Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
 ĐINH THỊ THÚY HÀ

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở TỈNH SƠN LA
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


1.1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 5
1.1.1. Cơ cấu kinh tế 5
1.1.2. Cơ cấu kinh tế ngành 10
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành 11
1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành 12
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành 16
1.2.4. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 24
1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số địa phương và bài học kinh
nghiệm cho Sơn La 24
1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh 24
1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có tính điển hình ở một số địa
phương 25
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở
TỈNH SƠN LA 31
2.1. Đặc điểm của Sơn La ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 31
2.1.1. Những điều kiện kinh tế - xã hội Sơn La có ảnh huởng đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 31
2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyể n dị ch cơ
cấ u kinh tế ngành ở Sơn La 33
2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành ở Sơn
La những năm qua 35
2.2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Sơn La 35
2.2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo nội bộ ngành ở Sơn La 38
2.3. Một số nhận định khái quát về những kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn La những năm qua 63
2.3.1. Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân 63
2.3.2. Một số hạn chế chủ yếu và nguyên nhân 63
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên sự chuyển
đổi căn bản nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực: Phân công lại lao động xã hội,
chuyển dịch các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, gia tăng năng lực
sản xuất, tăng sản phẩm xã hội, góp phần thoả mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực
khác nhau như: Cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu nhiều thành phần, cơ
cấu ngành; trong đó cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Chuyển dịch cơ cấu
ngành để phân bổ hợp lý tài nguyên, sắp xếp lại lao động phù hợp các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Phát triển kinh tế nhanh, có
hiệu qủa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng
công nghiệp hoá”.
Đối với Sơn La chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở
phát huy lợi thế tương đối của tỉnh, giải quyết việc làm, thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Sơn La những năm vừa qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành đã có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh như: Xây dựng chiến lược,
vốn, đào tạo nguồn nhân lực và những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan.
Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên, tôi lựa chọn vấn đề:

bàn tỉnh Sơn La những năm qua. Trên cơ sở đó chỉ ra những điểm mạnh và
những hạn chế của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La và đề xuất
những quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Sơn La theo hướng CNH, HĐH.
* Nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.

3
- Khảo cứu tình hình thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của
một số tỉnh miền núi, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Sơn La.
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở tỉnh miền
núi Sơn La. Rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của những
hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Sơn La hiện nay.
- Nghiên cứu, đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Sơn La trong điều kiện chuyển sang
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La.
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La trong những năm qua (chủ yếu từ 2005 đến nay).
Từ đó rút ra được mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy
nhanh và nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Sơn La
theo định hướng đến năm 2020.
5. Tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
Cơ sở lý luận: Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Các văn
kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH

1.1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành
1.1.1. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng to lớn trong
quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia qua các thời kỳ. Cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép tạo nên sự cân
đối, hài hoà của nền kinh tế để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực,
tài nguyên, của cải vật chất, của cải tinh thần và sức lao động. Điều đó có ý
nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng, và phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của
nền kinh tế quốc dân.
Thuật ngữ cơ cấu (kết cấu) có nguồn gốc ban đầu từ chữ La Tinh
“Trucke”, nó phản ánh cách sắp xếp các bộ phận của một chỉnh thể. Sau đó,
các khái niệm này được sử dụng rộng hơn cho các ngành khoa học khác.
Theo quan điểm triết học “cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù phản
ánh cấu trúc bên trong của đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản,
tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng, trong một thời
gian nhất định.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống C.Mác
tiếp cận cơ cấu nền kinh tế như là: Toàn bộ các quan hệ giữa những người
làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên tức là những điều
kiện trong đó họ tiến hành sản xuất. Toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã
hội, xét về mặt cơ cấu kinh tế của nó.
Khi phân tích mối quan hệ phân công lao động xã hội, với cơ cấu kinh
tế xã hội C.Mác đã nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những
quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng
sản xuất vật chất” [18, tr.70].

6
C.Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế cả hai mặt: số lượng (quy mô, tỷ

7
đổi trong giới hạn cho phép, mà nếu vượt qua giới hạn đó, hệ thống kinh tế -
xã hội chuyển sang loại hình cơ cấu khác.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra những khía cạnh không thể thiếu được
khi tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế:
- Bao gồm các bộ phận cấu thành mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra thông qua mối quan hệ kinh tế giữa các
ngành và nội bộ ngành, giữa các vùng kinh tế và giữa các thành phần kinh tế
với nhau.
- Được xem xét trên cả hai mặt định tính và định lượng của từng yếu tố
và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đặt cơ cấu kinh tế trong điều hiện lịch sử của mỗi nước, mỗi địa
phương, mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định.
- Gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong từng thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ đó rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng
thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình
độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ
tương tác giữa tất cả các bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong
từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã
hội đã được xác định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cơ cấu kinh tế là hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát
triển của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó. Để đánh giá một
cách thực tế việc xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế và ứng dụng đúng đắn cơ
cấu kinh tế vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng địa phương, trong
từng giai đoạn phát triển, cần lưu ý nhữg đặc trừng sau của cơ cấu kinh tế.
Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan.
Theo C. Mác cơ cấu có mối quan hệ mật thiết với phân công lao động
xã hội, người khẳng định: “Trong sự phân công xã hội, thì con số tỷ lệ là một

