Tài liệu Luận văn: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ doc - Pdf 10

1
Luận văn

THỰC TRẠNG CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ
2
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ
I. CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1.Nhận thức chung về cơ cấu kinh tế
1.1. Khái luận về cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái
niệm cơ cấu kinh tế. Các cách tiếp cận này thường bắt đầu từ khái niệm “ cơ
cấu”. Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ
lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu được biểu
hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau
của một hệ thống nhất định. Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật
hiện thượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng”. Vì thế khi
nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Ở trên là khái niệm về cơ cấu, cũng như vậy đối với nền kinh tế quốc
dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ
phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta tiếp
cận khi nghiên cứu.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của
nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tương tác
qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện

quyết định tính đặc thù về cơ cấu kinh tế của vùng, nước. Do vậy cơ cấu
kinh tế phản ánh quy luật chung của quá trình phát triển, nhưng những biểu
hiện cụ thể phải thích ứng với điều kiện của từng vùng, từng nước về điều
kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử. Không có một cơ cấu mẫu chung cho mọi
phương thức sản xuất, mọi vùng kinh tế hược đại diện chung cho nhiều nước
khác nhau; cũng không thể nóng vội, kìm hãm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
không phù hợp với yêu cầu và khả năng. Mỗi quốc gia, mỗi vùng có thể và
cần thiết phải lựa chọn cơ cấu kinh tế phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử phát
triển.
Cơ cấu kinh tế không thể cố định mà phải có sự biến đổi điều chỉnh và
chuyển dịch cho thích hợp với sự biến đổi các điều kiện kinh tế – xã hội và
tiến bộ khoa học công nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển kinh
tế. Cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động phát triển và chuyển hoá cho nhau
theo hướng ngày càng hoàn thiện. Cơ cấu kinh tế cũ chuyển dịch dần dần và
ra đời cơ cấu mới thay thế nó. Cơ cấu mới, sau một thời gian lại trở nên
không phù hợp. Cứ thế cơ cấu kinh tế vận động biến đổi không ngừng từ
đơn giản đến phức tạp, từ đơn điệu đến đa dạng và thêm hoàn thiện.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình. Không phải cơ cấu kinh
tế được hình thành ngay một lúc và lập tức thay thế cơ cấu cũ. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải là một quá trình tích luỹ về lượng, thay đổi
về lượng đến một mức nào độ nhất định mới dẫn đến thay đổi về chất. Trong
quá trình đó, cơ cấu cũ thay đổi dần dần và chuyển sang cơ cấu mới. Quá
trình này diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự
tác đọng trực tiếp rất quan trọng của các chủ thể lãnh đạo và quản lý.Sự
nóng vội hay bảo thủ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều có hại đối
4
với sự phát triển của nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết
phải là một quá trình nhưng không phỉa và không thể là một quá trình tự
phát với cac bước tuần tự, mà ở đó con người bằng nhận thức vượt trước và
am hiểuthực tế sâu sắc hoàn toàn có thể tạo ra những tiền đề, tác đọng cho

thổ kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một hệ thống
nhất và đều là biểu hiện cuả sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu vùng lãnh
thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế.
Trong cơ cấu vùng -lãnh thổ kinh tế có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong
5
điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Loại cơ cấu này phản ánh những
mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một đất nước trong hoạt động
kinh tế. Thông thường cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị
và nông thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng điểm, khu vực kinh tế
đồng bằng và miền núi.
2.3.Cơ cấu thành phần kinh tế:
Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành
và cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành
phần kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu
ngành kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh
động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu
này phản ánh các mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất sản
xuất trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản
xuất. Mô hình chung về số lượng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các
nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn
hợp. Tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế này thường không giống nhau. Điều
này tạo ra tính đặc thù trong chiến lước phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.
Trên đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế trong đó cơ cấu
ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả cơ cấu ngành và thành phần kinh
tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ
và trên phạm vi cả nước. Mặt khác việc phân bố không gian vùng một cách
hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần
kinh tế trên vùng, lãnh thổ kinh tế.
Ngoài ba cơ cấu cơ bản trên còn có các cơ cấu sau:

