Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam từ trước năm 1985-1988 tới nay - Pdf 87



Luận văn tốt nghiệp

Đề án: Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở thị
trường Việt Nam KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
1
MỞ ĐẦU
Đất nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất lương
thực chủ yếu là cây lúa nước mà một số hoa màu khác nhưng phân tán. bên
cạnh đó, nề kinh tế của nước ta còn gặp nhiều khó khăn, chưa có đượcnề
tảng để tạo đà phất triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
I. VAI TRÒ, VỊ TRÍ, ĐẶC ĐIỂM CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN.
1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một lĩnh vực rất phong phú. Nông dân sống ở khu vực
nông nghiệp gắn liền với nông thôn, sản xuất gắn liền với thiên nhiên, với
môi trường và gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với nước chưa phát triển,
khoa học kỹ thuật còn lạc hậu. Đại bộ phận, xét một cách tổng thể, các nước
đang phát triển và kém phát triển có trên 80% dân số và 70% lao động xã
hội tập trung ở nông với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, kỹ thuật canh tác
lạc hậu, trình độ lao động thấp. Người nông ở đây, họ vừa là những người
sản xuất vừa là những người tiêu thụ sản phẩm của chính bản thân họ làm
ra. Bởi vậy, tính phối hợp liên ngành (cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ sản
phẩm) còn ở mức độ thấp, đóng góp từ khu vực nông nghiệp và thu nhập
quốc dân chưa cao và bất ổn định.
Bên cạnh đó nông nghiệp Việt Nam còn có đặc điểm nổi bật khác do
những điều kiện tự nhiên và lịch sử đặc biệt.
Nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới, đất nước trải dài theo hướng Bắc-
Nam, phần lớn địa hình là đồi núi, có ba mặt tiếp giáp với biển… chính vì
vậy, có thảm thực vật phong phú, đa dạng, có tiềm năng sinh khối lớn,
nhiều loài vật có giá trị kinh tế cho phép phát triển một nền nông nghiệp đa
dạng và có thể đi vào chuyên canh nhiều loại cây, con. Hiện nay, nông
nghiệp nước ta sản xuất lương thực chủ yếu là cây lúa nước nhưng phần tán,
việc áp dụng các kỹ thuật cơ giới hoá, hiện đại hoá vào sản xuất nông
nghiệp thiếu kinh nghiệm và còn nhiều bất cập.
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
3
-Nước ta đất chật, dân số không ngừng tăng lên lên khả năng mở rộng
quy mô sản xuất nông nghiệp hạn chế.
-Việc chuyển nền nông nghiệp Việt Nam sang sản xuất hàng hoá gặp

Khu vực công nghiệp cũng có thể là một nguồn cung cấp vốn cho
phát triển kinh tế, có ý nghĩa lớn là vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp
hoá. Theo Timer-1988, Morris và Adelma -1981 từ kinh nghiệm thực tế của
thế kỷ XIX và nhất là thập kỷ gần đâycho thấy, phát triển nông nghiệp là
một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của công nghiệp hoá (do tích luỹ
từ công nghiệp mang lại) hình thành và phát triển thị trường trong nước, giải
quyết việc làm ở nông thôn trong thời gian đầu, hạn chế áp lực làm chậm
quá trình công nghiệp hoá …)
Theo Timmer-1988 ở giai đoạn bắt đầu phát triển nông nghiệp
chiếm phần lớn sản phẩm trong nước, tích luỹ chủ yếu từ nông nghiệp,
nguồn thu của Nhà nước chủ yếu do các loại thuế đánh vào nông nghiệp.
+Giai đoạn nông nghiệp đóng góp củ yếu cho sự tăng trưởng một
phần nguồn thu từ nông nghiệp được đầu tư lại hco nông nghiệp (chủ yếu
cho nghiên cứu và cơ sở hạ tầng) sản lượng nông nghiệp tăng lên.
+Giai đoạn lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nông nghiệp phải
được liên kết về thị trường lao động và tín dụng liên kết kinh tế thành thị-
nông thôn, nông nghiệp ngày càng phụ thuộc vào thị trường.
+Giai đoạn nông nghiệp dưới mức 20% của tổng lao động trong
nước, nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng nhiều biện pháp linh hoạt của Nhà
nước.
Để đạt được như vậy thì điều kiện đầu tiên quan trọng nhất là ta phải
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đây là một nhiệm vụ rất
quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VỚI PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN.
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân.
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
5
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là bộ phận cấu thành rất

