Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong quá trình đổi mới - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ THỊ HỒNG KHUYÊN

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở VIỆT
NAM
TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC THANH Hà Nội – 2009 3
MỤC LỤC Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục biểu đồ
Mở đầu
Trang


41
2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản
41
2.3.1.1. Theo phân ngành của Tổng cục Thống kê
41
2.3.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực I theo phân ngành của
48 4
Liên Hợp Quốc
2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp và xây dựng
51
2.3.2.1. Theo phân ngành Tổng cục Thống kê
51
2.3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực II theo phân ngành của
Liên Hợp Quốc
57
2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ
2.3.3.1. Theo phân ngành Tổng cục Thống kê
61
61
2.3.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực III theo phân ngành của
Liên Hợp Quốc
66
2.4. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành trong nền kinh tế
70
2.4.1. Theo phân ngành Tổng cục Thống kê
70
2.4.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo phân ngành của Liên Hợp Quốc

Cơ cấu kinh tế có vai trò rất quan trọng với nền kinh tế quốc dân của
mỗi quốc gia trên thế giới, là nền tảng của nền kinh tế; mặt khác, cơ cấu kinh
tế hợp lí sẽ thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển.
Hiện nay, khi toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đã trở
thành xu thế tất yếu khách quan thì việc đánh giá lại sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng là vấn đề quan trọng.
Việt Nam, trong quá trình đổi mới nền kinh tế, vấn đề chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Trong các văn kiện
của Đảng và Nhà nước, nhất là văn kiện của Đại hội Đảng và các hội nghị
chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quan điểm sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành đã được đề cập ở các mức độ khác nhau
Từ thực tiễn của đất nước sau những năm đổi mới nền kinh tế, Việt
Nam trong tiến trình hội nhập các tổ chức ASEAN, ASEM, APEC, WTO…đã
tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; trong đó cơ cấu kinh tế ngành
biến đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ,
đồng thời giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP, bước đầu cơ cấu
đầu tư về lao động theo ngành đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên,
trên cơ sở các chỉ số kinh tế vĩ mô ở Việt Nam cho thấy cơ cấu kinh tế ngành
còn lạc hậu, có nhiều hạn chế. Đặc biệt, từ trước đến nay chúng ta mới chỉ
nghiên cứu cơ cấu kinh tế theo phân ngành của Tổng cục Thống kê là: Nông
nghiệp-Công nghiệp-Dịch vụ và chưa theo chuẩn quốc tế; còn nếu phân tích
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo phân ngành của Liên Hợp Quốc thì thực trạng
cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam sẽ như thế nào so với các nước trong khu
vực và trên thế giới? Đây là câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp.
Công nghiệp hoá, hiện đại hóa với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
của nền kinh tế trong những năm đổi mới là những vấn đề mang ý nghĩa chiến 6
lược, tầm vóc lớn lao cả về phương tiện lý luận và thực tiễn trước những

Nam hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Với cách tiếp cận khác nhau hầu hết các công trình nghiên cứu sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong quá trình đổi mới nền
kinh tế đã đáp ứng vấn đề mang tính thời sự và thực tiễn ở nước ta hiện nay;
tuy nhiên, các công trình trên chỉ nghiên cứu theo phân ngành của Tổng cục
Thống kê Việt Nam. Hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành ở nước ta theo phân ngành của Liên Hợp Quốc; trên cơ
sở đó tác giả có sự đánh giá, so sánh một cách khách quan khoa học theo
chuẩn mực quốc tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam so với
các nước khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam từ
năm 1990 đến nay và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Hệ thống hóa lí luận chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo các phân
ngành ở Việt Nam và của Liên Hợp Quốc.
- Phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và sự chuyển dịch trong
từng nội bộ ngành ở nước ta từ năm 1990 đến nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế
ngành ở Việt Nam hợp lí, hiện đại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam
trong quá trình đổi mới nền kinh tế 8
- Phạm vi nghiên cứu:

