Mục lục
Lời nói đầu
ch ơng I :
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý nợ nớc
ngoài.
I/ khái niệm và phân nợ nớc ngoài
1. Khái niệm nợ nớc ngoài
2. Phân loại nợ nớc ngoài
2.1 Nợ nớc ngoài của Chính phủ
2.2 Nợ nớc ngoài của doanh nghiệp
II/ Tính tất yếu của việc vay nợ nớc ngoài và sự cần
thiết tăng cờng quản lý hoạt động vay, trả nợ nớc
ngoài
1. Tính tất yếu của việc vay nợ nớc ngoài
2. Sự cần thiết tăng cờng quản lý hoạt động vay, trả nợ nớc
ngoài
III/ Mục tiêu quản lý vay nợ trong thời gian tới
IV/ Kinh nghiệm vay nợ của một số nớc trên thế giới
1. Kinh nghiệm của Hàn quốc
2. Kinh nghiệm của Mêhicô
3. Kinh nghiệm của Thái lan
ch ơng II:
Thực trạng quản lý vay, trả nợ nớc ngoài
của Chính phủ trong thời gian qua
I/ Quan hệ tín dụng của Việt Nam với các Tổ chức Tài
chính Quốc tế
1.Quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ tín dụng của
Việt Nam với các Tổ chức Tài chính Quốc tế
2. Khái quát cơ chế tín dụng của các Tổ chức Tài chính Quốc
tế
2.1. Thủ tục giải ngân (rút vôn)
2. Đối với cơ chế hạch toán
3. Thành lập Hội đồng quản lý nợ nớc ngoài
II/ Một số kiến nghị
Kết luận
Phụ lục
Danh mục tài liệu tham khảo
2
Lời nói đầu
Trong bối cảnh của các nớc đang phát triển và các nớc chậm phát triển,
muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu nhằm đạt tới mục
tiêu tăng trởng dự kiếnthì nhu cầu vốn đầu t luôn là sự mâu thuẫn giữa khả
năng tích luỹ có hạn với yêu cầu đầu t lại lớn. Do vậy việc huy động vốn vay
nớc ngoài là vấn đề tất yếu.
Đối với Việt Nam chúng ta, để đạt đợc mục tiêu dân giầu, nớc mạnh, xã
hội công bằng, văn minh mà Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra, bằng con đờng duy
nhất là thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc. Trong hoàn
cảnh là một quốc gia đợc xếp vào nhóm các nớc nghèo nhất trên thế giới bởi
kết quả của một cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ dành độc lập, tự do cho đất
nớc thì sự bất cập giữa yêu cầu đầu t với khả năng tích luỹ là điều dễ thấy.
Mặc dù những năm qua khi bớc vào giai đoạn phát triển kinh tế nhằm nhanh
chóng hoà nhập với các nớc trong khu vực, quan điểm phát huy tối đa nội lực
của Đảng và Nhà nớc ta cũng không thể đáp ứng đợc yêu cầu đầu t cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Do vậy nguồn vốn vay nợ nớc ngoài
(mà chủ yếu là các khoản vay của Chính phủ) tuy không là yếu tố quyết định
song là cần thiết nh Đảng và Nhà nớc ta đã xác định là quan trọng.
Ngân hàng Nhà nớc tuy không trực tiếp quản lý chính với các khoản
vay của Chính phủ nhng với vai trò của Ngân hàng Nhà nớc trong quản lý vay
nợ của Chính phủ nh hiện naylà điều cha hợp lý. Trên phạm vi rộng, công tác
vay và trả nợ nớc ngoài hiện nay còn rất nhiều những vấn đề mà chúng ta cần
quan tâm. Chỉ xét riêng dới góc độ là Ngân hàng Nhà nớc, cơ chế vay và trả
vay có trách nhiệm và ràng buộc phải trả, thanh toán cho một hay nhiều quốc
gia khác hay có thể là các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, các doanh
nghiệp, t nhân nớc ngoài. Gần đây một nhóm tổ chức quốc tế nghiên cứu
thống kê nợ nớc ngoài bao gồm đại diện của Ngân hàng Thanh toán quốc tế
(BIS), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã thoả thuận và đa ra một định nghĩa
chung về nợ nớc ngoài nh sau:
Nợ nớc ngoài tính gộp tại một thời điểm nhất định tơng ứng với hạn
mức cam kết hợp đồng đang có hiệu lực và đã tạo ra việc ngời c trú của một n-
ớc chuyển vốn cho ngời không c trú bao gồm nghĩa vụ phải trả lại gốc cùng
với lãi
ở Việt nam, Nghi định 58/ CP ban hành ngày 30/8/1998 thống nhất một
số khái niệm sau :
- Vay nớc ngoài là những khoản vay ngắn, trung hoặc dài ( có lãi hoặc
không có lãi ) các khoản bảo lãnh và các hình thức vay khác nh việc thỏa
thuận hoãn nợ hoặc các hình thức vay mới trả cũ với các chủ nợ nớc ngoài .