3. Vai trò của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế
Cơ cấu kinh tế là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh
tế các nước. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý,
tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại không một nền kinh tế nào chỉ
dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ. Cơ cấu kinh tế hợp lý cho
phép khai thông tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong
ngoài nước.
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất sao cho
thích nghi với quá trình phát triển là điểm mấu chốt, có tính chất quyết định.
Vấn đề đặt ra là chuyển dịch như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu. Nói đến quá
trình phát triển kinh tế người ta thường quan tâm đến hiệu quả sử dụng các
nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuất theo thời gian và cách
thức phân phối sản phẩm và thu nhập cho các nhân tố sản xuất. Còn khi nói
đến cơ cấu của một nền kinh tế, ta thường quan tâm đến các thành phần có ý
nghĩa cơ bản, tồn tại lâu dài, là cơ sở cho những biến đọng có tính chất
thường xuyên trong đời sống kinh tế.Cơ cấu xã hội và kinh tế là cơ sở cho
những nhân tố quyết định phúc lợi vật chất của nhân dân.
Việc hình thành cơ cấu kinh tế được diễn ra theo hai quá trình tự phát và có
kế hoạch. Ngày nay để được thực hiện được mục tiêu tổng quát trong phát
triển kinh tế, chính phủ các nước chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong
chiến lước phát triển của mình, giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế luôn là trọng
tâm của việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nước.
7
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế
Xác định và thực hiện các phương hướng và biện pháp nhằm thực
hiện chuyển dịch cơ cấu ngành cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của
quản lý nhà nước về kinh tế. Để thực hiện nhiệm vụ này cần phải nghiên cứu
và phân tích kỹ các nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành cơ cấu kinh tế.
4.1Nhóm các nhân tố khách quan

8
Vị trí địa lý cũng là một yếu tố phải được xem xét khi hình thành cũng như
định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Yếu tố này trở nên quan
trọng trong điều kiện xây dựng nền kinh tế mở, tăng cường mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế.
Sự phát triển của các loại thị trường: cần khẳng định ngay rằng thị
trường có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, trước hết là cơ cấu ngành. Bởi lẽ thi trường là yếu tố hướng dẫn và
điều tiết các hoạt động sản xuất – kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Mỗi
doanh nghiệp phải hướng ra thị trường, xuất phát từ qua hệ cung cầu hàng
hoá trên thị trường để định hướng chiến lược và chính sách kinh doanh của
mình. Sự hình thành và biến đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp để thích ứng với điều kiện của thị trường dẫn tới từng bước thúc đẩy
sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bởi vậy sự hình thành và phát
triển đồng bộ các loại thị trường trong nước ( thị trường hàng hoá -dịch vụ,
thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học – công nghệ ) có
tác động mạnh đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước tạo điều kiện phát
triển đồng bộ, điều tiết các loại thị trường và tạo môi trường, điều kiện cho
thị trường và các hoạt động sản xuất –kinh doanh thông qua các chính sách
vĩ mô. Hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nào là phụ
thuộc vào chiến lược và các định hướng phát triển của Nhà nước trong từng
thời kỳ có tính đến các yếu tố trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế.
-Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả
năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ
trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế)
mà còn tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành công
nghiệp non trẻ công nghệ tiên tiến như: dầu khí, điện tử do đó có triển
vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học – công nghệ

