329 Một số giải pháo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở quận Tân Phú TP.HCM - Pdf 25

-
1
-
MỤC LỤC
Phần mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dòch
cơ cấu kinh tế ngành...........................................................................................1
1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành.........................................................................1
1.1.1 Cơ cấu kinh tế.................................................................................................. 1
1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành............................................................ 2
1.1.3 Đặc điểm của cơ cấu kinh tế ngành................................................................. 6
1.2 Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành ...............................................................................8
1.2.1 Thực chất chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành................................................... 9
1.2.2 Yêu cầu của chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa .......................................................13
1.2.3 Các nhân tố cơ bản quy đònh chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành....................18
1.3 Vai trò chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp
hóa,
hiện đại hóa.................................................................................................................27
1.3.1 Đònh hướng phát triển ngành trong tổ chức quản lý kinh tế...........................27
1.3.2 Quy đònh phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động kinh tế .....................28
1.3.3 Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế....................................................30
Chương 2. Thực trạng cơ cấu ngành và chuyển dòch cơ cấu ngành
ở quận Tân Phú TP.HCM...............................................................................33
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của quận Tân Phú TPHCM...............................................33
2.2 Thực trạng cơ cấu và chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành...........................................35
2.2.1 Cơ cấu kinh tế theo loại hình tổ chức kinh doanh...........................................35
2.2.2 Cơ cấu ngành phản ánh qua giá trò sản xuất...................................................38
2.2.3 Cơ cấu kinh tế phản ánh qua đóng góp ngân sách đòa phương ......................44
2.2.4 Cơ cấu kinh tế phản ánh qua kim ngạch xuất khẩu........................................45
2.2.5 Cơ cấu ngành phản ánh qua các ngành hàng chủ lực.....................................46

-
3
-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế một tất yếu khách quan trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế tạo nên sự chuyển đổi căn
bản nền kinh tế trên nhiều lónh vực: Phân công lại lao động xã hội, chuyển dòch
các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, gia tăng năng lực sản xuất, tăng
sản phẩm xã hội, góp phần thỏa mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam diễn ra trên nhiều lónh vực khác
nhau như: cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu nhiều thành phần, cơ cấu ngành;
trong đó cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Chuyển dòch cơ cấu ngành để phân bổ
hợp lý tài nguyên, sắp xếp lại lao động phù hợp các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội là vấn đề có ý nghóa chiến lược quan trọng. Nghò quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững,
chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hóa”.
Đối với Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển dòch cơ cấu ngành, cơ
cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy lợi thế tương đối của quận, giải quyết việc
làm, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thò
trường… có ý nghóa cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
của quận.
Nằm trong đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua,
quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành quận Tân Phú đã có những chuyển
biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, vẫn còn
nhiều vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế
-
4
-

Ba là, xác đònh những quan điểm, những mục tiêu đònh hướng cơ bản làm
cơ sở đề xuất những giải pháp chủ yếu đảm bảo cho quá trình chuyển dòch cơ
cấu kinh tế ngành quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh một cách hợp lý, hiệu
quả.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu,
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trên đòa bàn quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian đòa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; về thời
gian từ năm 2003 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận
Những nguyên lý của chủ nghóa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
cơ cấu kinh tế và chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành. Các văn kiện
của Đảng cộng sản Việt Nam về chuyển dòch cơ cấu kinh tế. Các nguyên lý của
kinh tế chính trò Mác - Lênin.
5.2.Nguồn tài liệu tham khảo.
Các tác phẩm kinh điển của Karl Marx, F.Engels, V.I. Lenine về cơ cấu
kinh tế và chuyển dòch cơ cấu kinh tế; Kinh tế chính trò Mác – Lênin, các Văn
kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tư liệu của Viện chiến lược phát triển,
Bộ Kế hoạch Đầu tư, Báo cáo của Ủy Ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
Báo cáo của Ủy Ban nhân dân quận Tân Phú.
-
6
-
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghóa duy vật biện
chứng và chủ nghóa duy vật lòch sử. Vận dụng phương pháp nghiên cứu kinh tế -
xã hội nói chung, phân tích, tổng hợp kết hợp lô gích và lòch sử, số liệu thống kê