là hiệu quả kinh tế - xã hội, khi cơ cấu kinh tế đó hợp lý. Một cơ cấu kinh tế
hợp lý phải là một cơ cấu cho phép khai thác hết những tiềm năng kinh tế- xã
hội của quốc gia, các địa phương, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế, các
thành phần kinh tế, các vùng kinh tế thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện

9
cho nhau phát triển. Nó không chỉ đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế mà còn
giải quyết được các vấn đề xã hội và môi trường sinh thái, tạo đà cho sự phát
triển trong tương lai.
Việc thi hành chính sách cơ cấu có lựa chọn hợp lý như vậy đòi hỏi
phải đảm bảo tính đồng bộ, tính cân đối trong sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân, là hai mặt mâu thuẫn của quá trình biện chứng. Từ tính chất hai mặt
của cơ cấu kinh tế là tính cân đối ổn định và tính chất biến đổi tổ chức, nói lên
tính chất phức tậo của việc thay đổi cơ cấu kinh tế.
Thứ tư: Cơ cấu kinh tế mang tính thị trường và mở cửa.
Khi chuyển đổi mô hình kinh tế cũ sang mô hình kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế để tạo ra
hàng hoá với tư cách là hàng hoá để bán. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển
cơ cấu kinh tế nhất thiết phải mang tính thị trường. Có như vậy, mới làm cho
cơ cấu kinh tế được xây dựng không chỉ thích ứng mà còn có tác dụng thúc
đẩy việc xây dựng thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta và địa phương.
Trong nền kinh tế thị trường, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh
tế theo hướng mở rộng hợp tác, và phân công lao động diễn ra không chỉ
trong phạm vi mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn xác định được cơ
cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế của mình gắn với thị trường trong nước và quốc
tế, nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh
tế quốc dân, tạo điều kiện đẻ chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Sự phát triển đan xen cũng như sự phân công lao động quốc tế, sự thâm
nhập kinh tế các nước vào nhau đã chỉ rõ tính đa dạng phong phú và tính quốc

nghiệp - ngư nghiệp; ngành công nghiệp lại chia thành công nghiệp khai thác,
công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng hoặc chia thành công
nghiệp truyền thống, công nghiệp gắn với công nghệ mới hiện đại; ngành dịch
vụ lại chia thành dịch vụ sản xuất, dịch vụ con người.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành
1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Để hiểu rõ hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trước tiên chúng ta
hãy tìm hiểu khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

11
Khi nghiên cứu khái niệm cơ cấu kinh tế, chúng ta xem xét nó ở trạng
thái tĩnh hay tương đối ổn định, nhưng khi tiếp cận với khái niệm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là nghiên cứu ở trạng thái động có tác dụng làm thay đổi cơ cấu
kinh tế theo hướng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất để thúc đẩy nền kinh tế phát triển [19, tr.47].
Như vậy, cùng với việc tổ chức lao động một cách khoa học và kỹ
thuật, công nghệ ngày càng phát triển tất yếu làm cho cơ cấu kinh tế của một
xã hội cũng thay đổi, phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hợp lý đến hợp lý,
hiện đại và hiệu quả theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với cách đặt
vấn đề như vậy, chúng ta có thể hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình
thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế giữa
các ngành, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế nhằm đạt tới một cơ
cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả hơn, tạo thế và lực mới cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, trong từng giai đoạn của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta, vì để xây dựng và phát
triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc, với một tốc độ nhanh đòi hỏi phải
xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa
các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần

nhọn, đi tắt, đón đầu; không chỉ áp dụng những công nghệ tiên tiến mà còn
phải biết kết hợp tận dụng và hiện đại hoá công nghệ truyền thống.
Ở nước ta, cơ cấu ngành và nội bộ ngành kinh tế ở miền Bắc bắt đầu
xây dựng từ năm 1961 và được điều chỉnh qua các kỳ Đại hội toàn quốc của
Đảng.
Cơ cấu ngành kinh tế lần đầu tiên được xác định là ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp,
công nghiệp nhẹ, nhằm nhanh chóng xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật
ban đầu của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta, nhằm biến miền Bắc nước
ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại,
nông nghiệp hiện đại. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên quá trình công
nghiệp hoá thực hiện chưa được nhiều. Tuy vậy, cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ
này cũng thu được một số kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển, góp phần phục vụ đắc lực cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