Vesnon, Kojima đã đặt tên lại cho mô hình “Đàn ngỗng trời bay” là mô hình
“ chu kỳ đuổi kịp sản phẩm- catching up product cycle”. Mô hình này phản
ánh một thực tế sống động gọi là “hiệu ứng chảy tràn” về cơ cấu kinh tế từ
các quốc gia ở các nấc thang phát triển cao hơn sang quốc gia phát triển thấp
hơn. Sự quan sát thực tế cho thấy khi Nhật bản khởi động và đạt được thành
tích tăng trưởng rực rỡ vào thập niên 1950- 1960, bốn quốc gia hiện đã trở
thành NICs đã tiếp theo đó bắt nhịp vào quá trình tăng trưởng vào thập niên
1960- 1970; đến thập kỷ 1970 và 1980 là một số nước thuộc ASEAN và từ
thập niên 1980 đến nay “ hiệu ứng chảy tràn” đang lan sang Trung Quốc và
Việt Nam. Rõ ràng đây là một quá trình tăng trưởng liên tục và diễn ra theo
đúng kiểu “ làn sóng”.
4.2.Nhóm các nhân tố chủ quan
10
Nhân tố chủ quan như đường lối chính sách Nhà nước, cơ chế quản lý,
chiến lược phát triển kinh tế –xã hội trong từng thời kỳ ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Môi trường thể chế là yếu cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Môi trường thể chế thường gắn bó chặt chẽ với thể chế chính
trị và đường lối xây dựng kinh tế. Nói cách khác, quan điểm, đường lối
chính trị nào sẽ có môi trường thể chế đó, đến lượt nó, môi trường thể chế lại
ước định các hướng chuyển dịch cơ cấu ngàn kinh tế nó chung cũng như cơ
cấu nội bộ từng ngành, từng vùng và từng thành phần kinh tế. Môi trường
thể chế là biểu hiện cụ thể của những quan điểm, ý tưởng, hành vi của Nhà
nước can thiệp và định hướng phát triển tổng thể, cũng như sự phát triển các
bộ phạn cấu thành của nền kinh tế. Trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế ( dù là chuyển dịch theo hướng nào) thì Nhà nước đóng vai trò quyết
định. Vai trò đó thể hiện tập trung ở:
Thứ nhất, Nhà nước xây dựng và quyết định chiến lược và kế hoạch
kinh tế – xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội tổng thể của
đất nước. Đó thực chất là các định hướng phát triển, định hướng phân bổ

phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng
giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều. Sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi
trường phát triến gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây không phải đơn
thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất và lượng trong nội bộ
cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ
cấu hiện có do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu
cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dụng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện
và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù
hợp hơn. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên
3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là cơ cấu ngành, cơ cấu thành hần
kinh tế, cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế. Nhằm hướng sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời
kỳ phát triển.
2.Quy luật phổ biến trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chịu tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế chịu sự tác động của
hai lực: thị trường và Nhà nước.
- Thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ tác động qua lại giữa
người tiêu dùng và doanh nghiệp để xác định sản lượng và giá cả, thông qua
giá cả thị trường thực hiện chức năng phân phối nguồn lực vào các ngành,
các lĩnh vực, bộ phận cảu nền kinh tế.
- Nhà nước với tư cách là chủ thể kinh tế, can thiệp vào nền kinh tế
thông qua pháp luật, kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế nhằm đạt
được mục tiêu đã xác định trước.
12
Cơ cấu kinh tế được hình thành từ hai động lực tác động đó tất yếu là
một cơ cấu có định hướng, hợp lý và hiệu quả. Cơ cấu kinh tế hợp lý không
chỉ biểu hiện về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ giữa các bô

