THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
CỦA TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1995- 1999
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ NAM ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ cấu nền kinh tế nói
chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng. Chính vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế
của tỉnh Hà Nam thì trước hết phải xem xét những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội
đem lại.
1- Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà nội gần 60 km về phía
nam, tương lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô. Tỉnh Hà nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến
giao thông chính quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Bắc- Nam. Trong tương lai khi tuyến hành lang kinh tế
đường 21 nối Sơn Tây- Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hưng Yên, tuyến xa lộ Bắc
Nam được xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lưu hợp tác giữa Hà nam và các trung tâm kinh tế lớn
trong cả nước. Không chỉ có lợi thế về tuyến đường bộ, đường sắt, tỉnh Hà nam còn có một hệ thống đường
thuỷ vô cùng tiện lợi. Các con sông lớn chảy qua tỉnh bao gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và sông Nhuệ
không những tạo thuận lợi cho giao thông đường thuỷ mà còn đắc lực phục vụ tưới tiêu thuỷ lợi cho phát
triển nông nghiệp.
Tỉnh Hà nam nằm giáp với các tỉnh Hà Tây ở phía Bắc, Hưng Yên, Thái Bình ở phía Đông, Nam Định ỏ
phía Đông Nam, Ninh Bình ở phía Nam và Hoà Bình ở phía Tây. Nhìn chung các tỉnh này có cầu rất lớn về xi
măng, đá, vật liệu xây dựng,... mà không có điều kiện sản xuất. Hà nam có thể đáp ứng và tận dụng thị
trường rộng lớn này để đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh nhà.
Hà nam nằm tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Tình hình
đó đã đặt Hà nam vào vị trí đối đầu và cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi tỉnh phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế để phát triển kinh tế sánh ngang với các tỉnh khác trong khu vực.
Về Địa hình, khí hậu, thuỷ văn, Tỉnh Hà nam có quy mô tương đối nhỏ với diện tích đất tự nhiên là
84.000 ha, có 6 đơn vị hành chính gồm 5 huyện là Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình Lục và
một thị xã Phủ Lý với 114 xã, phường, thị trấn.
Về cấu tạo địa hình, tỉnh Hà nam được chia thành hai vùng chính, vùng đồi núi phía Tây có nhiều đá
vôi đầy tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp hoá chất, bên cạnh đó vùng đồng
bằng ven sông Hồng và sông Châu có đất đai màu mỡ thích hợp với phát triển nền nông nghiệp đa dạng,
lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Hà nam có các di vật khảo cổ như trống đồng, công cụ bằng
đồng, các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc mang dấu ấn của thời đại lịch sử. Hà nam có đền Trần Thương ở
Lý Nhân thờ Đức Thánh Trần, đình thờ Lê Đại Hành ở Thanh Liêm, đền Lảnh ở Duy Tiên, chùa Bà Đanh, Ngũ
Động Sơn ở Kim Bảng, chùa Tiên, Kẽm Trống ở Thanh Liêm, đền thờ Nguyễn Khuyến ở Bình Lục, vườn tưởng
niệm nhà văn Nam Cao ở Lý Nhân,..Hơn nữa, Hà nam là một vùng quê giàu các lễ hội dân gian tuyền thống,
với 56 lễ hội được tổ chức trong năm trong đó có 20 lễ hội mang di tích lịch sử, 16 lễ hội mang tính tín
ngưỡng và 20 lễ hội mang tính lễ tục dân gian.
Các nguồn tài nguyên du lịch của Hà nam được phân bố tương đối tập trung lại nằm trong khu vực
nối với các vùng phụ cận như chùa Hương, Hoa Lư, Tam Cốc Bích Động, rừng quốc gia Cúc Phương, Hải
Phòng, Quảng Ninh,...đây là một điểm thuận lợi để hình thành những cụm du lịch lớn có sức thu hút khách
cao.
Tóm lại, Hà nam có một điều kiện khá thuận lợi cả về vị trí địa lý, địa hình, thuỷ văn và tài nguyên để
có thể đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
2- Đặc điểm kinh tế- xã hội.
Hà nam là một tỉnh mới được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997. Với khoảng thời
gian ngắn lại phải trải qua nhiều khó khăn thử thách do mới chia tách, nhưng tỉnh đã nỗ lực phấn đấu thực
hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, tập trung khắc phục
những khó khăn to lớn của một tỉnh mới chia tách, góp phần làm cho tình hình kinh tế -xã hội của tỉnh có
những chuyển biến tiến bộ trên một số mặt và đang đi vào thế ổn định. Nền kinh tế tăng trưởng khá, GDP
giao thời tách tỉnh 1996-1998 tăng bình quân 7,4%/năm ( cả nước tăng 8,5%/ năm trong cùng thời kỳ).
Hiện nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Nam là 14,34% và dự kiến năm 2000 là 10,85%. GDP/người đã đạt
2.685 nghìn đồng/ người và dự kiến đến năm 2000 đạt 3.000 nghìn đồng/ người theo giá so sánh năm 1994.
Do nền kinh tế tăng trưởng khá, thực hiện tốt các chương trình xoá đói giảm nghèo, khuyến khích cá
nhân và gia đình sản xuất kinh doanh giỏi nên đời sống của các tầng lớp dân cư ngày càng được cải thiện. Tỷ
lệ hộ đói nghèo giảm chỉ còn 11% năm 1999. Các chương trình văn hoá, giáo dục, y tế được triển khai góp
phần quan trọng thúc đẩy các mặt hoạt động xã hội phát triển lành mạnh. Hà nam là một tỉnh dẫn đầu về
phổ cập giáo dục tiểu học, các cơ sở y tế được nâng cấp, y tá, bác sỹ được bổ sung, an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội được giữ vững và tăng cường, các tệ nạn xã hội ngày càng giảm.
