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ
nước ngoài trên giá trị xuất khẩu, đóng góp giá trị cuất khẩu vào dự trữ ngoại
tệ.
- Tỷ lệ giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu.
1.2.3.2. Bền vững về mặt xã hội
Mức độ bền vững về xã hội của hoạt động xuất khẩu được đánh giá qua
những đóng góp của xuất khẩu đối với con người, xã hội về công ăn việc làm, thu
nhập, mức sống…
Thứ nhất, mức độ góp phần vào xóa đói giảm nghèo: Nói đến xóa đói giảm
nghèo đó là giảm tỷ lệ người thiếu ăn và nghèo khổ. Khi đã xuất khẩu hàng hóa tức
là một cách tương đối trong nước đã đủ tiêu dùng. Ngoài ra, xuất khẩu đóng góp
vào nguồn thu chính phủ để thực hiện các hoạt động phúc lợi xã hội dành cho người
nghèo, giảm gánh nặng nghèo đói cho bản họ.
Thứ hai, mức độ gia tăng việc làm từ việc mở rộng xuất khẩu: Khi mở rộng

xuất là những người chịu thiệt thòi nhất, thu nhập được ít nhất. Xuất khẩu thực sự
bền vững là phải đảm bảo được sự cân đối hài hòa việc phân chia lợi ích này.
1.2.3.3. Bền vững về mặt môi trường

Đo tính bền vững về môi trường của hoạt động xuất khẩu thông qua các chỉ
tiêu về môi trường sau:
Một là, mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động xuất khẩu sinh ra: Con số
này có thể khó đưa ra chính xác vì xuất khẩu chỉ là một trong rât nhiều hoạt động
gây tác động đến môi trường nhưng người ta vẫn tính toán được. Con người có thể
tính toán rằng khi sản xuất ra một số lượng hàng hóa này để xuất khẩu nó thải ra
môi trường những chất gì ảnh hưởng đến môi trường nước, đất, không khí, các hệ
sinh thái như thế nào.
Hai là, mức độ khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động
xuất khẩu: đó là sự duy trì các nguồn tài nguyên có thể tái tạo và mức độ khai thác
và sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo. khi mở rộng xuất khẩu một số
lượng hàng hóa nào đó đã sử dụng bao nhiêu nguồn tài nguyên trong môi trường, vì
nguồn tài nguyên còn ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng trong tương lai.
Ba là, mức độ các doanh nghiệp sản xuất phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc
tế: trong đó là việc áp dụng các biện pháp về bảo vệ môi trường ISO 14000, tỷ
trọng các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn này cũng đánh giá được phần nào mức
độ quan tâm đến môi trường của các hoạt động xuất khẩu.
Bốn là, mức độ đóng góp của xuất khẩu vào hoạt động bảo vệ môi trường về
tài chính cũng như công nghệ. Hoạt động xuất khẩu đóng góp nguồn thu cho các
hoạt động kinh tế, xã hội, mức độ đóng góp vào hoạt động bảo vệ môi trường thể
hiện sự quan tâm cũng như ý thức của con người đến bảo vệ môi trường.
Ngoài ra một yếu tố quan trọng đó là sự quản lý chính quyền các cấp quy định
đối với các hoạt động xuất khẩu giảm thiểu tối đa các tác động có hại cho môi
trường.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu bền vững
1.2.4.1. Các yếu tố quốc tế

khai thác nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên.