tất yếu khách quan nhằm khai thác một cách hiệu quả nhất các nguồn lực
của đất nước. Để lượng hoá mức độ chuyển hoá giữa hai thời điểm t1, t2
người ta thường dùng công thức sau:
Cos =Si(t ).
3. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
13
Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra yêu cầu cần phải
chuyển dịch cơ cấu ngành
Đảng ta đã xác định “ công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động kinh tế – xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghiệp,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng xuất lao động xã
hội cao.” Đối với nước ta, đó là quá trình thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội nhằm cảibiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã
hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ,
ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất của chế độ mới.
Nền kinh tế nước ta bước vào quá trình công nghiệp hoá với điểm xuất
phát thấp; nền công nghiệp lạc hậu không cân đối, công nghiệp thấp kém.
Do vậy, để sử dụng sức lao động một cách phổ biến với công nghệ hiện đại
nhằm khai thác tối đa nguồn lực của đất nước, không ngừng tăng năng xuất
lao động, làm nền cho kinh tế tăng trưởng nhanh, đòi hỏi phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Hơn nữa, theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát
triển hiện nay cho ta bài học kinh nghiệm về công nghiệp hoá, đó là phải
điều hỉnh lại cơ cấu của nền kinh tế.
III. Một số lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.Một số mô hình lý thuyết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đã được các trường phái thuyết kinh tế đề cập từ nhiều góc
độ tiếp cận khác nhau. Vì vậy, trước hết cần điểm qua những quan điểm cơ
bản nhất của các trường phái kinh tế. Ba trường phái lớn là: kinh tế học

tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng và chậm nhất là sự phát triển của
tư liệu tiêu dùng.”
1.2.Kinh tế học thuộc trào lưu chính
“ Kinh tế học thuộc trào lưu chính” là một trong những trường phái
kinh tế lớn nhất hiện nay. Nó có cội nguồn từ kinh tế học cổ điển. Vì đối
tượng của kinh tế học thuọc trào lưu chính là kinh tế thị trường phát triển
nên về phương diện nào đó có thẻe thấy rằng vấn đề chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá không phải là mục tiêu phân
tích chính của nó. Song, không phải vì vậy mà vấn đề này không được đề
cập đến dưới hình thức này hay hình thức khác. khi nhằm mục tiêu duy trì
hiệu quả của nền kinh tế, kinh tế học thuộc trào lưu chính một mặt đi sâu
phân tích các điều kiện đảm bảo cho sự hoạt động hữu hiệu của thị trường
với tư cách alf động lực phát triển kinh tế, mặt khác đề cao vai trò của Nhà
nước qua một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô với chức năng đảm bảo cho
thị trường hoạt động tốt và duy trì sự ổn định vĩ mô. ở địa hạt này, những
phân tích về xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở những nền kinh tế phát
triển đang diễn ra dưới tác động của khoa học- kỹ thuật và xu hướng quốc tế
hoá đời sống kinh tế thế giới cùng những biện pháp can thiệp của Nhà nước,
đặc biệt là những chương trình tái tạo cơ cấu nền kinh tế quốc gia, trong đó
có chính sách cơ cấu nên được xem là những tài liệu khảo cứu có giá trị.
15
Thật vậy, trong điều kiện bình thường, các công ty căn cứ vào các chỉ
báo của thị trường như giá cả, chi phí cơ hội, chỉ số ICOR để quyết định
xem nên đầu tư vào những lĩnh vực nào có hiệu quả nhất. Song cơ chế thị
trường tự nó không đảm bảo được sự phát triển với hiệu quả kinh tế- xã hội
mong muốn. Vì thế, sự can thiệp của Nhà nước thông qua các chính sách
kinh tế vĩ mô trở thành một trong những nội dung quan trọng trong phân tích
lý thuyết của trường phái này.
Như vậy, những phân tích về mặt lý thuyết của trường phái kinh tế
này đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng.