Chương 3. Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong thời gian sắp tới.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1
APEC
Asia- Pacific Economic
Cooperation Forum
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –
Thái Bình Dương
2
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
3
ASEM
The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác á-âu
4
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
5
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6
GDP

13
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
10
DANH MC BNG
STT
Tờn bng chng 2
Trang
Bng 2.1
C cu GDP theo phõn ngnh ca Tng cc thng kờ
31
Bng 2.2
Tc tng giỏ tr sn xut giai on 1995-2008

36
B
ng 2.3
Cơ cấu GDP theo phân ngành của kinh tế theo phân ngành
của Liên Hợp Quốc

39
B


Bng 2.10
C cu GDP ca ton khu vc I qua cỏc nm
48
B
ng 2.11
Tốc độ tăng tr-ởng khu vực I và GDP của Việt Nam, Nhật
Bản, Hàn Quốc và Đài Loan
50
B

ng 2.12
Tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong GDP giai
đoạn 1996-2008
53
Bng 2.13
C cu GDP ton ngnh cụng nghip v xõy dng trong
GDP giai on 1996-2008
53
Bng 2.14
T trng ca khu vc II trong GDP qua cỏc nm
58
B
ng 2.15
Tốc độ tăng tr-ởng khu vực II và GDP của Việt Nam,
59 11
Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan
B

Trang
Biu 2.1
Tng trng GDP v t l u t/GDP giai on 1997 - quớ 1/2009
35
Biu 2.2
T trng u t phõn theo ngnh trong giai on 2003-2007
38
Biu 2.3
Xut khu thy sn ca Vit Nam sang EU
47
Biu 2.4
Tc tng trng GDP ca ngnh dch v qua cỏc nm
62

Chng 1.
NHNG VN Lí LUN CHUNG V
CHUYN DCH C CU KINH T NGNH
1.1. Khỏi nim v phõn loi c cu kinh t ngnh
1.1.1. Mt s khỏi nim c bn
1.1.1.1. Khỏi nim c cu kinh t
12
“Cơ cấu” là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một
đối tượng. Khi nghiên cứu, chúng ta thường tiếp cận đến tập hợp những mối
quan hệ cơ bản và tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống trong
một thời gian nhất định. Như vậy, cơ cấu không chỉ là những biểu hiện tỷ lệ
bằng số đơn thuần giữa các bộ phận hợp thành, mà còn thể hiện mối quan hệ
biện chứng, mối liên kết hữu cơ giữa các yếu tố, các bộ phận hợp thành của

mối quan hệ lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ làm thay đổi
toàn bộ hay phần lớn về chất lượng cũng như số lượng tương đối ổn định của
các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội, với những điều kiện kinh tế xã
hội nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định.
1.1.1.2. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành
Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp ngành kinh tế được hình thành trên các
tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành với nhau và
phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành kinh tế quyết định cơ cấu lãnh thổ
và cơ cấu thành phần kinh tế.
Cơ cấu lãnh thổ là sự hợp lý hoá cơ cấu ngành trên mỗi vùng lãnh thổ,
kết hợp giữa chúng một cách tối ưu, cơ cấu thành phần kinh tế là sự vận động
của từng loại thành phần kinh tế trong quá trình phát triển các ngành và các
vùng lãnh thổ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng
vùng và toàn bộ nền kinh tế. Việc nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế là nhằm
tìm ra những cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần
ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ, thúc
đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu
quả nhất. [35, tr. 32 - 33]. 14
Biểu thị cơ cấu kinh tế ngành bằng vị trí, tỷ trọng của mỗi ngành trong
hệ thống nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế là biểu hiện quan trọng
nhất và đặc trưng nhất của cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và vai trò của từng ngành trong phát
triển kinh tế - xã hội, căn cứ vào điều kiện thực tế để phát triển chúng.[13].
Thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của nền
kinh tế nước ta cũng như của nhiều nước đang phát triển khác.

Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức, công nghệ sản
xuất: nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việc phân chia cơ cấu kinh tế thành
hai nhóm ngành này để quan sát trình độ của cơ cấu, yếu tố quan trọng để
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Khi phân tích theo hai nhóm ngành này,
chúng ta cần quan sát phương thức, công nghệ tạo ra sản phẩm. Khi nhóm
ngành phi nông nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh
tế càng phát triển ở trình độ cao. Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các
ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển thì
việc xem xét cơ cấu kinh tế theo kiểu này có ý nghĩa to lớn. Việc chuyển dân
cư nông thôn sang sống tại các đô thị và chuyển lao động nông nghiệp sang
làm việc trong các khu vực phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới
sự hiện đại; sự chuyển động này đến một mức độ nào đó thì nền kinh tế được
coi là đã phát triển. Ở các nước đang phát triển, các ngành nông nghiệp thường
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế; khi đó công nghệ của nền kinh tế không cao.
[36, tr. 100]. 16
Căn cứ vào phương thức sản xuất, người ta còn chia các ngành thành 2
nhóm sau đây:
- Cơ cấu giữa các doanh nghiệp theo quy mô. Tức là, cơ cấu giữa doanh
nghiệp quy mô nhỏ, vừa và doanh nghiệp quy mô lớn. Trong điều kiện kinh tế
thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng nhạy nhanh, kịp thời với những biến
động kinh tế trong một quốc gia hay trên phạm vi toàn thế giới. Nhờ đó, có
thể giảm thiểu tổn thất cho đầu tư và cho sản xuất. Mặt khác, một vấn đề quan
trọng cần chú ý trong bối cảnh toàn cầu hoá là luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc
liệt. Những tập đoàn kinh tế lớn mạnh có điều kiện cạnh tranh tốt hơn. Vì thế
bên cạnh việc khuyến khích phát triển những doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần
đặc biệt chú ý tạo dựng những tập đoàn kinh tế lớn.

cấu ngành kinh tế sẽ bảo đảm tính hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế.
Cơ cấu giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và khối sản xuất sản
phẩm dịch vụ cần được nghiên cứu kỹ nhằm phát huy toàn diện, đầy đủ quan
hệ giữa chúng làm cho nền kinh tế có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối,
hài hoà giữa các mặt, giữa đầu vào và đầu ra. Cơ cấu ngành kinh tế quốc dân
luôn vận động và phát triển, việc phân tích và đưa ra hướng điều chỉnh cơ cấu
ngành kinh tế thích hợp trong quá trình đổi mới là cần thiết.
1.1.2.2. Phân loại cơ cấu kinh tế ngành theo cách phân ngành của Liên Hợp Quốc
Theo cách phân ngành quốc tế sử dụng trong các khu vực các ngành có
sự điều chỉnh khác biệt so với phân ngành của Tổng cục Thống kê. Vì vậy, có
thể nhìn nhận nền kinh tế tổng hòa như của ba khu vực sau:
Khu vực I (Ngành nông nghiệp) gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp khai mỏ.
Khu vực II (Ngành công nghiệp) gồm các ngành công nghiệp chế biến,
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, công nghiệp lọc dầu. 18
Khu vực III: (Ngành dịch vụ) gồm các ngành thương mại, du lịch, giao
thông vận tải, tài chính ngân hàng, bưu điện, xây dựng và các ngành dịch vụ khác.
Về phương diện lí luận cho thấy, sự phân ngành của Liên Hợp Quốc sử
dụng có sự khác nhau so với phân ngành của Tổng cục Thống kê trong ba khu
vực; cụ thể, khu vực I thêm ngành khai mỏ được cắt đi từ khu vực II và khu
vực III bổ sung thêm ngành xây dựng, sản xuất và phân phối điện nước. Khu
vực I thể hiện sự phát triển chủ yếu dựa vào tự nhiên giá trị gia tăng thấp, ở
giai đoạn đầu của sự phát triển thì khu vực này luôn chiếm tỉ trọng cao. Khu
vực II thể hiện trình độ kĩ thuật, công nghệ sản xuất của một nước khả năng
tạo ra giá trị gia tăng lớn; một nước có nền khoa học kĩ thuật, công nghiệp lớn
mạnh, phát triển thường tỉ trọng khu vực II cao trong nền kinh tế. Khu vực III
thể hiện sự phát triển hơn nữa của một nền kinh tế phát triển cao với các