-Vay nớc ngoài của Chính phủ là các khoản vay do Chính phủ vay và
cam kết thực hiện nghĩa vụ với nớc ngoài hoặc các khoản vay do Chính phủ uỷ
quền cho các doanh nghiệp vay hộ, đợc Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Nhà nớc
bảo lãnh.
*Khái niệm chủ nợ và con nợ .
Chủ nợ (hay nói cách khác là bên cho vay) là các tổ chức Tài chính (nh
Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB ...), các chính phủ hay các
Ngân hàng Thơng mại, các Công ty, t nhân cho một quốc gia nào đó cho vay
theo những thoả thuận ( nh về thời hạn trả, về lãi suất...) nhất định. Ngợc lại,
5
một Chính phủ hay một doanh nghiệp của một quốc gia đi vay các tổ chức Tổ
chức Tài chính Quốc tế, các quốc gia khác theo những thoả thuận nhất định thì
gọi là con nợ (hay còn gọi là bên vay).
2/ Phân loại nợ nớc ngoài.
duyệt.Trong trờng hợp nguồn vốn vay bằng hàng hoá thì căn cứ vào các hợp
6
đồng, hiệp định đã ký với nớc ngoài, Bộ Tài chính cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nớc, Bộ Thơng mại và Bộ ngành chủ quản xem xét để giao cho các đơn vị đầu
mối đứng ra nhập hàng, bán và nộp tiền vào Ngân sách Nhà nớc.
Ngoài ra còn hình thức vốn vay nớc ngoài của các doanh nghiệp không
đợc Chính phủ uỷ quyền nhng đợc Chính phủ bảo lãnh (việc bảo lãnh vốn
vay nớc ngoài của các doanh nghiệp đợc thực hiện theo quy chế bảo lãnh vốn
vay nớc ngoài của Chính phủ). Trờng hợp vay cho đầu t xây dựng cơ bản (trừ
vốn góp liên doanh), doanh nghiệp phải tuân thủ theo trình tự lập và xét duyệt
dự án đầu t xây dựng cơ bản hiện hành.
Mọi khoản vay nớc ngoài của Chính phủ, bao gồm trực tiếp vay, uỷ
quyền cho các doanh nghiệp vay hộ v.v... đều phải đợc quản lý thông qua hạn
mức vay nợ nớc ngoài của Chính phủ.
Kế hoạch tổng hạn mức vay nợ nớc ngoài hàng năm đợc xây dựng trên
cơ sở nhu cầu thực tế về sử dụng vốn vay nớc ngoài trong năm kế hoạch đợc
xây dựng trên các căn cứ chủ yếu sau đây:
- Căn cứ vào số vốn vay cho các dự án đã đợc ký kết trong các hợp
đồng, hiệp định vay vốn với nớc ngoài do Chính phủ ký kết hay uỷ quyền cho
các doanh nghiệp ký kết hay có sự bảo lãnh của Chính phủ.
- Căn cứ vào nhu cầu vốn vay nớc ngoài cho các dự án đầu t xây dựng
cơ bản dự kiến bắt đầu thực hiện từ năm kế hoạch đã có đối tác nớc ngoài nh-
ng cha ký kết đợc hợp đồng ngay.
- Cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nớc năm kế hoạch và các dự kiến nhu
cầu vay vốn nớc ngoài để bù đắp thiếu hụt ngân sách;
- Và cuối cùng là căn cứ vào khả năng trả nợ nớc ngoài trong năm kế
hoạch đợc Bộ Tài chính xem xét.
2.2 Nợ n ớc ngoài của doanh nghiệp d ới hình thức tự vay tự trả .
Nợ nớc ngoài chủ yếu là nợ của Chính phủ tức là các khoản do Chính
phủ vay và cam kết thực hiện nghĩa vụ với nớc ngoài hoặc các khoản vay
trong bối cảnh của các nớc đang phát triển và các nớc chậm phát triển muốn
nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu nhằm đạt tới mục tiêu
tăng trởng dự kiến thì nhu cầu vốn đầu t luôn là một vấn đề nan giải bởi nó
luôn là sự mâu thuẫn bất cập giữa khả năng tích luỹ có hạn với nhu cầu đầu t
lại lớn. Do vậy, việc huy động vốn nớc ngoài là một vấn đề tất yếu.