nền công nghiệp phát triển. Và được các ngành nghề mới trong nông
nghiệp.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đi cùng với sự chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp và nông thôn là sự phân công lao động cũng được diễn ra. Từ
lao động trồng lúa chuyển sang lao động trồng hoa màu chăn nuôi, làm các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nó không chỉ phụ thuộc vào
phục vụ cho cả nhu cầu phát triển nông nghiệp mà còn phục vụ cho cả nhu
cầu phát triển công nghiệp, thương nghiệp và các ngành doanh nghiệp khác.
Từ thế kỷ 20 đã chứng minh và xác định khoa học kỹ thuật công nghệ
phát triển và đổi mới như vũ bão, tính cộng đồng trong sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm ngày càng cao, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nước không
thể tách rời với sự phát triển kinh tế của cộng đồng quốc tế hay cũng như
không thể tách rời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
với cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kinh tế chung của cả nước.
Mặt khác, sự phân hoá giàu nghèo ở nông nghiệp và nông thôn không
thể tránh khỏi, nó diễn ra theo hướng : khi sản xuất hàng hoá kém phát triển
thì khoảng cách đó tương đối doãng ra, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở
trình độ cao thì khoảng cách đó thu hẹp laih và có thể trở lại khoảng cách
ban đầu (nhưng ở trình độ cao hơn). Điều đó chứng tỏ sự phân hoá giàu
nghèo vừa là kết quả, vừa là động lực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Thêm vào đó, ở đâu có trình độ dân trí thấp thì ở đó việc xác lạp và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đương nhiên là gặp nhiều khó khăn và khó tránh
khỏi sai lầm . Điều này cũng chứng tỏ rằng với với trình độ dân trí hay mặt
bằng trong giáo dục có chịu sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
2. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đài
Loan.
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n

KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
8
chiếm 5,1%. Trong ngành trồng trọt: lua chiếm 58,7 %, mì màu 13,3%, cây
công nghiệp 19,7%, rau 4,8, quả 3,5%. Trong ngành nông sản xuất khẩu
năm 1952 đạt 114 triệu USD chiếm 95,5% kim ngạch xuất khẩu. Nó đánh
dấu bước ngoặc đầu tiên của sản xuất nông nghiệp chuyển từ hướng nội
thuần tuý sang hướng ngoại.
* Thời kỳ thứ hai
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển nông nghiệp để nuôi
dưỡng công nghiệp (1953-1968): Đây là thời kỳ đầu của quá trình công
nghiệp hoá ở Đài Loan nó được thực hiện trong 4 kế hoạch phát triển kinh tế
quốc gia (NEDP)
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
9
Biểu 1: Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ 1953-1968
Năm Giá trị sản lượng
nông nghiệp
Trồng trọt Chăn nuôi Ngư nghiệp Lâm nghiệp
1953 10.390 (1) 71,9% 15,6% 7,4% 5,1%
1968 48.883 60,1% 23,0% 10,6% 6,3%

(1) Triệu đồng Đài Loan.
Với chức năng phát triển nông nghiệp để nuôi dưỡng công nghiệp
trong thời gian 1953-1968, nông nghiệp Đài Loan tập trung vào các mục
tiêu:
-Nâng cao nông nghiệp bằng đa dạng hoá sản phẩm và cạnh tranh để
đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho nhân dân.
-Mở rộng xuất khẩu nông sản phẩm phục vụ công nghiệp hoá .
-Cung cấp nguyên liệu và lao động cho công nghiệp để phát triển
công nghiệp hoá.

Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm 2000 là tiếp tục chuyển
dịch nền kinh tế nông nghiệp theo phương hướng chọn được cơ cấu nông
nghiệp hợp lý trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất đai
và lao động đất ở trong nước tập trung và sản xuất. Kế hoạch của Đài Loan
từ nay đến sau năm 2000 là tiếp tục chuyển dịch chuyển nền kinh tế nông
nghiệp theo hướng chọn được cơ cấu nông nghiệp hợp lý trong điều kiện
công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất đai và lao động đất ở trong nước
tậ trung vào sản xuất các sản phẩm cần ít đất đai, lao động, đem lại giá trị
kinh tế và lợi nhuận cao và tìm cách xuất khẩu vốn công nghệ , chuyên gia
nông nghiệp ra các nước ngoài, có đất đai và lao động rẻ hơn, để sản xuất
nông sản đưa về nước và đem xuất khẩu.
Kết luận:
+Trong thời gian từ 1949-1953 để mở đường cho công nghiệp hoá
Đài Loan đã thực hiện cải cách ruộng đất, chuyển phương thức sở hữu và sử
dụng đất phong kiến sang phương thức sử dụng ruộng đất tư bản chủ nghĩa.
+Đài Loan đã chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ hướng nội phục vụ
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
11
nhu cầu nhu cầu trong nước sang hướng ngoại phục vụ nhu cầu xuất khẩu
nông sản.
+Đã chuyển dịch cơ cấu nông lâm ngư nghiệp cho phù hợp từng thời
kỳ công nghiệp hoá theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm chăn nuôi thuỷ sản,
rau quả và giảm tỷ trọng lương thực, lâm sản.
+Chuyển dịch lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở
thành thị và nông thôn, tạo ra thu nhập cao hơn, đáp ứng nhu cầu cho công
nghiệp.
+Chuyển dịch lao động động thủ công trong nông thôn sang lao động
cơ khí trên lao động chuồng trại và trong xí nghiệp chế biến nông sản.
+ Khi công nghiệp phát triển trình độ lao động cao, sẩn xuất nông
nghiệp có xu thế giảm sản xuất mọt số nông sản và thay thế bằng nông sản

cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự
nhiên khác nhau của nước ta. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế của một nước, một
vùng bao giờ cũng dựa trên qu thế về điạ lý và khí hậu của nước đó, vùng
đó.
+Các nguồn lợi: bao gồm tài nguyên khoáng sản,nguồn nước, nguồn
năng lượng, đất đai… có hay không có, có nhiều hay có ít các tài nguyên
này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu kinh tế của một quốc gia
nó chung và của vùng đó nói riêng.
+Phong tục tập quán và truyền thống dân tộc: Đây là nhân tố vừa có
tác dụng thúc đẩy vừa có tác dụng kìm hãm. Một quốc gia nào hay một vùng
nào đó ở đâu đó có phong tục tập quán canh tác lạc hậu ví dụ như du canh,
du cư thì ở đó có sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất diễn ra không thể nhanh
chóng và suôn sẻ được. Ngược lại, ở đâu có tập tụ, tập quán truyền thống
sản xuất tiến bộ thì ở đó việc làm chuyển biến cơ cấu kinh tế nói chung sẽ dễ
dàng hơn.
KÕ ho¹ch chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ n«ng th«n
13
+Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ : với trình độ này càng cao
thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ càng dễ dàng hơn và công nghệ hiện
đại, tiên tiến đó sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung, nông nghiệp và nông thôn nói riêng.
+Con người: ta biết rằng cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, thế
nhưng việc nó hình thành nhanh hay chậm , hợp lý hay không hợp lý, lại do
tác động chủ quan của con người. Bởi vì, con người là nhân tố có ý nghĩa
quyết định trong việc tiến hành cơ cấu kinh tế.
Ví dụ điển hình như Nhật Bản, một nước hiếm tài nguyên, đất nước
vươn lên ngang tầm với các nước phát triển nhất trên thế giới, một đất nước
có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển.
4. Sự cần thiết phải công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp

15
PHẦN II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1985 ĐẾN NAY.
I. GIAI ĐOẠN TỪ TRƯỚC NĂM 1985-1988
Nông nghiệp nước ta trong giai đoạn này gặp rất nhiều những rào
cản, vượt qua tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài trong những năm
1976-1980.
Đến tháng 1-1980 - Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra
đời lúc đó với nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm người và hộ lao
động (và đây thực chất là khoán hộ). Chính vì vậy, đã được coi là chìa khoá
vàng mở ra thời kỳ mới của nông nghiệp và cả của kinh tế nông thôn.
Những kết quả đạt được trong giai đoạn này của sản xuất nông nghiệp là
những thành tựu bước đầu hơn hẳn các thời kỳ trước. Bình quân 5 năm
1981-1985 so với bình quân 5 năm 1976-1980 sản lượng lương thực tăng
27%, riêng thóc tăng lên 32%, năng suất lúa tăng 23%, lương thực bình
quân đầu người tăng 14%, đàn trâu tăng 8%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn tăng
22%.
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5/4/1988) về đổi mới quản lý nông
nghiệp với nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân là đơn vị kinh tế
tự chủ ở nông thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông
nghiệp và nông thôn nước ta.
Sản xuất lương thực đã tăng lên với xu hướng năm sau cao hơn năm
trước: năm 1987 là 17,5 triệu tấn, 1988 là 19,6 triệu tấn. Trong gần 3 thập
kỷ lương thực ở nước ta luôn là vấn đề nóng bỏng, tình trạng thiếu lương
thực diễn ra triền miên. Riêng 13 năm (1976-1988) nước ta nhập khẩu 8,5
triệu tấn quy gạo, bình quân hàng năm nhập 0,654 triệu tấn.
Mặt khác, nông nghiệp nước ta mang nặng tính độc canh (vào những
năm đấuau thời kỳ giải phóng). Diện tích cây lương thực năm 1976 chiếm
88,0% trong đó lúa chiếm 75,2% tổng diện tích gieo trồng, các loại cây
trồng khác chiếm tỷ trọng diện tích còn thấp. Cây công nghiệp chiếm 6%,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status