Hoàn thiện chính sách lãi suất của Việt Nam phần 3 - Pdf 10

Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
Chơng III.
Xu hớng phát triển của thị tr-
ờng tài chính Việt Nam và những
đòi hỏi hoàn thiện chính sách lãi
suất tiến tới hội nhập
kinh tế.
65
Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
Qua chơng 2 chúng ta có thể nhận thấy bối cảnh kinh tế của từng giai đoạn
có ảnh hởng rất mạnh mẽ đến mục tiêu điều hành chính sách lãi suất trong từng
giai đoạn. Trong quá trình hội nhập kinh tế sắp tới, việc đi đánh giá những tác
động của hội nhập kinh tế đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trờng tài
chính nói riêng là cần thiết để thấy đợc đòi hỏi phải hoàn thiện chính sách lãi suất
theo hớng tự do hoá, từ đó đa ra một số gợi ý về điều hành chính sách lãi suất
trong thời gian tới. Đó cùng là nội dung chính đợc nghiên cứu trong chơng này.
1.Tác động của hội nhập kinh tế đến nền kinh tế
Việt Nam nói chung và thị trờng tài chính nói
riêng.
Có thể nói quá trình hôị nhập kinh tế đang diễn ra một cách rộng khắp trên toàn
thế giới. Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong
quá trình đó, tự do và hội nhập kinh tế trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đã trở
thành một nội dung chủ yếu, có ảnh hởng mạnh mẽ đến hầu hết các quan hệ kinh tế,
tài chính của mỗi quốc gia. Trong vòng hai thập kỉ qua nhiều nớc phát triển và đang
phát triển cũng nh các nền kinh tế chuyển đổi đã có những bớc đi quan trọng để tự do
hoá hệ thống tài chính của mình thông qua việc mở rộng thị trờng, đổi mới các công
cụ tài chính, các biện pháp quản lí hành chính và can thiệp của Nhà nớc đối với các

cải thiện hiệu quả phân phối, sử dụng các nguồn lực thông qua sự gia tăng cạnh tranh,
tăng khả năng sẵn có của nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đầu t, tài trợ thơng mại,
hỗ trợ các lĩnh vực kinh tế quan trọng khác.
1.1.2. Tăng cờng khả năng thanh toán và thúc đẩy thị trờng tài chính trong nớc
phát triển ổn định.
Khi mục tiêu thu hút nguồn vốn nớc ngoài chảy vào, nhất là luồng vốn đầu t
gián tiếp đạt hiệu quả thì nó sẽ có tác dụng làm tăng khả năng thanh toán và hiệu suất
của thị trờng vốn nội địa. Thị trờng vốn phát triển và có khả năng thanh toán cao sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t cải thiện danh mục đầu t của mình, các
TCTD và ngân hàng mở rộng tín dụng và phát triển dịch vụ một cách hiệu quả. Tự do
hoá tài chính và luân chuyển vốn quốc tế sẽ góp phần bình ổn đầu t và tiêu dùng
trong nền kinh tế thông qua khả năng vay vốn từ nớc ngoài và đầu t ra nớc ngoài, kìm
giữ đợc mức tiêu dùng và đầu t phù hợp với mức sản xuất và thu nhập của nền kinh tế.
Sự phát triển của thị trờng tài chính nhờ tác dụng của dòng vốn nớc ngoài đã tạo điều
67
Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
kiện cho các tổ chức, cá nhân có thể trao đổi thu nhập tơng lai lấy tiêu dùng, đầu t
hiện tại và ngợc lại. Trên cơ sở đó mức tiêu dùng và đầu t đợc bình ổn. Khi thị trờng
tài chính có khả năng thanh toán cao, các dòng vốn đầu t gián tiếp trên thị trờng sẽ có
xu hớng vận động linh hoạt hơn, từ đó kích thích các nhà đầu t, các định chế tài chính
và doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
1.1.3. Tăng cờng chất lợng hoạt động của hệ thống ngân hàng và các trung gian
tài chính khác.
Một lợi ích quan trọng nữa của hội nhập tài chính- tiền tệ là góp phần củng cố
nâng cao chất lợng hoạt động của các ngân hàng, trung gian tài chính . Nhờ mở cửa
mà các ngân hàng trong nớc có thể bổ sung đợc nguồn vốn hoạt động từ các nguồn
bên ngoài, tiếp cận đợc các công nghệ ngân hàng tiên tiến, mở rộng hoat động kinh
doanh về ngoại hối, chứng khoán, phát triển các dịch vụ ngân hàng mới. Hơn nữa, mở