Đối với Việt nam, chúng ta thực hiện phát triển kinh tế trong điều kiện
từ một đất nớc vừa thoát khỏi hàng chục năm chiến tranh liên miên và trong
thế bị bao vây cấm vận của Hoa Kỳ, cùng với một nền kinh tế đặc trng nông
nghiệp lạc hậu vào loại nghèo nhất thế giới. Do vậy, thực hiên công nghiệp
hóa, hiện đại hoá là giải pháp duy nhất để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự
nghèo đói, đồng thời công nghiệp hóa, hiện đại hoá cũng là mục tiêu duy nhất
8
của Đảng và Nhà nớc ta để đa nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng hoà nhập
với nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực, là cơ sở để thực hiện dân giàu n-
ớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Để đạt đợc các chỉ tiêu phát triển kinh tế theo định hớng phát triển kinh
tế - xã hôi trong giai đoạn 2001-2005 là tăng gấp đôi GDP so với năm 1995 và
tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân 9-10 % thì chúng ta cần một lợng vốn đầu
t khoảng 40-42 tỷ USD, trong khi đó khả năng đáp ứng vốn từ nền kinh tế
trong nớc theo quy hoạch đầu t đạt khoảng 45 % (xấp xỉ 20 tỷ USD). Vậy số
thiếu hụt lấy từ đâu? Một câu hỏi không dễ trả lời, nhng chắc chắn phải là
nguồn vốn từ bên ngoài thông qua hoạt động vay nợ.
2/ Sự cần thiết tăng cờng quản lý hoạt động vay, trả nợ nớc ngoài.
Để hiểu rõ đợc vấn đề, trớc hết chúng ta hãy xét thực trạng nợ nớc ngoài
của Việt Nam :
Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến 31/12/2001, nợ nớc ngoài của
Việt Nam bằng ngoại tệ chuyển đổi là 3,6 tỷ đô -la Mỹ và hơn 10 tỷ đồng rúp
chuyển nhợng, chiếm 50 % GDP, trong đó 1/3 số nợ của Chính phủ do hậu
quả từ thời cơ chế bao cấp để lại. Xét về số tuyệt đối, đây là con số không lớn
nhng là không nhỏ so với thu nhập quốc dân và điều kiện kinh tế của nớc ta.
lệ tích lũy của Việt Nam khá thấp, nhng điều đó có thể do nguyên nhân chủ
yếu do sự khác biệt về thu nhập. Tỷ lệ tích lũy của Việt Nam đã đợc nâng lên
trong suốt thập kỷ vừa qua,nhng nỗ lực sẽ hết sức cần thiết để ngăn chặn
khuynh hớng giảm gần đây và phục hồi tỷ lệ tăng trởng tích lũy nhanh, nhằm
đạt đợc mức tăng tỷ lệ tích lũy dự kiến là 20 % GDP vào năm 2005.
Mặc dù tích lũy trong nớc tăng đáng kể, nhu cầu tài trợ từ bên ngoài của
Việt Nam vẫn lớn (Biểu 1). Trong năm 2003, Ngân hàng Thế giới dự tính nhu
cầu tài chính bên ngoài là 3,7 tỷ đô -la Mỹ. Với mức tổng d nợ nớc ngoài cao
và khả năng trả nợ nớc ngoài của Việt Nam trong trung hạn vẫn còn hạn chế,
phần lớn nhu cầu tái chính bên ngoài này cần phải ở dới dạng tài trợ với điều
kiện u đãI, và cả nguồn vốn FDI nữa.
10
Biểu 2. Nhu cầu tài trợ từ bên ngoài và nguồn.
(Tỷ đô-la Mỹ)
Thực
2001
Ước
tính
2002 2003
Dự
2004
báo
2005 2005-2010
TB năm
Nhu cầu tài trợ
Thâm hụt cán cân vãnglai 2,6 2,5 2,6 2,9 2,1 3,7
Khấu trừ nợ chính thức
trung và dài hạn
0,9 0,5 0,6 0,8 0,8 1,0
Những khoản khác (ròng) -0,3 - - - - -
năm 2002. Những nhu cầu này rất đáng kể và cần thiết ở Việt Nam. Khoảng
50 % dân số vẫnsống dới mức nghèo khó và không có đủ các dịch vụ xã hội
quan trọng trong khi chất lợng các dịch vụ lại yếu kém. Khoảng 40 % dân số
có nớc sạch trong khi các dịch vụ y tế chỉ phục đợc 21% dân số. Những chứng
cứ về các chỉ tiêu trong các lĩnh vực y tế đã bị xấu đi từ thập kỷ 80 chothấy
những thành quả về dịch vụ y tế mà Việt Nam đã bị đảo ngợc. Mặc dù chi phí
của khu vực t nhân trong lĩnh vực y tế là nguồn lớn nhất để tài trợ cho lĩnh vực
này ,cần phải tăngthem chi phí công cộng trong lĩnh vực y tế để cải thiện chất
lợng dịch vụ y tế công cộng và đáp ứng đợc nhu cầu của ngời nghèo khó.