1.1.1. Cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu là “sự tổ chức và sắp xếp nhiều bộ phận ghép lại” [6,428]. Cơ cấu
kinh tế là mối quan hệ tỷ lệ giữa các nhân tố, các bộ phận, cấu thành một chỉnh
thể nhất đònh của nền kinh tế “tổng thể các ngành, lónh vực bộ phận kinh tế có
quan hệ hữu cơ tương đối ổn đònh hợp thành” [6,610]. Cơ cấu kinh tế theo nghóa
rộng bao gồm: cơ cấu ngành và lónh vực kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và
hướng phát triển các vùng kinh tế.
Trong một nền kinh tế, cơ cấu kinh tế được xem xét ở nhiều góc độ khác
nhau: cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu theo
vùng, cơ cấu theo đơn vò hành chính lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế;
trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu công - nông
nghiệp là quan trọng nhất. Karl Marx cho rằng: “ Cơ cấu kinh tế của xã hội là
toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất đònh của
các lực lượng sản xuất vật chất”. Sở dó như vậy, vì ở mỗi trình độ khác nhau của
lực lượng sản xuất sẽ quyết đònh nhũng quan hệ sản xuất khác nhau, mối quan
hệ giữa các bộ phận cấu thành cũng khác nhau, tạo thành cơ cấu kinh tế khác
nhau, đặc biệt là cơ cấu ngành, bởi gắn với mỗi ngành sản xuất khác nhau có tư
liệu sản xuất khác nhau, tổ chức quản lý khác nhau…Các bộ phận này cấu thành
lực lượng sản xuất vật chất của một xã hội nhất đònh.
-
8
-
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã
hội ở Việt Nam là xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gồm: 1, cơ cấu ngành:
phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công
nghiệp, mở rộng khu vực dòch vụ, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện
theo hướng hiện đại; 2, cơ cấu thành phần kinh tế; 3, cơ cấu kinh tế vùng.
1.1.2. Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành.
Cơ cấu ngành là mối quan hệ tỷ lệ và sự tác động qua lại giữa các ngành

nền sản xuất xã hội, phân công lao động xã hội và hợp tác về sức sản xuất của
nền sản xuất xã hội từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn
thiện đến hoàn thiện. “Nếu chỉ xét riêng bản thân lao động thì người ta có thể
gọi sự phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn như nông nghiệp,
công nghiệp…, là sự phân công lao động chung, và sự phân chia những ngành sản
xuất ấy thành loại và thứ - là sự phân công lao động đặc thù, còn sự phân công
trong xưởng thợ - là sự phân công lao động cá biệt” [11, 405]
Chính sự phát triển của phân công lao động xã hội, sự phát triển của lực
lượng sản xuất, nền sản xuất xã hội xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Đối với
những nước trong giai đoạn đầu khi cơ sở vật chất kỹ thuật còn có những hạn
chếâ nhất đònh, sức sản xuất, năng lực sáng tạo những thành tựu mới của khoa
học kỹ thuật công nghệ còn nhiều hạn chế, kỹ thuật chỉ đóng ở vai trò thứ yếu,
thì nhân tố quan trọng tài nguyên thiên nhiên, vốn, sức lao động …là nguồn gốc
của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, được tập trung chủ yếu vào ngành thứ 1
và ngành thứ 2, là những ngành lấy sản phẩm trực tiếp từ tự nhiên và chế biến
sản phẩm tự nhiên.
-
10
-
Lòch sử đã có một thời gian tương đối dài, ngành chủ đạo, trụ cột sự phát
triển của các nền sản xuất xã hội là nông nghiệp hoặc công nghiệp. Song khi lực
lượng sản xuất phát triển, sự thay đổi về công cụ lao động và đối tượng lao động
cho thấy hàm lượng khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin tăng lên rất
nhiều. Sự phát triển đó dẫn đến thay đổi đầu vào của các yếu tố sản xuất, phân
bổ các ngành nghề ngày càng nghiêng về các ngành công nghệ mới và phục vụ
có hàm lượng lao động chất xám, lao động trí tuệ cao.
Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế không chỉ dừng lại ở những
biểu hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng), mà quan trọng hơn là phân
tích được mặt chất của cơ cấu: ví trí, vai trò của ngành hiện tại trong nền kinh tế
và hướng phát triển trong tương lai của chúng. Sự tương tác giữa công nghiệp và