sản xuất hiện đại và kinh tế đối ngoại.
Giai đoạn 4: Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi kinh tế : là giai đoạn
mà tỷ lệ đầu tư trong thu nhập quốc dân đạt mức cao ( 10- 20%) và xuất hiện
nhiều cực tăng trưởng mới.
Giai đoạn 5: Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt: là giai đoạn kinh tế phát
triển cao, sản xuất đa dạng thỉtường linh hoạtvà có hiện tượng suy giảm nhịp
độ tăng trưởng.
Theo lý thuyết phân kỳ phát triển này, hầu hết các nước đang phát
triển tiến hành công nghiệp hoá hiện nay ở khoảng giai đoạn 2 và 3, tuỳ theo
mức độ của từng nước. Ngoài những dấu hiệu kinh tế – xã hội khác, về mặt
cơ cấu phải bắt đầu hình thành một số ngành công nghiệp chế biến có khả
năng kéo toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng. Đồng thời, cùng với sự chuyển
tiếp từ giai đoạn 2 sang 3 là sự thay đổi của lĩnh vực đóng vai trò đầu tàu.
Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những
lĩnh vực có thể đảm trách vai trò đó qua mỗi giai đoạn phát triển cụ thể.
Do tiếp cận vấn đề góc độ lịch sử của nhiều nước, lý thuyết phân kỳ
phát triển kinh tế không mô tả sâu những khía cạnh đặc thù của từng nước
hay từng nhóm nước, song những nhận xét khái quát chung ấy có thể xem
như những gợi ý rất có ý nghĩa đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu trong quá
trình công nghiệp hoá của những nước đang phát triển hiện nay.
1.3.2Lý thuyết nhị nguyên
Lý thuyết nhị nguyên do A. Lewis ( giải thưởng Nobel kinh tế học năm
1979 ) khởi xướng, tiếp cận vấn đề từ đời sống kinh tế của các nước đang
phát triển, ông đã có những kiến giải khá cụ thể về chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện nay. Lý thuyết nhị nguyên
cho rằng ở các nền kinh tế này có hai khu vực kinh tế song song tồn tại: khu
vực kinh tế truyền thống, chủ yếu sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế
công nghiệp hiện đại- du nhập từ bên ngoài. Khu vực truyền thống có đặc
điểm là trì trệ, năng xuất lao động thấp và dư thừa lao động. Vì thế có thể
chuyển một phần lao động từ khu vực này sang công nghiệp hiện đại mà

sẽ làm cho sản lượng nông nghiệp giảm đi,khiến cho giá cả hàng hoá nông
phẩm tiêu dùng tăng lên kéo theo mức lương tương ứng trong khu vực sản
xuất công nghiệp. Chính sự tăng lương của khu vực sẽ đặt ra giới hạn về
mức cầu tăng thêm về lao động của bản thân nó. Như vậy, mặc dù về kỹ
thuật- công nghệ khu vực công nghiệp hiện đại có thể có khả năng thu dụng
không hạn chế lao động, nhưng về mặt thu nhập và độ co giãn cung cầu
nhân lực của hai khu vực thì sức thu nạp lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp là có hạn.
Một hướng phát triển dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả
năng di chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực công nghiệp – thành thị.
Quá trình dịch chuyển lao động chỉ trôi trảy khi “ tổng cung” về lao động từ
nông nghiệp phù hợp với “ tổng cầu” ở khu vực công nghiệp. Sự di chuyển
này không chỉ phụ thuộc vào sự chênh lệch về thu nhập mà còn phụ thuộc
vào xác suất tìm được việc làm đối với nhưngx người lao động nông nghiệp.
Khi đưa thêm yếu tố “ xác suất tìm được việc làm” vào phân tích, người ta
18
thấy xuất hiện các yếu tố làm yếu đi khả năng di chuyển lao động giữa hai
khu vực như sau:
Sự năng động của bản thân khu vực công nghiệp: vè mặt này so với
công nghiệp ở các nước phát triển khu vực gọi là “ công nghiệp hiện đại” ở
các nước chậm phát triển yếu kếm hơn rất nhiều. Vì vậy, để có thể tăng
cường khả năng cạnh tranh với nền công nghiệp nước ngoài khác, vừa làm
đầu tầu lôi kéo sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thì khu vực công
nghiệp phải hướng tới những kỹ thuật cao. Nhưng những ngành này cần tăng
hàm lượng vốn đầu tư hơn là cần tăng hàm lượng lao động. Vì thế khu vực “
công nghiệp hiện đại” ở các nước chậm phát triển cũng có nghuy cơ gặp
phải vấn đề dư thừa lao động chứ không riêng gì khu vực nông nghiệp.
Khả năng đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật của người lao động khi
chuyển sang lĩnh vực công nghiệp. Về mặt này, một thực tế là người lao
động nông thôn có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động thành thị