13
thành công. Song nguồn lực chủ yếu để công nghiệp hoá thời kỳ này vẫn dựa
vào sự viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây.
Thực hiện đường lối và kế hoạch tập trung phát triển công nghiệp nặng
để từng bước hình thành cơ cấu công - nông nghiệp, chúng ta đã dồn quá
nhiều vốn, vật tư, kỹ thuật và lao động cho công nghiệp nặng, nên ít quan tâm
đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, làm mất cân đối trong đầu tư, dẫn đến
tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, đời sống khó khăn và
làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng kinh tế năm 1979.
Đại hội Đảng lần V (1982), Đảng ta xác định được điểm xuất phát của
đất nước là “đang ở chặng đường đầu tiên” của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Do vậy, đường lối công nghiệp hoá có sự điều chỉnh nhất định. Điểm
nổi bật ở đây là coi công nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung phát triển
nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và thiết yếu
về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng đề dần dần ổn định đời sống.

lý luận về nội dung của cơ cấu kinh tế ngành, khảo sát sự vận động của lịch
sử phát triển nền kinh tế thế giới và ở Việt Nam gắn với những thành công và
chưa thành công liên quan đến sự vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế
giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, có thể tìm ra xu hướng
vận động cơ bản của cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành để từ đó xác định
phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả nhất.
* Về cơ cấu ngành
- Chuyển dịch đi từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế
công nghiệp - nông nghiệp, từ cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp sang
cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ; và từ cơ cấu công nghiệp - nông
nghiệp - dịch vụ lên cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp hiện đại.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, theo hướng tỷ trọng ngành nông
nghiệp giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên trong GDP,
trong đó ngành dịch vụ tăng nhanh hơn ngành công nghiệp.
* Về cơ cấu nội bộ ngành
- Ngành nông nghiệp: Chuyển từ độc canh, thuần lương, tự cấp tự túc
sang đa canh, phát triển toàn diện nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất

15
hàng hoá, gắn nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và
dịch vụ tại nông thôn.
- Ngành công nghiệp: Chuyển từ các ngành công nghiệp truyền thống
(ngành sử dụng nhiều lao động chân tay và nhiều nguyên liệu có nguồn gốc tự
nhiên) sang các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động chân tay và nguyên
liệu tự nhiên, tiến lên ngành công nghiệp công nghệ cao (ngành sử dụng chủ
yếu là lao động trí tuệ và vật tư nguyên liệu nhân tạo).
- Ngành dịch vụ: Dịch vụ thuần dịch vụ (dịch vụ cho con người) tăng
nhanh hơn ngành dịch vụ sản xuất vật chất. Ngành dịch vụ vật chất gián tiếp
(thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ ) tăng nhanh hơn
ngành dịch vụ sản xuất trực tiếp.

có nguồn lao động dồi dào hiểu biết về khoa học, có sức khoẻ về trình độ văn
hoá hiện đại, kỹ năng lao động thành thạo mới là tài nguyên quý giá.
+ Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và biến đổi
cơ cấu kinh tế ngành, đó là tài nguyên như đất đai, rừng, nước, khoáng sản.
Nhưng hiện tại cũng như tương lai, chúng ta thấy rằng tài nguyên thiên nhiên
ngày càng cạn kiệt, là khó khăn lớn cho quá trình tăng trưởng kinh tế, hình
thành và biến đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Con đường thoát khỏi
tình trạng này là dựa vào tiến bộ khoa học - công nghệ, đồng thời tiến hành
thăm dò, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và phát triển theo hướng
kinh tế tri thức.
- Điều kiện về vốn, muốn bảo đảm tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu
ngành lâu dài và bền vững, chất lượng cao thì việc bảo đảm nguồn vốn là rất
quan trọng, trong đó nguồn vốn tự có là chủ yếu.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Tiến bộ khoa học -
công nghệ xét về nội dung được phát triển theo một số hướng chính: đó là cơ
khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá, điện tử và tin học, vật liệu mới, công nghệ
sinh học Nó đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tần suất phát minh
mới và ứng dụng vào sản xuất ngày càng ngắn. Phạm vi ứng dụng của một
phỏt minh ngày càng mở rộng mang tính liên ngành, thậm chí liên quốc gia.
Tăng trưởng GDP với tốc độ cao trong thời đại cạnh tranh quyết liệt trên thị
trường quốc tế, có thể đạt được một cách vững chắc và lâu bền trên cơ sở