Trong lĩnh vực giáo dục, Việt Nam đã đạt đợc mức học sinh đến trờng đáng
khâm phục so với mức thu nhập hiện nay. Tuy nhiên, giáo dục và chất lợng
cần đợc cải thiện hơn nữa để có thể cung cấp đợc lao động và tay nghề cần
thiết cho sự tăng trởng nhanh. Về cơ sở hạ tầng kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng
nông thôn còn thấp và cải thiện hệ thống này rất cần thiết cho sự tăng trởng
chung và cho sự phát triển nông thôn. Nhu cầu năng lực cũng rất cao và sẽ
tăng nhanh cùng với sự tăng trởng : nhu cầu về điện đợc dự đoán tăng từ 14
đến 16 %mỗi năm trong thập niên sắp tới. Dự đoán cần 5 %của GDP để đầu t
vào lĩnh vực năng lực để có thể đáp ứng nhu cầu này .
Nh vậy, trong những năm tới, tín dụng nớc ngoài của Việt Nam ngày
càng phát triển, vì vậy cần thiết phải quản lý nợ nớc ngoài một cách có hiệu
quả và phải tăng cờng hơn nữa vai trò hệ thống quản lý vay nợ nớc ngoài nói
chung và vai trò của Ngân hàng Nhà nớc với t cách là Ngân hàng Trung ơng
nói riêng vì những lý do sau:
Thứ nhất, nợ nớc ngoài tác động mạnh mẽ tới sự tăng trởng theo hai h-
ớng tích cực hoặc tiêu cực tùy thuộc vào việc quản lý những khoản nợ vay nớc
ngoài hiệu quả hay không:
Trong sự phát triển của các nớc đi sau việc tìm kiếm các nguồn vốn n-
ớc ngoài để phát triển kinh tế bổ sung cho nguồn tích lũy trong nớc là sự cần
thiết khách quan. Nó không những chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn tài chính
để chi trả các khoản đầu t phát triển mà nếu quản lý tốt thì sẽ kéo theo sự
nợ tăng lên nhanh chóng.Thực tế, vấn đề nợ trở nên gay gắt không chỉ đơn
giản là do tổng số nợ tăng lên mà chủ yếu là do tỷ lệ dịch vụ trả nợ tăng lên,
phản ánh tỷ lệ xuất khẩu không tăng lên tơng ứng với nguồn vốn nớc ngoài
đa vào, trong trờng hợp đó các nớc cho vay không muốn cho vay thêm.
Nh vậy, các khoản vay nợ nớc ngoài tác động mạnh mẽ tới sự tăng tr-
ởng và phát triển của nền kinh tế . Đó làmột lý do tại sao phải tăng cờng quản
lý các khoản vay nợ nớc ngoài .
Thứ hai, nhìn chung vay nớc ngoài nhàm tạo ra nguồn vốn ( bằng
ngoại tệ hay hàng hoá) bổ sung đáp ứngnhu cầu trogn nớc song thực chất vay
nớc ngoài là việc sử dụng có điều kiện các nguồn vốn tín dụng nớc ngoài ,
bởi vậy nguồn vốn này tác động trực tiếp tới hoạt động tài chính, tiền tệ, thị tr-
ờng hàng hoá và cán cân thanh toán quốc tế thông qua mối quan hệ qua lại
giữa lãi suất, tỷ giá, chính sách tài chính quốc gia với vay nợ nớc ngoài. Do
vậy, cần thiết có sự tham gia của Ngân hàng Nhà nớc trong quản lý vay nợ n-
13
ớc ngoài nhằm kiểm soát luồng vốn ngoại tệ vào, ra khỏi Việt Nam, lập cán
cân thanh toán quốc tế, nghiên cứu ảnh hởng của nguồn vốn vay nớc ngoài
đến tỷ giá, cung ứng tiền ...để điều hành chính sách tiền tệ, góp phần hoạch
định và thực hiện chiến lợc vay và trả nợ nớc ngoài , tìm kiếm và khai thác các
nguồn vốn vay u đãi.
Thứ ba, trớc thời gian các nớc Đông âu và Liên Xô cũ tan rã chúng ta
đã nhận đợc một lợng lớn nguồn viện trợ từ nớc ngoài (chủ yếu là các nớc
thuộc khối Xã hộị Chủ nghĩa) .Trong năm 2001 và năm 2002, nguồn viện trợ
không hoàn lại chính thức của chúng ta là 0,2 tỷ đô-la Mỹ, chiếm khoảng 5 %
tổng số nguồn tài trợ mỗi năm. Theo dự báo của các chuyên gia Ngân hàng
Nhà nớc và Ngân hàng Thế giới, trong những năm tới nguồn viện trợ này về trị
số tuyệt đối vẫn giữ ở mức 0,2 tỷ đô-la Mỹ (theo biểu 2) song các nguồn này
sẽ giảm một cách tơng đối ( khoảng 4 % mỗi năm trên tổng số nguồn tài trợ từ
4 đến 5 tỷ đô-la Mỹ ). Đối với các nguồn viện trợ chính thức này, chúng ta sử
dụng chúng nh là một nguồn vốn trong nớc mà không phải bận tâm về việc
chiếm tới 10 % tổng số thu về xuất khẩu. Trong bối cảnh nên kinh tế Việt
Nam hiện nay còn rất thiếu vốn để mở rộng và đầu t chiều sâu cho sản xuất thì
vấn đề này càng trở nên quan trọng.