mới giành được độc lập về chính trị trong những năm sau đại chiến thế giới
lần thứ hai. Vì thế, mô hình phát triển theo cơ cấu cân đối khép kín- mô hình
công nghiệp hoá “hướng nội” hay “thay thế nhập khẩu”- đã trở thành trào
lưu thời kỳ đó.
Tuy nhiên, thực tế đã dần cho thấy những yếu điểm rất lớn của mô hình
lý thuyết này. ở đây có hai vấn đề cần đặc biệt xem xét lại là:
Thứ nhất, việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đưa nền
kinh tế khép kín với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng những ngược với xu
hướng chung của tất thẩy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện đại là khu vực
hoá và toàn cầu hoá, mà trong lúc ngăn ngừa các tác động tiêu cực của thị
trường thế giới, đã loại bỏ cả những ảnh hưởng tích cực do bên ngoài mang
lại.
Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không đủ khả năng về nhân tài, vật
lực để có thể thực hiện những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.
Cả hai yếu tố này đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành
theo hướng công nghiệp hoá gặp khó khăn, bởi lẽ cách tiếp cận vấn đề trên
đã làm phân tán các nguồn lực phát triển rất có hại cho quốc gia, khiến cho
ngay cả việc sửa chữa lại di sản cơ cấu kinh tế què quặt của thời kỳ thuộc địa
cũ cũng bị trở ngại. Chính vì thế, sau một thời kỳ tăng trưởng các nền kinh
tế theo đuổi mô hình cơ cấu cân đối này đã nhanh chóng rơi nvào tình trạng
thiểu năng (maldevelopment).
1.3.4. Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay cực
tăng trưởng
Ngược lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân
đối nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối ( A.
Hirschman, F. Perrons, G. Destanne de Bernis ) cho rằng không thể và
không nhất thiết phải bảo đảm tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ
cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia, vơi những luận cứ chủ yếu sau:
Việc phát triển cơ cấu không cân đối gây nên áp lực, tạo ra sự kích thích
đầu tư . trong mối trương quan giữa các ngành, nếu cung bầng cầu thì sẽ triệt

tế và kỹ thuật của chúng được chia thành 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: các nước kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ
các nước phát triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công nghiệp đặc
biệt. Giai đoạn này xảy ra sự phân liệt hay phân công lao động quốc tế ngay
trong lòng các nước kếm phát triển –chuyên sản xuất một số loại sản phẩm
thủ công đặc biệt để bán và nhập khẩu hàng tiêu dùng công nghiệp khác từ
các nước công nghiệp phát triển.
Giai đoạn 2: các nước chậm phát triển nhập sản phẩm đầu tư từ các nước
công nghiệp phát triển để tự chế tạo lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng
trước đây vẫn phải nhập. Đây là giai đoạn các nước kém phát triển bắt đầu
tích luỹ tư bản ( vốn) và phỏng theo ( bắt chước ) công nghệ chế tạo từ các
21
nước công nghiệp phát triển. Ngoài việc nâng cao và mở rộng một số ngành
công nghiệp sản xuất và xuất khẩu, nhìn toàn cục, giai đoạn 2 mang dáng
dấp của mô hình công nghiệp hoá “ thay thế nhập khẩu” đối với nhiều ngành
sản xuất hàng tiêu dùng. Vì thế nhiều ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng thay thế nhập khẩu phát triển mạnh trong giai đoạn này. Song, những
điều chỉnh cơ cấu vĩ mô lại được dành ưu tiên cho các ngành công nghiệp
trợ giúp ( kết cấu hạ tầng kinh tế) cho những ngành sản xuất hàng tiêu dùng
phát triển như: điện nước và giao thông vận tải.
Giai đoạn 3: là giai đoạn mà những sản phẩm công nghiệp thay thế nhập ở
giai đoạn 2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu. Những sản phẩm đầu tư
trước đây phải nhập giờ đay có thể dần dần thay thế bằng nguồn khai thác
sản xuất trong nước. Như vậy, khoảng cách kỹ thuật giữa các nước đi sau
với các nước công nghiệp phát triển ( trước hết là trong lĩnh vực sản xuất
hàng tiêu dùng) không còn cách xa bao nhiêu. Vì vậy, mà số lượng và quy
mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng. Cơ cấu công nghiệp đã trở nên
đa dạng hơn do chỗ có nhiều khả năng hơn về kỹ thuật để lựa chọn và sử
dụng các lợi thế so sánh so với trước đây.
Giai đoạn 4: là giai đoạn việc xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng bắt