17
không ngừng tăng cường năng lực khoa học - công nghệ nội sinh. Trong thời
đại văn minh công nghiệp, chúng ta thấy rõ mối quan hệ nội tại giữa chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành với các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và
vai trò động lực của nó, cụ thể là:
+ Khoa học công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy phân công lao
động xã hội, hình thành những ngành sản xuất và mối quan hệ giữa chúng.

những người mới và mối quan hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp và dịch
vụ; nâng cao năng suất loa động và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
- Phân công và hợp tác lao động là cơ sở hình thành cơ cấu lao động,
nhân tố chủ yếu phát triển cơ cấu xã hội, dân cư mới. Sự phân công lao động
ngày càng sâu sắc thì số lượng các ngành nghề càng tăng, nhờ đó thúc đẩy cơ
cấu lao động chuyển dịch theo chiều rộng. Phân công lao động sẽ nâng cao
năng suất lao động, thúc đẩy kinh tế ngành, liên ngành phát triển. Do vậy,
phân công lao động xã hội là một trong những nhân tố quan trọng hình thành
cơ cấu lao động vùng. Trong điều kiện toàn cầu hoá, để rút ngắn khoảng cách
lạc hậu, những nước có lợi thế lao động và tài nguyên cần lợi dụng vốn, khoa
học - công nghệ từ bên ngoài để hoàn thiện và nâng cấp cơ cấu lao động theo
chiều sâu.
- Vai trò của nhân tố thị trường đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành. Đối với nước ta, trong bối cảnh vừa chuyển đổi mô hình kinh
tế, vừa trong điều kiện của nền kinh tế thị trường mới hình thành, chưa phát
triển đầy đủ thì vai trò và tác động của nhân tố thị trường đối với sự phát triển
các ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành diễn ra như thế nào? Cần
phải làm gì để thị trường phát huy được đầy đủ và vai trò tác dụng tích cực
của nó.
Nền kinh tế nói chung, các ngành, lĩnh vực, đơn vị kinh tế nói riêng đều
phải hướng tới việc đảm bảo các yêu cầu của thị trường và tuân thủ các
nguyên tắc hoạt động của nó, nghĩa là: mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, kinh
doanh đều phải dựa vào thị trường và xuất phát từ nhu cầu thị trường; giá cả
hàng hoá và dịch vụ do thị trường chi phối; hoạt động của các ngành, lĩnh vực
đơn vị kinh tế đều diễn ra trong môi trường cạnh tranh và phải thích ứng với
môi trường này; phải coi lợi nhuận tối đa là mục đích cuối cùng và là động
lực nội tại.

19
Để đảm bảo các nguyên tắc nêu trên, đáp ứng những yêu cầu khách


20
Doanh nghiệp Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò quan trọng.
Doanh nghiệp nhà nước được phát triển trong những ngành và lĩnh vực then
chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân.
+ Vai trò của Nhà nước biểu hiện trong vấn đề đào tạo nguồn lực cho
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Nhà nước có vai trò quyết định trong việc
tạo ra và hội tụ các nguồn lực để phát triển nguồn nhân lực. Điều này thể hiện
ở các mục tiêu, công cụ, cơ chế tác động của Nhà nước đến quá trình hình
thành, phát triển, quản lý nguồn nhân lực.
+ Vai trò của Nhà nước còn thể hiện trong hệ thống các chính sách tác
động đến phát triển nguồn nhân lực. Đó chính là chính sách giáo dục, đào tạo,
chính sách khoa học, công nghệ, chính sách tuyển dụng, đánh giá và phân
phối nguồn nhân lực
Vai trò của Nhà nước trong đào tạo nguồn nhân lực còn thể hiện trong
cơ chế, công cụ tác động đến nguồn nhân lực. Nhà nước kiểm tra đánh giá,
điều chỉnh sự phát triển của nguồn nhân lực; Nhà nước xây dựng cơ chế đầu
tư phát triển nguồn nhân lực.
+ Vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định và thực hiện chính sách
kinh tế đối ngoại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nước (thị
trường, vốn, khoa học - công nghệ ).
+ Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng được khẳng
định trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý; tạo địa bàn để các địa
phương thu hút các doanh nghiệp trong nước, nước ngoài đầu tư vào các
ngành đem lại lợi nhuận cao với chu kỳ thu hồi vốn nhanh; góp phần tích cực
vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả.
1.2.3.2. Các nhân tố bên ngoài nền kinh tế
Trong điều kiện toàn cầu hoá, nền kinh tế của các quốc gia đều chịu sự
chi phối mạnh mẽ nhân tố bên ngoài, các nước phát triển với lao động cơ bắp

dịch vụ.
- Hợp tác liên doanh và hội nhập kinh tế quốc tế còn là nhân tố cần
thiết khắc phục tình trạng cơ cấu kinh tế ngành bất hợp lý do lịch sử để lại,
góp phần hình thành cơ cấu kinh tế mở, hợp lý trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2.4. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trích đoạn Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status