Khi một đất nớc có nền kinh tế đang phát triển thì nhu cầu đầu t vào
sản xuất sẽ rất cao nhằm tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống của ngời
dân. Song quốc gia đó có những khoản nợ tồn đọng đang phải trả hay nợ
chồng chất thì buộc họ phải trích từ thu nhập quốc dân để trả nợ . Điều này
làm giảm khả năng nhập khẩu đồng thời hoạt động xuất khẩu cũng bị hạn chế,
hàng trong nớc không đợc bảo vệ trớc sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu
thất nghiệp gia tăng và cán cân thơng mại mất cân đối nghiêm trọng ...
Nợ nớc ngoài nhiều hay ít không phải là tiêu chuẩn để đánh giá một
nớc giầu hay nghèo. Nó tác động đến sự tăng trởng kinh tế trong nớc , đến mối
quan hệ tín dụng ngoại thơn, đến cán cân thanh toán ,tỷ giá và lạm phát, làm
ảnh hởng tới việc thực thi chính sách tiền tệ và góp phần quyết định chính
sách kinh tế đối ngoại. Với tầm quan trọng nh vậy nợ và trả nợ phải đợc quản
lý chặt chẽ hơn nữa cơ chế cần phải chỉnh sửa cho phù hợp với chức năng của
các cơ quan chủ quản.
Thứ năm, thực trạng hệ thống quản lý vĩ mô (về cơ chế, chính sách
quản lý ...) nợ nớc ngoài của Việt Nam còn rất yếu kém cha đáp ứng đợc yêu
cầu của hệ thống quản lý có hiệu quả. Thêm vào đó, cho đến nay chúng ta vẫn
cha có một cơ quan nào đứng ra thống nhất quản lý vay và trả nợ nớc ngoài .
Sự phối hợp của các cơ quan còn cha đúng chức năng, chồng chéo hoặc thiếu
sự chặt chẽ và đồng bộ. Xét trong tổng thể kinh tế vĩ mô, hoạt động vay nợ
phải hớng theo các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và có khả năng tác động
tới mọi lĩnh vực của đời sống. Bởi vậy, tăng cờng vai trò của Ngân hàng Nhà
nớc trong công tác quản lý nợ nớc ngoài nói chung và nợ nớc ngoài của
Chính phủ nói riêng là vấn đề hết sức cần thiết.
III/ Mục tiêu của quản lý vay nợ trong thời gian tới.
Về cơ bản, mục tiêu của hoạt động vay nợ của Việt Nam trong thời gian
tới phải phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tổng thể hay nói cách
Trong hai cuộc hội thảo lớn tại các nớc Châu á và Thái Bình Dơng do tổ
chức ES (hội đồng kinh tế xã hội các nớc Châu á - Thái Bình Dơng) đứng ra
tổ chức tại Bắc Kinh năm 1986 và ở Cameroune năm 1987, các nhà quản lý và
16
nghiên cứu kinh tế đều đI đến kết luận là : Muốn phát triển kinh tế Châu á
-Thái Bình Dơng phải ra sức huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
trong nớc và nguồn vốn nớc ngoài. Các hội nghị này đã tổng kết kinh nghiệm
của các nớc đang phát triển trong việc vay vốn nớc ngoài và đã có những kết
luận rất đáng đợc quan tâm.
Trong giai đoạn cuối thập kỷ 70 cho tới năm 1983 nợ quốc tế của các n-
ớc đang phát triển lên đến 810 tỷ đô-la Mỹ ,trong đó có những nớc thành
công trong vay nợ để phát triển kinh tế nh Hàn quốc,nhng cũng có những nớc
thất bại, rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ để lại gánh nợ chồng chất cho hậu
thế mà có khi phải trả giá bằng sự khủng hoảng về kinh tế - chính trị nh: Thái
lan, Braxin, Mehico, Chi le, Peru, Venezunea. Nguyên nhân của sự thất bại
của các nớc phát triển dựa vào vay nợ là do sai lầm trong chính sách quản lý
vay nợ nớc ngoài. Sau đây là một vài ví dụ điển hình về quản lý vay nợ nớc
ngoài :