- Tự do hóa thương mại thúc đẩy sản xuất, tăng ô nhiễm môi trường, mặt khác
cũng tạo điều kiện ô nhiễm qua biên giới do việc nhập khẩu các chất phế thải,
công nghệ lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái khi sử dụng.
- Tự do hóa thương mại tác động nhiều đến yếu tố văn hóa, chính trị, xã hội như
các tệ nạn xã hội, bất công bằng trong xã hội…
b) Các ràng buộc trách nhiệm mang tính toàn cầu
- Công ước quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em của Liên hợp quốc về
việc quy định sử dụng lao động trẻ em, lao động tù nhân trong việc sản xuất
hàng xuất khẩu.
- Các văn bản pháp lý quốc tế, các hợp đồng môi trường đa biên quy định trách
nhiệm các bên về vấn đề bảo vệ môi trường.
c) Các yếu tố khác: An ninh lương thực, an ninh năng lượng, khủng hoảng tài
chính….
Các yếu tố này không mang tính ràng buộc với các quốc gia nhưng nó vấn đề
toàn cầu ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của các nước không
ngoại trừ hoạt động xuất khẩu. Các vấn đề này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động xuất khẩu mà chúng cũng tác động đến ý chí chủ quan của chính phủ các
nước trong việc điều hành xây dựng các chiến lược xuất khẩu cho hợp lý.
1.2.4.2. Các yếu tố trong nước
a) Chính sách quản lý và ổn định nền kinh tế vĩ mô
Xuất khẩu là một bộ phận trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia có mối
liên hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế khác, vì thế không thể nằm ngoài chính
sách quản lý của nhà nước, ví dụ như chính sách thuế, chính sách giá, chính sách tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu, chính sách phát triển các ngành Xuất khẩu bền vững là sự
phát triển xuất khẩu về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, để xuất khẩu đạt phát
triển bền vững cần có chính sách quản lý phù hợp.
b) Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ


triệu người năm 2008. Tỷ lệ người đói phân bố trên các khu vực được thể hiện dưới
biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ người đói theo các khu vực năm 2009
64%
26%
5%
4%
1%
Châu Á và Thái Bình Dương
Châu Phi cận Sahara
Mỹ Latinh và Caribe
Cận Đông và Bắc Phi
Các nước phát triển

(Nguồn: www.iaahp.net – Báo cáo đói nghèo của FAO năm 2009)
Để bảo đảm an toàn lương thực, các nước cần phải gia tăng mức đầu tư vào
nông nghiệp, vốn có nguy cơ giảm sụt do khủng hoảng tài chính hiện nay. Theo các
nhà phân tích thì cần phải nhân sản lượng lương thực thế giới lên gấp đôi từ nay đến
năm 2050 để có thể nuôi một dân số sẽ lên đến 9 tỷ người.
Đối với Việt Nam, lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ yếu, là nước xuất
khẩu gạo thứ hai thế giới nhưng Việt Nam vẫn nằm trong điểm nóng về an ninh
lương thực của Châu Á. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong cả
giai đoạn 2001-2007, sản lượng lúa hàng năm của nước ta vẫn đạt gần 35 triệu tấn,
cao hơn 3,9 triệu tấn/năm so với giai đoạn 5 năm trước đó. Tính chung cả thời kỳ
2001 – 2007, Việt Nam mỗi năm xuất khẩu hơn 4,2 triệu tấn gạo với kim ngạch
bình quân 1,1 tỷ USD/năm, tăng gần 14% về sản lượng và kim ngạch so với trước
đó, đặc biệt, trong 2 năm 2008-2009, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt mức kỷ lục
mới với 4,7 và 6 triệu tấn. Tuy nhiên, tình hình đói lương thực và tái nghèo vẫn xảy
ra ở các vùng núi cao, vùng biên giới, hải đảo và vùng thường xuyên bị thiên tai. Số

giúp tăng trưởng kinh tế đồng bộ. Đối với Việt Nam gạo là nông sản chủ yếu và
xuất khẩu gạo luôn chiếm tỷ trọng lớn trong đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu
nông sản và tổng kim ngạch xuất khẩu. Hướng tới xuất khẩu bền vững mặt hàng
gạo là góp phần phát triển bền vững nền kinh tế.
1.3.3. Giải quyết việc làm, tăng thu nhập và ổn định xã hội

Xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo góp phần xóa đói giảm nghèo nông thôn,
giúp duy trì công ăn việc làm cho người nông dân. Khi gạo xuất khẩu ngày càng
nhiều, chất lượng cao hơn, giá trị xuất khẩu tăng thì thu nhập của người nông dân
cũng tăng lên. Lợi ích của người nông dân được chú trọng hơn. Khi thu nhập tăng
lên, họ nhận thấy lợi ích từ việc trồng lúa sẽ toàn tâm với công việc của mình, giảm
thiểu hiện tượng chuyển ngành nghề, chuyển cây trồng, ngành sản xuất lúa ổn định
hơn. Đồng thời giảm hiện tượng nông dân bỏ đất lên thành thị kiếm sống, như vậy
sẽ tránh sự bất ổn của xã hội, mất cân đối cơ cấu dân số.
Xuất khẩu bền vững gạo góp phần duy trì ổn định nguồn thu cho các hoạt
động y tế, văn hóa xã hội nông thôn đảm bảo vấn đề an sinh xã hội của nông thôn,
nâng cao sức khỏe và đời sống xã hội cho người nông dân.
Xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo giúp chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất
khẩu gạo theo hướng hiện đại, người lao động tham gia sản xuất đặc biệt là người
nông dân cũng được nâng cao trình độ và nhận thức hơn để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của sản xuất. Gạo xuất khẩu không chỉ hướng tới mục đích tăng năng suất
mà nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Như vậy xuất khẩu bền vững gạo sẽ hướng đến nhiều hơn lợi ích của con người, cả
người sản xuất và người tiêu dùng.
1.3.4. Góp phần bảo vệ môi trường
Xuất khẩu gạo dần làm cạn kiệt tài nguyên đất, những chất thải dư lượng
chất độc hại thải ra trong quá trình sản xuất ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.
Xuất khẩu bền vững gạo hướng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu lúa gạo hiện
đại hơn sử dụng kỹ thuật công nghệ ít làm tổn hại đến môi trường như công nghệ
sinh học, biến đổi gen, phân vô sinh…

quan trọng. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây lúa có hai vựa lúa
chính là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Diện tích sản xuất
lúa xếp hạng 5 và xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, gạo Việt Nam đã được
xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu.
2.1.1. Tình hình sản xuất gạo của Việt Nam
Việt Nam trồng lúa vào hai vụ ở ĐBSH và ba mùa ở ĐBSCL. Giai đoạn từ
năm 1979 đến năm 1989, diện tích và sản lượng lúa ổn định, nhưng kết quả đạt mức
thấp, với diện tích khoảng 5,4 - 5,8 triệu ha và sản lượng cao nhất đạt 18 triệu tấn.
Giai đoạn từ năm 1990 – 1999, diện tích và sản lượng lúa tăng trưởng mạnh. Diện
tích lúa tăng từ 6 triệu ha năm 1990 lên 7,66 triệu ha vào năm 1999, mức cao nhất
trong lịch sử lúa gạo Việt Nam. Năm 1998 là năm đầu tiên sản lượng lúa đạt trên 30
triệu tấn, cao hơn 70% so với mức 19 triệu tấn của năm 1990. Trong giai đoạn 2000
– 2008 diện tích trồng lúa có xu hướng giảm từ 7,67 triệu ha (năm 2000) xuống 7,4
triệu ha (năm 2008) nhưng sản lượng vẫn tăng đạt trong khoảng 32 – 38 triệu tấn. Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lúa gạo cả nước giai đoạn 2000 – 2009
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
Năng suất
(tấn/ha)

2000
7666,3 32529,5 4,24
2001
7492,7 32108,4 4,29

xát, nghìn tấn)
STT

2005/06 2006/07 2007/08 2008/09 2009/10 (%)
Tổng SL thế giới 418.429

420.638

433.356

445.935

433.853

100,00

1
Trung Quốc
126.414

127.200

129.850

134.330

137.000

31,57


28.758

29.000

28.800

31.000

30.000

6,91

5
Việt Nam
22.772

22.922

24.375

24.388

24.300

5,60

6
Thái Lan
18.200


10.730

10.150

10.730

2,47

9
Brazil
7.874

7.695

8.199

8.591

8.160

1,88

10
Nhật Bản
8.257

7.786

7.930


6.000

1,38

(Nguồn: USDA, Grain: World Market and Trade, 2009)

Trích đoạn Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam Bền vững về mặt kinh tế Bền vững về mặt xã hội Bền vững về mặt môi trường Quan điểm về phát triển bền vững
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status