Để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển hay
chưa, chúng ta cần dựa trên kết quả phân tích cơ cấu giữa các nhóm ngành
nông nghiệp và phi nông nghiệp và so sánh với cách phân ngành của Liên
Hợp Quốc để đánh giá chính xác hơn xu hướng phát triển và chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế ở nước ta hiện nay. Theo nhiều nhà kinh tế, một nước khi
các ngành phi nông nghiệp chiếm trên 85% lao động xã hội và tạo ra khoảng
trên 80% GDP thì nước đó được coi là quốc gia phát triển.
Cơ cấu giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và khối sản xuất sản
phẩm dịch vụ cần được nghiên cứu kỹ nhằm phát huy toàn diện, đầy đủ quan
hệ giữa chúng làm cho nền kinh tế có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối,
hài hòa giữa các mặt, giữa đầu vào và đầu ra.
Cơ cấu kinh tế ngành cũng được thể hiện trên các mặt xác định:
- Phương hướng sản xuất của toàn bộ cơ cấu, trong đó phương hướng
sản xuất của các ngành làm điều kiện cho nhau; 20
- Quy mô và tỷ lệ giữa các ngành được tính dựa vào vốn đầu tư xây dựng cơ
bản, số lượng lao động, khối lượng sản phẩm, giá trị tài sản cố định…;
- Các hình thức kết hợp giữa các ngành sản xuất: liên kết sản xuất, liên
kết kinh tế… để đảm bảo cho cơ cấu hoạt động.
Những quan hệ tỷ lệ và các mặt biểu hiện có thể được xác định của cơ
cấu ngành kinh tế chứng tỏ tính tất yếu khách quan, và tính quy luật của sự
hình thành và phát triển của cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế không phải là một phạm trù hay khái niệm có tính
chất tự thân; bản thân nó chỉ là biểu hiện sự vận động nội tại của một hiện
tượng hay đối tượng kinh tế mà thôi. Vì vậy, cơ cấu kinh tế ngành chính là
biểu hiện của một tỷ lệ giữa các ngành, là biểu hiện của sự huy động và sử
dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có của một địa phương,
một doanh nghiệp hay một ngành cụ thể.

khẳng đinh này là bước tiến quan trọng trong lí luận nhận thức và tư duy
chính sách kinh tế. Thực tế, những quốc gia đạt mức độ tăng trưởng kinh tế
cao nhưng cơ cấu của nền kinh tế vẫn ít có sự thay đổi, thậm chí có sự tách
rời giữa khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại với các khu vực nông nghiệp
lạc hậu; vì vậy, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khó vẫn
không chia sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế.
Trong quá trình phát triển, tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ
trong GDP tăng, nhất là công nghiệp chế biến trong khi tỉ trọng của nông
nghiệp trong GDP giảm. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh mức độ thay đổi
của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có
năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn và
thay thế những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị
gia tăng thấp. Đặc biệt, một vài thập kỉ gần đây, sự phát triển của khu vực
dịch vụ được xem là một trong những đặc trưng mới của xu hướng phát triển 22
thế giới nên cách tiếp cận vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu trong quá trình
phát triển nền kinh tế có những thay đổi.
Tuy nhiên, phải lưu ý đến tính khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mang tính qui luật thông qua các xu hướng dưới đây:
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu của kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng
hóa, tức là từ một nền kinh tế có kết cấu giản đơn sang nền kinh tế có mối
quan hệ phức tạp và ở một trình độ cao hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay, việc tận dụng, khai thác lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối, tranh thủ sự
phân công lao động quốc tế để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng này
được nhiều quốc gia chọn lựa.
- Xu hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất và lao động trong công nghiệp
và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Nguyên nhân là do chi tiêu cho
các loại hàng hóa thiết yếu sẽ giảm khi thu nhập tăng. Do vậy, nhu cầu về sản

hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệp hóa. Tỷ lệ phần trăm
GDP của các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) là
một trong những tiêu chí đầu tiên thường được dùng để đánh giá quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế. Trong quá trình đổi mới nền kinh
tế và thực hiện công nghiệp hóa, mối tương quan này có xu hướng chung là
khu vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp
(công nghiệp và dịch vụ) ngày càng tăng lên. Và trong điều kiện của khoa học
công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng
cao nhất, sau đó là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp.
Ở góc độ cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô và cơ cấu các thành phần kinh tế,
một chỉ số kinh tế khác cũng thường được sử dụng cơ cấu GNP chỉ ở chỗ, chỉ
tiêu GNP chỉ phần giá trị tăng thêm hàng năm được sản xuất ra thuộc sở hữu
của một nền kinh tế, còn GDP thì ở trong nền kinh tế đó. Tuy nhiên, sự ưa
dùng cơ cấu GDP đối với những nền kinh tế đang phát triển, đang công 24
nghiệp hóa không phải bởi nhìn chung quy mô GDP ở đây thường lớn hơn
GNP (do phần FDI ở đây thường lớn hơn là đầu tư của họ ra nước ngoài),
điều quan trọng là ở chỗ quy mô GDP phản ánh rõ hơn những khía cạnh khác
nhau của môi trường kinh doanh và đặc biệt là cùng với cơ cấu GDP, cơ cấu
lao động của nền kinh tế cũng được phản ánh rõ ràng hơn.
Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế
trong quá trình đổi mới nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá,
việc phân tích cơ cấu các ngành (cấp II, cấp III…) có một ý nghĩa rất quan
trọng. Thông thường, cơ cấu phân ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất
lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế.
Theo phân ngành của Liên Hợp Quốc, đối với cơ cấu kinh tế ngành
trong GDP ở nước ta, khu vực I do cộng thêm ngành khai thác sẽ nên tỉ trọng
có sự gia tăng cao và do giảm đi ngành xây dựng nên tỉ trọng ở khu vực II

So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành sở dĩ được các
nhà kinh tế học đánh giá cao và coi trọng là do chỉ tiêu này không chỉ phản
ánh xác thực hơn mức độ chuyển biến xã hội công nghiệp của một đất nước,
mà nó còn ít bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai hơn. Ở một số nền kinh
tế, trong khi tỷ trọng lao động phi nông nghiệp (nhất là khu vực sản xuất công
nghiệp) còn chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng trong cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng
lớn hơn nhiều. Lý giải cho hiện tượng này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình
trạng “méo mó” về giá cả, nhất là trong những trường hợp có sự chênh lệch
giá cánh kéo lớn giữa sản phẩm công nghiệp va dịch vụ so với sản phẩm nông
nghiệp. Vì thế, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế đôi khi không phản ánh
đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.
Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu lao động thậm chí còn được
một số kinh tế gia xem như chỉ tiêu quyết định nhất để đánh giá mức độ thành
công của quá trình công nghiệp hóa trong nghiên cứu so sánh giữa các nền

Trích đoạn Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế theophõn ngành của Liờn Hợp Quốc Đỏnh giỏ chung về quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngàn hở nƣớc ta Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong thời gian sắp tới 1 Dự bỏo tỡnh hỡnh kinh tế vĩ mụ Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Cỏc giải phỏp thỳc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cỏc khu vực 1 Cỏc giải phỏp vĩ mụ thỳc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status