1. Kinh nghiệm của Hàn quốc.
Vào cuối năm 1965, khi công cuộc cải cách kinh tế , tài chính, thơng
mại của Hàn quốc đã đợc tiến hành có hiệu quả, xuất khẩu bắt đầu tăng lên
nhanh chóng, giá cả trong nớc ổn định, đầu t vào sản xuất trong nớc đã bắt đầu
kích thích kinh tế tăng trởng, các nhà đầu t nớc ngoài đánh giá lạc quan về
triển vọng kinh tế tốt đẹp của nền kinh tế Hàn quốc (giống trờng hợp của Việt
Nam hiện nay).Vì vậy vào giữa năm 1966, nguồn vốn ngắn hạn ồ ạt chảy vào
Hàn quốc một cách đột ngột, đặt chính sách kinh tế vĩ mô trớc một vấn đề nan
giải: nếu Ngân hàng Trung ơng để mặc cho đồng vốn đó chạy vào quá nhiều,
đồng Won sẽ lên giá, công nghiệp xuất khẩu non trẻ sẽ bị giáng một đòn nặng
nề. Nhng nếu Ngân hàng Trung ơng tìm cách giữ cho tỷ giá đồng Won ổn
định trong khi nguồn vốn tài chính tràn ngập, Ngân hàng Trung ơng sẽ gặp
để lành mạnh hoá nền kinh tế mà vẫn tiếp tục nhờ vào vay nợ nớc ngoài.
Trong khi đó Quỹ tiền tệ Quốc tế và Mỹ lại sẵn sàng hỗ trợ : ngày 1/2/2000,
IMF cho Mêhicô vay 17,8 tỷ USD trong vòng 18 tháng, Mỹ cho vay 20 tỷ
USD và nhóm G10 cho vay ngắn hạn 10 tỷ USD . Nh vậy Mêhicô đã vay thêm
nợ ngắn hạn 47,8 tỷ USD để giải quyết khủng hoảng kinh tế . Ông Camdessus
lại coi đó là một sự giúp đỡ lớn nhất của IMF đối với một nớc hội viên từ trớc
đến nay ,và liều thuốc đó lập tức phát huy hiệu quả, ông Camdessus cho biết
cán cân thanh toán của Mêhicô đã bắt đầu bội thu vào quý I năm 2000, đồng
Peso đã lên giá so với đồng đô-la Mỹ từ 8,1 Peso/1 USD lên 6 Peso/ 1USD.
ĐIều này lại có nghĩa là có lợi cho các nhà xuất khẩu Mỹ bán hàng sang
Mêhicô - thị trờng xuất khẩu đứng thứ 3 của Mỹ, còn Mêhicô thì lại chủ yếu
nhập khẩu, xuất khẩu kém làm cho cán cân thơng mại của Mêhicô thâm hụt -
những tiền đề cho cuộc khủng hoảng mới lại xuất hiện.
Bài học lớn từ sự kiện Mêhicô cho thấy : Một nớc nếu chỉ dựa vào vay
nợ nớc ngoài để phát triển kinh tế sẽ có thể đa nền kinh tế nớc đó vào một
vòng luẩn quẩn đầy bế tắc :vay nợ để phát triển dãn tới khủng hoảng kinh tế,
tiền tệ, để giải nguy lại tiếp tục vay nợ vay nợ lại dẫn tới khủng hoảng mới với
công nợ chồng chất ...
18
Một nớc ban đầu tởng chừng rất thành công trong vay nợ nớc ngoài
song cuối cùng lại vấp ngã . Để làm rõ hơn về vấn đề này chúng ta nghiên cứu
thêm một trờng hợp của Thái lan trong việc quản lý vay nợ nớc ngoài.
3. Kinh nghiệm của Thái lan .
Vay nợ nớc ngoài của Thái lan đợc thực hiện theo Luật vay nợ nớc
ngoài ( năm 1976). Theo luật này, Bộ Tài chính đợc phép huy động vốn vay từ
nớc ngoài phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội . Việc cấp bảo
lãnh cho các khoản vay của xí nghiệp quốc doanh đợc quy định trong luật
(năm 1976) và sau này có sửa đổi. Đạo luật Hoàng gia (năm 1985) trao quyền
cho bộ phận quản lý và Chính sách vay nợ (LPMD) của Bộ Tài chính tiến hành
cơ cấu lại nợ nớc ngoài của khu vực Nhà nớc.
vay nợ nớc ngoài . Chính sách này chỉ áp dụng cho khu vực kinh tế Nhà nớc .
Trong kế hoạch năm năm lần thứ 5 (1982-1986), giới hạn vay nợ cho khu vực
Nhà nớc đã giảm từ 2400 triệu đô-la Mỹ xuống 2060 triệu đô-la Mỹ cho mỗi
năm tài chính 1983,1984 ; 1600 triệu đô-la Mỹ cho năm tài chính 1985 và
1000 triệu cho năm tài chính 1986. Việc vay nợ là một điều không tránh khỏi
với một nớc đang phát triển nh Thái lan. Nhng làm thế nào để có thẻ trả nợ thì
không đơn giản. Vì thế vào năm 1984, Nhà nớc đã phải đề ra một chiến lợc
phát bốn điểm nhằm thanh toán dần các khoản nợ đó. Bốn điểm đó là :
1. Chuyển từ vay lãi suất cố định sang vay với lãi suất thả nổi
2. Chuyểntừ vay với lãi suất chênh lệch cao sang vay với lãi suất
chênh lệch thấp.