trình vận động của toàn bộ nền kinh tế nói chung, là các khía cạnh được
nhấn mạnh không giống nhau trong các kết luận rút ra. Bởi vậy mà mỗi lý
thuyết kể trên mặc nhiên được thừa nhận là có những mảnh đất hoạt động
riêng rẽ và tồn tại song hành. Song, sự phát triển của thực tế và nhận thức
cho thấy rằng sự phê phán lẫn nhau theo kiểu cái này thì đúng còn cái kia thì
sai đã tỏ ra quá đơn giản và thiếu thiên kiến. Thực ra, mỗi lý thuyết đều bao
hàm trong nó những mặt mạnh và mặt yếu nhất định. Vấn đề là ở chỗ, khi
xem xét chúng, phải đứng trong logic của mỗi loại lý thuyết mà không được
bỏ qua đối tượng cũng như phương pháp mổ xẻ vấn đề.
2.Một số mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta đều biết rằng chuyển đổi cơ cấu là một đặc trưng vốn có của quá
trình phát triển kinh tế dài hạn. Một nền kinh tế có cơ cấu linh hoạt sẽ đạt
được một sự phát triển nhanh chóng đó là một nền kinh tế mà trong đó mục
tiêu và công cụ được điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với sự
thay đổi của giới hạn và cơ hội kinh doanh. Nghĩa là bao gồm sự linh hoạt
về cơ cấu thể chế của hệ thống kinh tế-xã hội, sự linh hoạt của Chính phủ
trong việc điều chỉnh chính sách khi điều kiện thay đổi.
Điều kiện để có một nền kinh tế linh hoạt là: sự tồn tại của một hệ thống
thông tin và khuyến khích có hiệu quả; có khả năng tiếp nhận sự thay đổi
hoặc phản ứng đối với các tín hiệu kinh tế của mọi người và vai trò quan
trọng của Chính phủ trong việc sắp xếp xử lý thông tin; có khả năng thích
nghi, mở cửa và phát triển.
2.1.Chuyển dịch cơ cấu theo hướng kết hợp khai thác nguồn nội lực với
mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài.
Mô hình chung nhất cảu hầu hết các nước trên thế giới là một nền kinh
tế năng động: công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối giữa các
ngành; phát triển hệ thống tài chính, tăng cường các mối quan hệ tài chính
nhằm khuyến khích đạt tỷ lệ đầu tư cao: vai trò quan trọng của Chính phủ
23
trong việc hoạch định chính sách điều chỉnh, có khả năng đối phó với những