Tuy nhiên nền kinh tế Hà nam vẫn còn mang tính thuần nông, nông nghiệp chiếm 44% GDP, công
1- Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hà nam giai đoạn 1995-1999.
Kinh tế Hà nam sau 3 năm tái lập đã có sự chuyển biến rõ nét. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
mỗi năm thời kỳ 1995-1999 là 10,71%, cao hơn tốc độ tăng bình quân của cả nước(7,74%). Các số liệu dưới
đây chứng tỏ điều đó.
Biểu 1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà nam so với cả nước.
Đơn vị : %
Tốc độ tăng GDP 1995 1996 1997 1998 1999
Cả nước 9,94 9,34 8,80 5,80 4,80
Hà nam 20,0 4,0 9,15 9,06 11,34
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Như vậy trong 3 năm 1997, 1998, 1999 tốc độ tăng trưởng GDP của Hà nam đều vượt cao hơn so với
cả nước, nhất là vào năm 1999.
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì GDP bình quân đầu người cũng tăng khá: 2,77% năm 1996 7,97%
năm 1997, 7,82% năm 1998 và 10,02% năm 1999, bình quân thời kỳ 1996-1999 mỗi năm tăng 7,1%, nếu tính giá
thực tế thì GDP bình quân đầu người thời kỳ 1995-1999 là 2223 nghìn đồng VN/ năm tương đương 158,8 USD.
Tuy GDP bình quân đầu người của Hà nam tăng qua các năm nhưng còn ở mức thấp, chỉ bằng 60% so
với cả nước và 57,7% so với vùng đồng bằng sông Hồng. Hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm
qua cao, chủ yếu là do nhà nước tập trung xây dựng khu trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh mới, đồng thời
từ quý III năm 1998, công ty xi măng Bút Sơn đã đi vào sản xuất, giá trị tăng thêm của công ty năm 1998
khoảng 24 tỷ đồng, năm 1999 khoảng 139 tỷ đồng. Nếu không tính đến phần giá trị tăng thêm này thì tốc độ
tăng trưởng kinh tế năm 1998 và 1999 cuả tỉnh chỉ đạt khoảng 7% và 3,9%.
Trong thời gian qua, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam theo các hướng sau:
Đối với công nghiệp, đầu tư vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao, tạo giá trị lớn, có thị
trường tiêu thụ và đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Ưu tiên những ngành nghề khai thác được tiềm năng tài
nguyên, tạo ra nguyên liệu và sản phẩm phong phú, giải quyết được nhiều việc làm cho dân.
Đối với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép đảm bảo an toàn lương thực và
tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá.
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thương mại, đẩy nhanh hoạt động xuất khẩu của tỉnh, phát triển
du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loại hình dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, thông tin
tỉnh.
Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP giai đoạn 1995-1999 có sự thay đổi không đáng kể từ
31,1% năm 1995 xuống còn 30,43% năm 1999. Điều này không có nghĩa là ngành này không tăng trưởng,
trái lại GDP của ngành này liên tục tăng mạnh qua các năm nhất là hoạt động thương mại và các dịch vụ
vận tải, khách sạn nhà hàng, bưu chính viễn thông,...Bởi vì cùng với sự đi lên của các ngành công nghiệp thì
các ngành thuộc khối dịch vụ cũng có bước phát triển theo và nó sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Tóm lại, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh thời kỳ 1995-1999 có sự chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Sau 5 năm tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ tăng 8,61% . Đây là xu hướng tích cực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy, cơ cấu ngành
kinh tế của tỉnh Hà nam năm 1999 vẫn là cơ cấu Nông nghiệp- Công nghiệp- Dịch vụ.
Thứ hai, trong cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tư.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên lãnh thổ tỉnh phần lớn là nguồn vốn tín dụng, bình quân
thời kỳ 1995-1999 là 59,2% tổng vốn đầu tư. Số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ,
bình quân cả thời kỳ 1995-1999 khoảng 20,8% tổng vốn đầu tư. Phần vốn do dân đóng góp chiếm 15,7%.
Việc huy động và sử dụng vốn qua các năm tương đối phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh. Nguồn vốn từ ngân sách và nhân dân đóng góp chủ yếu sử dụng vào việc cải tạo, nâng cấp và xây
dựng mới kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông vận tải, bưu điện thông tin, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi
công cộng, trụ sở làm việc, các sở ban ngành...Nguồn vốn tín dụng chủ yếu đầu tư vào khu vực sản xuất công
nghiệp, xây dựng.
Vốn đầu tư là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó đảm bảo cho khai thác lợi thế áp dụng
khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ. Đi liền với sự chuyển dịch cơ cấu ngành thì cơ cấu vốn đầu tư
cũng có sự thay đổi tương ứng.
Biểu 3. Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà nam
giai đoạn 1995-1999.
Đơn vị : %.
1995 1996 1997 1998 1999 Tỷ trọng BQ 95-99
Tổng vốn đầu tư 100 100 100 100 100 100
1.Công nghiệp 62,11 69,48 69,46 70,54 47,23 63,76
2.Nông nghiệp 4,95 4,75 6,57 10,65 21,33 9,65
3.Dịch vụ 32,94 25,77 23,97 18,81 31,44 26,59