3. Chuyển từ vay ngoại tệ với lãi suất cao sang vay ngoại tệ với lãi
suất thấp.
4. Chuyển vay vốn lãi suất cao của các tổ chức đa phơng sang vay
vốn lãi suất thấp trên thị trờng vốn quốc tế.
Nhờ kinh tế phát triển nhanh từ nửa sau những năm 80 và áp dụng
chiến lợc trả nợ trên, Thái lan đã thanh toán đợc và thanh toán đúng hạn các
khoản tiền đã vay để tiếp tục đợc vay.
Trong thời gian này (1982-1986), Thái lan là nớc mắc nợ ít nhất so với
các nớc ASEAN khác. Chính phủ không khống chế giới hạn vay nợ của khu
vực t nhân, nhng thông qua Ngân hàng Trung ơng Thái lan, Nhà nớc đã giám
sát việc vay nợ để đảm bảo tổng số nợ không vợt quá giới hạn có thể trả đợc .
Tuy nhiên, Thái lan đã không giữ đợc danh hiệu tấm gơng sáng về
quản lý vay nợ nớc ngoài. Các nhà phân tích đã đa ra kết luận về cuộc khủng
20
hoảng tiền tệ của Thái lan trong thời gian gần đây, đó là: trong những năm
qua, Thái lan đã mua sản phẩm và dịch vụ của nớc ngoài nhiều hơn là số tiền
nhận đợc từ xuất khẩu và đầu t. Hậu quả là thâm hụt cán cân vãng lai của Thái
lan chiếm tới 8 % GDP vào năm 2001.
Biểu 4. Nợ nớc ngoài của Thái lan
Thực ra, nếu nguồn vốn vay nớc ngoài mà chủ yếu là dài hạn thì khả
năng xảy ra những vấn đề đáng tiếc có thể đợc khắc phục bởi nớc đI vay có
nhiều thời gian để sử dụng vốn vào sản xuất sinh lời (mà cha phải trả nợ gốc),
hay chí ít cũng có thể lo liệu đợc nguồn để trả nợ. Song trên thực tế, nh đã đề
cập ở phần trên, các nớc vẫn có những khoản tín dụng ngắn hạn khổng lồ đó là
nguồn gốc của khủng hoảng nợ, khủng hoảng tài chính.
Thật vậy, ở các nớc Mỹ La tinh, đặc biệt là Chi lê, và cả Hàn quốc, khi
quá trình tự do hoá và ổn định kinh tế trong các nớc đã có những thành công,
tính sinh lợi của nền kinh tế đã tăng lên, thờng có một xu hớng xuất hiện: các
nhà đầu t trong nớc cũng nh các nhà đầu t nớc ngoài đều muốn ồ ạt bỏ vốn
vào đầu t. Một điều nguy hiểm là các nhà kinh tế t nhân trong nớc cũng nh
các nhà đầu t nớc ngoài không dự đoán đợc những gì sẽ xảy ra trong tơng lai
21
và nguy hiểm hơn là các luồng vốn này là ngắn hạn. Khi vốn chạy vào quá
nhiều, tỷ giá danh nghĩa và thực tế đồng tiền trong nớc tăng lên, xuất khẩu bị
hạn chế, lạm phát có chiều hớng gia tăng thì chính vào lúc đó các khoản nợ
ngắn đã đến hạn phải trả. Chi lê vào cuối những năm 70, Hàn quốc giữa những
năm 60 các nớc này đã không đề phòng tình trạng số nợ ngắn hạn của khu vực
t nhân tăng lên vào giai đoạn này.
Mặc khác, trong những năm 70 và 80 Chính phủ của các nớc này đã
đứng ra bảo lãnh tất cả các khoản tín dụng nớc ngoài của kinh tế t nhân, do đó
trên thực tế ngời cho vay không gắn liền với ngời đI vay đã làm cho tình trạng
nợ nớc ngoài tăng lên khủng khiếp trong hai thập kỷ này. Chính vì sự bảo
lãnh này của Chính phủ nên các doanh nghiệp trong nớc tha hồ vay vốn nớc
ngoài với bất kỳ ở mức lãi suất nào và gánh nặng công nợ đều đổ lên vai
Chính phủ, kết cục đã làm tăng thêm gánh nợ cho đất nớc.