1.1.3.Đặc điểm của cơ cấu kinh tế ngành.
Cơ cấu kinh tế ngành mang tính khách quan, tính khách quan này do trình
độ của lực lượng sản xuất quy đònh. Cơ cấu ngành là một kết cấu kinh tế khách
quan, nhất là trong điều kiện kinh tế thò trường, thích ứng với khả năng và nhu
cầu ản xuất sản phẩm do các ngành tạo ra. Tính khách quan của cơ cấu kinh tế
ngành trước hết do phân công lao động xã hội, sự
phân chia lao động xã hội thành những ngành nghề sản xuất khác nhau để sản
xuất ra sản phẩm có công dụng khác nhau quy đònh. Phân công lao động xã hội
dẫn đến xuất hiện các ngành, lónh vực, bộ phận kinh tế gắn liền với sự phát triển
của lực lượng sản xuất sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân đối tương
ứng giữa các bộ phận, tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá
trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó.
Như vậy, cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nói riêng, trước hết
tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động
-
12
-
xã hội. Song lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất trong
một phương thức sản xuất, và quyết đònh đối với quan hệ sản xuất. Thực chất
của quan hệ sản xuất được biểu hiện trên ba mặt: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất, quan hệ về tổ chức quản lý hay trao đổi hoạt động lao động cho nhau và
quan hệ về phân phối sản phẩm.
Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có tính chất
quyết đònh đối với ngành kinh tế, bởi tư liệu sản xuất nào sẽ có các đối tượng lao
động và tư liệu lao động tương ứng, để phát triển các ngành kinh tế cụ thể đối
với tư liệu sản xuất đó nhằm tạo ra sản phẩm thích ứng đối với mỗi ngành. Hơn
thế quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết đònh quan hệ tổ chức quản lý hay
trao đổi hoạt động lao động cho nhau và quan hệ phân phối sản phẩm; nghóa là
quy đònh việc phát triển ngành nghề.
Cơ cấu kinh tế mang tính lòch sử, nó thường xuyên vận động biến đổi làm