Thúc đẩy việc hình thành tư bản bằng cách tăng cung về các nguồn
lực có thể đầu tư được, thúc đẩy năng suất hiệu quả đầu tư, tạo điều kiện cho
đa dạng hoá đầu tư thông qua việc đa dạng hoá các công cụ tài chính; đáp
ứng nhu cầu của người tiết kiệm và các nhà đầu tư về mức độ rủi ro và lợi
nhuận.
Gây áp lực để buộc các nhà đầu tư phải sử dụng các nguồn lực nhằm
thu được lợi nhuận tối đa đểm trả nợ và giữ được chữ tín để tiếp tục vay.
24
Cung cấp một hệ thống thanh toán có hiệu quả và an toàn hơn, giảm
rủi ro và các chi phí của các giao dịch tài chính.
Như vậy khu vực tài chính hoạt động tốt sẽ thúc đấy gia tăng đầu tư với
tỷ xuất lợi nhâun khả quan nhất và chi phí giao dịch thấp nhất. Điều quan
trọng là nó có thể khuyến khích tính linh hoạt kinh tế bằng cách:
Tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ tạo một môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định và cân đối. Cụ thể là bằng cách tăng tỷ lệ giao dịch thông qua
ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian khác để làm tăng khả năng
phản ứng của nền kinh tế đối với các biến số tiền tệ.
Tăng khả năng điều chỉnh nhu cầu về tiền tệ thông qua chính sách lãi
xuất và các chính sách khác, cải thiện cơ sở thể chế, kiểm soát cung ứng tiền
tệ thông qua các giao dịch trên thị trường mở.
Vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước:
Chúng ta đều biết rằng một Nhà nước hoạt động có hiệu quả sẽ tạo ra
những thàn phần có tính chất sống còn cho sự phát triển. Một lựa chọn tốt
nhất là thị trường phải được phát triển trong sự vận hành của Nhà nước với
một nền móng của sự hợp pháp và một môi trường chính sách lành mạnh và
ổn định cộng thêm một số dịch vụ xã hội cơ bản. Chính phủ là cơ quan hành
chính sự nghiệp cao nhất của hệ thống hành chính Nhà nước sẽ phải tìm
được sự tương xứng đúng đắn giữ vai trò và năng lực của những chính sách
tới kết quả của sự phát triển. Đó là việc điều tiết, tự do hoá và những chính
sách công nghiệp được lập ra để khuyến khích thị trường và xã hội: tạo cơ

nguồn lực được phân bổ thông qua các tín hiệu thị trường. Ngoài ra, môi
trường, chính sách cũng quan trọng đối với những mặt khác như khả năng
duy trì sự ổn định hợp lý về kinh tế vĩ mô của Chính phủ, tránh tình trạng
lạm phát nhanh, thất nghiệp với quy mô lớn do giảm phát và thâm hụt lớn về
cán cân thanh toán Nó cũng tạo ra sự bền vững và khả năng dự báo tác
dụng của những khuyến khích góp phần thúc đẩy đầu tư dài hạn và phản ửng
của giá cả, những yếu tố rất quan trọng có khả năng thích ứng với nền kinh
tế.
2.2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình hướng ngoại
Mô hình hướng ngoại là mô hình với chính sách chuyển dịch cơ cấu
đưa nên kinh tế phát triển theo hướng mở cửa nhiều hơn có thể thúc đẩy
thương mại và các luồng tư bản đổ vào, khuyến khích lợi nhuận giữa việc
sản xuất ở thị trường trong nước hay thị trường nước ngoài, tạo ra khả năng
sinh lãi cao trong việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
Có hai loại hình của chiến lược kinh tế mở cửa đó là:
Tạo ra các khuyến khích về giá cả một cách tích cực theo hướng có
lợi cho xuất khẩu ( chẳn hạn thông qua trợ cấp xuất khẩu).
Tạo ra sự trung lập thích hợp về giá cả giữa sản xuất cho thị trường
trong nước và thị trường ngoài nước. Tức là chuyển các khuyến khích có lợi
cho sự mở cửa.
Đặc điểm của chính sách hướng ngoại ban đầu ở nhiều nước đang phát
triển là hướng vào xuất khẩu những loại hàng nông sản truyền thống và thực
hiện chính sách thuế nhập khẩu vừa phải để tăng nguồn thu cho Chính phủ
nâng cao cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho xuất khẩu. Mô hình này được thực hiện
với các chính sách thương mại thiên về ủng hộ sự thay thế nhập khẩu tạo

Trích đoạn III.ĐÁNH GIÁ CHUNG SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1 Những thành tựu đạt được
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status