Do tình trạng thiếu vốn, thiếu ngoại tệ các Chính phủ lại tìm mọi cách
khuyến khích luồng vốn nớc ngoài chảy vào trong nớc. Nhiều nớc đã vội vàng
huỷ bỏ các biện pháp quản lý ngoại hối, tự do hoá nhanh việc xuất nhập khẩu
vốn ngoại tệ.
nớc hội viên( quyền rút vốn đặc biệt). Đây là vụ quan trọng bởi nó xác lập đợc
quyền của các nớc hội viên trong việc sử dụng số SDR cho phép (số SDR đợc
sử dụng phụ thuộc vào sự đóng góp cổ phần khi tham gia vào Quỹ của hội
viên). Việc thanh toán trên thị trờng quốc tế sẽ dựa vào đồng SDR - là đồng
tiền không bị mất giá ( bởi nó đợc xác định từ rổ tiền tệ với 5 đồng tiền mạnh
trên thế giới, bao gồm: đô-la Mỹ, Mác Đức, Bảng Anh, France Pháp và Yên
Nhật).
Khác với Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu á (sẽ đợc
trình bày ở phần sau), mục đích trực tiếp của Quỹ tiền tệ Quốc tế không phải
là phát triển mà là :
- Khuyến khích hợp tác tiền tệ quốc tế ( sử dụng một đơn vị tiền tệ
chung hay cùng sử dụng một đơn vị ngang giá với các đơn vị tiền tệ của tất cả
các nớc hội viên thông qua một tổ chức . Chẳng hạn nh liên minh tiền tệ Châu
âu và sự ra đời của đồng tiền chung Châu á trong tơng lai.
23
- Tạo điều kiện phát triển cân đối mậu dịch quốc tế, tạo điều kiện để
phát triển các nguồn lực sản xuất của các nớc hội viên, giải quyết công ăn
việc làm, nâng cao thu nhập cho các nớc hội viên .
- Tăng cờng sự ổn định tỷ giá của đồng tiền, tránh sự cạnh tranh về tỷ
giá giữa các đồng tiền thông qua phơng thức cạnh tranh.
- Hạn chế về cạnh tranh tỷ giá giữa các đồng tiền có phơng hại tới giải
quyết cán cân thanh toán, sự phơng hại đến thịnh vợng của quốc gia cũng nh
quốc tế.
- Giảm bớt mức độ bất quân bình trong cán cân thanh toán thông qua
việc tạo ra các điều kiện, phơng tiện thanh toán quốc tế ( cho vay để bù đắp
thiếu hụt cán cân thanh toán ...)
*Quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ.
Ngay từ thời kỳ ngụy quyền Việt Nam đã chính thức là thành viên của
IMF. Tới năm 1979, quân Nhật chủ trì cùng 7 nớc khác là: Phần lan, Thụy
điển, Thụy sĩ, úc, Canada, Bỉ và áo. Nhóm nớc này đã viện trợ không hoàn lại
Nhiều năm gần đây, việc trợ vốn cho các nớc đang phát triển vẫn bảo lu các
dự án xây dựng đã trở thành truyền thống nhng Ngân hàng luôn điều chỉnh
những dự án này mục đích là nhằm đặt trọng điểm vào các dự án xây dựng
trực tiếp liên quan tới lợi ích của tầng lớp nghèo khổ nhất trong các nớc đang
phát triển (WB cung cấp cho 163 nớc thànhviên và ADB cung cấp cho các nớc
đang phát triển của khu vực Châu á).
- Nguyên tắc cho vay : Căn cứ vào quy định trong hiệp định ngân hàng,
WB và ADB có một số nguyên tắc cho vay chung sau:
+ Ngân hàng chỉ cho vay với các nớc thành viên. WB và ADB chỉ cung
cấp các khoản cho vay đối với Chính phủ các nớc thành viên có thu nhập thấp
hoặc đối với các tổ chức công cộng và t nhân đợc Chính phủ, Ngân hàng
Trung ơng của nớc thành viên bảo trợ. Các nớc mới độc lập, dù dự tính chẳng
bao lâu nữa sẽ trở thành thành viên, cũng chỉ có thể xin vay sau khi đã chính
thức trở thành nớc thành viên. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những trờng hợp
ngoại lệ, chẳng hạn nh trớc khi Niu Ghinê giành đợc độc lập vào tháng 9 năm
1975, WB đã cấp cho họ 5 khoản vay, đều do Chính phủ Oxtơraylia bảo trợ.
+ Thông thờng các khoản vay của WB và ADB phải đợc dùng cho các
dự án cụ thể của nớc vay nợ, các dự án này phải đợc Ngân hàng thẩm định và
phê chuẩn là có tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế, phải đợc bàn bạc và thống
nhất với nớc vay nợ đó, phải là những dự án thật sự u tiên nhất trong chơng
trình phát triển kinh tế. Bởi vậy nớc vay nợ phải cung cấp cho các tổ chức này
tình hình và t liệu về kinh tế, tài chính có liên quan đến dự án và của chính dự
án xin vay vốn. Dự án vay vốn chỉ có thể đợc chấp nhận sau khi đơn vị có dự
án đánh giá trớc, một nhóm thẩm định của Ngân hàng đã phân tích, đánh giá
đợc hội đồng giám đốc điều hành phê chuẩn. Trong quá trình thực hiện dự án
25