sản xuất xã hội trong điều kiện tái sản xuất mở rộng và cho rằng: sản xuất
TLSX để sản xuất ra TLSX phát triển nhanh nhất, thứ đến sản xuất ra TLSX để
sản xuất ra TLTD và cuối cùng là sản xuất ra TLTD.
“Tôi thiết tưởng rằng nếu giai cấp công nhân hiện đang nắm được những
ngành cực kỳ quan trọng của đại công nghiệp mà tập trung chú ý phát triển
những ngành quan trọng nhất, thì nó sẽ được lợi hơn là nền tiểu công nghiệp, tuy
rằng theo tỷ lệ thì nền tiểu công nghiệp phát triển nhanh hơn” [7,100].
1.2. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành
Đối với mỗi quốc gia, yêu cầu của sự phát triển luôn đòi hỏi phải có một
cơ cấu kinh tế hợp lý, nghóa là phải có sự xác đònh mối quan hệ giữa các ngành,
-
14
-
các vùng, các thành phần kinh tế …và ngay giữa các bộ phận trong cùng một
ngành kinh tế. Những mối quan hệ này thể hiện cả trên hai mặt chất và lượng.
Trong hoàn cảnh quốc tế hiện nay đang có những biến đổi sâu sắc, cách
mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra một cách mạnh mẽ, sâu rộng đã và
đang cuốn hút các nước ở nhiều mức độ khác nhau trong quá trình quốc tế hóa,
toàn cầu hóa về mặt kinh tế. Những biến đổi đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh
cho các nước, vừa đặt ra những thử thách gay gắt, nhất là đối với những nước lạc
hậu về kinh tế.
Tân Phú, một quận được tách ra từ quận Tân Bình của Thành phố Hồ Chí
Minh, đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên cơ sở vật
chất kỹ thuật còn yếu, trình độ khoa học công nghệ chưa cao, nguồn lao động
còn rất dồi dào; vì vậy việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan nhằm tổ chức lại sản xuất, phân
công lại lao động, sử dụng lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối phát huy thế
mạnh của quận, khai thác tiềm năng sẵn có thúc đẩy sản xuất của quận phát
triển. Mục đích cuối cùng của việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế phải đạt được mục
tiêu hàng đầu là tăng trưởng nhanh, đủ việc làm, phân phối công bằng hợp lý.

sản xuất, cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dòch
cơ cấu kinh tế ngành hợp lý và có hiệu quả ngày càng cao.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành là nội dung quan trọng, cơ bản, lâu dài
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xác đònh phương hướng và giải
pháp chuyển dòch đúng sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp năng lực nội sinh, khai
thác triệt để có hiệu quả cao khả năng và thế mạnh của các ngành, các thành
phần kinh tế, các vùng trong nền kinh tế cả nước.
-
16
-
Xu thế chung của thế giới cũng như Việt Nam về cơ cấu ngành: ngành
nông nghiệp không ngừng thu nhỏ về phạm vi, tỷ trọng ngày càng giảm trong
nền kinh tế quốc dân, ngành công nghiệp từ mở rộng đến thu hẹp; ngành dòch
vụ, du lòch, thương mại không ngừng mở rộng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
trong toàn bộ GNP.
Chuyển dòch cơ cấu ngành, trước hết và chủ yếu tùy thuộc vào thực trạng
sự biến động của lực lượng sản xuất và đòi hỏi của thò trường. Trong những điều
kiện cụ thể nhất đònh về mặt không gian và thời gian, chuyển dòch cơ cấu ngành
của một quốc gia hay vùng, lãnh thổ là tùy thuộc vào xu hướng vận động phát
triển của kinh tế - xã hội. Biểu hiện của nó là sự thay đổi tỷ trọng của từng
ngành trong GDP của quốc gia hay vùng đó.
Chuyển dòch cơ cấu ngành là quá trình làm tối ưu hóa cơ cấu ngành. Đối
với nền kinh tế quốc dân, đó là sự vận động và biến đổi của các ngành của khu
vực I, II, III, theo chiều hướng tăng tỷ trọng khu vực II và III cả về số tuyệt đối
và tương đối, giảm tỷ trọng các ngành khu vực I trong GDP, giảm cả về số lượng
lao động, việc làm.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp là hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp ổn đònh với chất lượng cao,
bảo đảm an ninh lương thực; phát triển các vùng cây công nghiệp cây ăn quả
gắn với công nghiệp chế biến; nâng cao chất lượng, hiệu quả và tăng tỷ trọng

trong lắp ráp 60 - 70%.
Đối với các ngành dòch vụ, phát triển mạnh các loại hình dòch vụ như
thương mại, vận tải, bưu chính, viễn thông, du lòch, tài chính - tiền tệ và dòch vụ
kỹ thuật tư vấn… với chất lượng ngày càng cao góp phần giải quyết việc làm,
-
18
-
chuyển dòch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động phù hợp với quá trình thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong toàn bộ các ngành kinh tế chú trọng ngành kinh tế dòch vụ, phấn
đấu đối với ngành này, tính theo giá trò gia tăng đạt nhòp độ tăng trưởng bình
quân hàng năm 7-8% và đến năm 2010 chiếm 42-43% GDP, khoảng 26-27%
tổng lao động xã hội.
1.2.2. Yêu cầu của chuyển dòch cơ cấu ngành trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Sở dó chuyển dòch cơ cấu ngành phải gắn với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn lên
hàng đầu vì nước ta hiện nay vẫn là nước nông nghiệp, dân số nông nghiệp
chiếm 80% và lao động nông nghiệp chiếm 70%. Vì nông nghiệp là nguồn cung
cấp lương thực, nguyên liệu, nguồn xuất khẩu quan trọng, đồng thời là thò trường
tiêu thụ lớn nhất hiện nay.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết sẽ tạo ra các tư liệu lao động
mới, quan trọng và cơ bản nhất là công cụ lao động để đưa năng suất lao động
tăng lên, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
vừa trang bò thêm các yếu tố của quá trình sản xuất nhất là tư liệu lao động vừa
nâng cao chất lượng của các yếu tố đó. Đây là cơ sở để tạo các tư liệu lao động
và đối tượng lao động mới, mở rộng và phát triển ngành nghề, cơ sở quan trọng
cho chuyển dòch cơ cấu ngành.
Như trên đã phân tích, công nghiệp hóa nâng cao chất lượng các yếu tố tư
liệu sản xuất, đòi hỏi phải nâng cao trình độ sức lao động mà hệ quả của nó sẽ

nhau chế tạo cùng một sản phẩm như trong công trường thủ công. Ở những dân
-
20
-
tộc đã có một trình độ văn minh nào đó, chúng ta thấy có ba loại phân công lao
động: loại thứ nhất, mà chúng ta gọi sự phân công lao động chung, thì phân chia
những người sản xuất ra thành người làm ruộng, người làm công nghiệp và người
đi buôn, sự phân công đó phù hợp với ba ngành nghề chủ yếu trong nền sản xuất
quốc dân; loại thứ hai mà người ta gọi sự phân công đặc thù, là sự phân chia mỗi
ngành lao động thành nhóm…loại phân công thứ ba, loại cuối cùng mà người ta
có thể gọi là sự phân chia công việc hoặc lao động theo đúng nghóa của nó…”[12,
405 -406]
Chuyển dòch cơ cấu ngành trước hết là tạo ra nhiều ngành nghề mới trên
cơ sở đó vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động vừa đi nhanh vào một
số ngành, lónh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, phát triển mạnh công
nghệ chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da giày, cơ khí điện tử, công nghệ
phần mềm.
Chuyển dòch cơ cấu ngành là chuyển dòch tỷ trọng cả về lượng và chất từ
ngành này sang ngành khác nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa phù hợp
với xu thế chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi đòa phương trong
từng giai đoạn cụ thể khai thác có hiệu quả năng lực nội sinh của mình.
Đối với quận Tân Phú, chuyển dòch cơ cấu ngành phải dựa vào lý luận và
thực tiễn các ngành nghề hiện có, Quận phải chiến lược xây dựng và phát triển
có chọn lọc một số ngành công nghiệp quan trọng: cơ khí chế tạo, hóa chất cơ
bản, vật liệu xây dựng, với bước đi hợp lý, phù hợp với điều kiện vốn, công
nghệ, nguồn lao động, thò trường, phát huy được những lợi thế của quận, với hiệu
quả ngày càng cao.
Thích ứng với quá trình chuyển dòch cơ cấu ngành, chú trọng phát triển
các doanh nghiệp vừa và nhỏ với ngành, nghề đa dạng, phong phú. Phát triển
mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dòch vụ, thương mại, các loại hình vận

22
-
biệt là nguồn lực lao động. Chuyển dòch cơ cấu ngành chính là quá trình phát
triển và mở rộng phân công lao động xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà là phân công lao động quốc tế, nhất là trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu
hóa hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành tuân theo tính
quy luật của nó sẽ phát huy được năng lực nội sinh, tận dụng tối đa năng lực
ngoại sinh, tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4. Chuyển dòch cơ cấu ngành, phải đáp ứng thực hiện tốt sự phân công và
hợp tác quốc tế theo xu hướng quốc tế hóa sản xuất và đời sống. Trong thời đại
ngày nay, vấn đề quốc tế hóa đời sống nhanh hơn quốc tế hóa sản xuất rất
nhiều, nếu chuyển dòch cơ cấu kinh tế chậm không những không phát huy được
lợi thế tương đối mà có thể còn dẫn đến một hậu quả khó lường, đó là nền kinh
tế phồn vinh giả tạo, phụ thuộc vào các nước khác. Do vậy tính quy luật là thực
hiện tốt phân công và hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế phải là cơ cấu kinh tế mở.
5. Chuyển dòch cơ cấu ngành gắn liền với chuyển dòch cơ cấu đội ngũ lao
động. Lòch sử phát triển của các nền sản xuất xã hội đã chứng minh tiến trình đó
cho thấy tỷ trọng lực lượng lao động trong lónh vực nông nghiệp so với tổng lao
động xã hội ngày càng giảm cả về tuyệt đối lẫn tương đối; còn lónh vực sản xuất
công nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi từ văn minh nông nghiệp sang văn minh
công nghiệp tỷ trọng lao động tăng cả về tuyệt đối và tương đối; tuy nhiên càng
về sau khi nền kinh tế phát triển tỷ lệ này giảm đi tương đối cho các ngành dòch
vụ, du lòch, thương mại phát triển.
1.2.3. Các nhân tố cơ bản quy đònh chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành.
Chuyển dòch cơ cấu ngành để phát triển các ngành kinh tế chòu tác động
của rất nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố khách quan và chủ quan, những
nhân tố thuộc về tự nhiên, nhân tố thuộc về xã hội, về kỹ thuật, về trình độ phát
triển ở trong nước cũng như quốc tế, sau đây là những nhân tố cơ bản:
-
23

Tăng cường hiệu lực các công cụ, chính sách quản lý vó mô, tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đổi mới công tác kế hoạch hóa nâng cao
tính đònh hướng và dự báo nâng cao chất lượng của các quy hoạch và kế hoạch
gắn quy hoạch, kế hoạch với thò trường.
Điều chỉnh chính sách đầu tư nhà nước theo hướng tăng cường đầu tư phát
triển nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển
dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng nuôi dưỡng nguồn
thu, thực hiện công khai minh bạch về hoạt động kinh doanh và thu nhập trong
xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa nhà nứơc và xã hội.
Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ nhằm ổn đònh kinh tế vó mô,
kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển,
bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Chủ động xây dựng lộ trình
hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả mở rộng kinh tế đối ngoại.
Xây dựng chiến lược đầu tư trên cơ sở phát huy lợi thế tuyệt đối và tương
đối, nâng cao nặng lực cạnh tranh theo đònh hướng xuất khẩu. Tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho đầu tư và chế biến xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. Xây dựng
chiến lược thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA và FDI phù hợp với
yêu cầu phát triển đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Chủ động và chuẩn bò tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác song
phương và đa phương mà nứơc ta đã cam kết hoặc đang đàm phán là cơ sở để
mổ rộng phân công và hợp tác quốc tế chuyển dòch cơ cấu ngành, đặc biệt chú ý
trong khuôn khổ ASEAN, hiệp đònh thương mại Việt Mỹ…
-
25
-
Chính sách phát triển nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo khoa học công
nghệ. Đây là một trong những chính sách quan trọng nhân tố có ý nghóa quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status