Những lợi ích của hội nhập tài chính tiền tệ trên đây là rõ ràng, nhng phần lớn là
lợi ích tiềm năng. Mức độ đạt đợc những lợi ích đó nh thế nào còn phụ thuộc vào điều
kiện, trình độ phát triển, công cụ chính sách và bớc đi cụ thể của mỗi quốc gia. Nếu
không có chính sách đúng đắn và phù hợp thì không những không thu đợc lợi ích mà
còn làm cho nền kinh tế phải đối mặt với những rủi ro lớn. Một hệ thống tài chính-
ngân hàng đợc tự do hóa và hội nhập quốc tế theo một tiến trình không thích hợp,
thiếu sự giám sát thận trọng, kết hợp với môi trờng kinh tế vĩ mô kém ổn định, các
chính sách không đồng bộ có thể gây ra nguy cơ của khủng hoảng hoặc sự hỗn loạn.
Có thể đánh giá những rủi ro và tác động tiêu cực của hội nhập tài chính, tiền tệ theo
những khía cạnh chủ yếu sau:
1.2.1. Những rủi ro của quá trình chuyển dịch từ hệ thống tài chính kiểm soát trực
tiếp sang hệ thống tài chính tự do
Kiểm soát tài chính bằng các công cụ trực tiếp là đặc trng của hầu hết các nền kinh
tế đang phát triển. Mặc dù kiểm soát tài chính trực tiếp đã có ý nghĩa tích cực nhất
định trong những điều kiện cụ thể, nhng không thể tiếp tục duy trì các phơng pháp
này trong một thế giới đang toàn cầu hoá và hội nhập ngày càng cao nh hiện nay. Khi
hội nhập vào hệ thống tài chính, tiền tệ quốc tế thì phơng pháp can thiệp của chính
phủ đối với các hoạt động tài chính cần phải đợc thay đổi. Sự dịch chuyển từ hệ thống
tài chính đợc kiểm soát trực tiếp sang hệ thống tài chính tự do hoá ở các nớc đang
phát triển trong thời gian qua đã chứng minh tầm quan trọng của vấn đề này. Quá
trình tự do hoá tài chính của các nớc Mỹ la tinh từ những năm 80 đợc tiến hành khá
nhanh chóng bởi việc mở cửa các giao dịch tài chính quốc tế và giải trừ các qui định
69
Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
điều chỉnh, các qui chế kiểm soát hoạt động tài chính- ngân hàng một cách không
đồng bộ, thiếu lành mạnh đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đó là việc vốn
chạy ồ ạt ra khỏi đất nớc để tránh những rủi ro biến động trong nớc. Ngợc lại, việc
chuyển từ hệ thống tài chính kiểm soát trực tiếp sang kiểm soát gián tiếp ở một số n-

trong, hiện tợng này sẽ nguy hiểm hơn khi mức độ biến động tỷ giá vợt qua khả năng
kiểm soát của các nhà quản lí tiền tệ. Ngợc lại, nếu dòng vốn chảy ra quá lớn cũng
gây nên biến động tỷ giá, làm giảm giá trị đồng nội tệ, gây khó khăn cho các tổ chức
xuất nhập khẩu và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nớc ngoài.
Thứ ba, đó là nguy cơ của tình trạng đô la hoá nền kinh tế. Đó là hiện tợng sử
dụng đồng ngoại tệ thay thế đồng bản tệ trong các giao dịch. Khi vốn lu chuyển tự do
trong một thị trờng hội nhập thì các nớc có đồng tiền yếu sẽ xuất hiện xu hớng
chuyển sang sử dụng ngoại tệ mạnh. Hậu quả là hiện tợng đầu cơ tiền tệ có thể xuất
hiện, gây ra những khó khăn cho công tác quản lí tiền tệ và hoạt động của hê thống
ngân hàng.
1.2.3. Những ảnh hởng của việc mở cửa thị trờng hoạt động với bên ngoài.
Với sự mở cửa cho việc tham gia của hệ thống ngân hàng nớc ngoài vào hoạt động
ngân hàng trong nớc và cho phép các ngân hàng trong nớc thực hiện các hoạt động
kinh doanh ở nớc ngoài cũng sẽ có những tác động tiêu cực đối với hệ thống ngân
hàng của từng quốc gia, nhất là đối với những nớc đang phát triển.
Thứ nhất, sự thâm nhập của ngân hàng nớc ngoài có thể gây ra những khó khăn
cho nền kinh tế và đe doạ chủ quyền kinh tế quốc gia. Trong các nền kinh tế chuyển
đổi, sự gia tăng sở hữu của các ngân hàng nớc ngoài có thể gây ra những lo ngại về
chủ quyền kinh tế quốc gia bởi những ngân hàng nớc ngoài có thể chi phối hoạt động
của hệ thống ngân hàng và sự lệ thuộc của nền kinh tế vào một số ít các ngân hàng n-
ớc ngoài. Hơn nữa, sự gia tăng số lợng các ngân hàng nớc ngoài cũng làm giảm khả
năng tiếp cận nguồn vốn của các DNNN, các DN vừa và nhỏ- đó là những DN có
hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp. Do vậy, việc mở cửa cho sự tham gia của các
ngân hàng phải ở mức độ phù hợp với qui mô của nền kinh tế và trình độ phát triển
của hệ thống ngân hàng trong nớc.
Thứ hai, hoạt động của NH ngày càng rộng lớn và hiện đại trong môi trờng hội
nhập sẽ làm hạn chế khả năng kiểm soát của các nhà quản lí trong từng quốc gia.
Hoạt động của các ngân hàng nớc ngoài với nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện
đại cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ làm cho nhiều ngân hàng thoát
khỏi sự kiểm soát của cơ chế giám sát đã đặt ra. Trong một môi trờng kinh doanh

theo cơ chế thị trờng. Lãi suất ngân hàng với t cách là một loại giá- giá của quyền sử
dụng tiền tệ, cũng đã từng bớc đợc chuyển đổi theo hớng thị trờng: từ lãi suất thực âm
sang lãi suất thực dơng với các mức khống chế trần, sàn lãi suất cho vay, loại bỏ dần
72
Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
các mức khống chế. Ngày 2/8/2000, NHNN đã tiến một bớc quan trọng trong việc
chuyển đổi chính sách lãi suất sang cơ chế thị trờng qua việc thực hiện cơ chế lãi
suất cơ bản. Theo đó, NHNN tham khảo lãi suất của các NHTM chủ chốt để đa ra
lãi suất cơ bản và cho phép các NHTM đợc tự do quyết định lãi suất trên cơ sở không
vợt quá biên độ mà NHNN khống chế. Thực chất cơ chế này cũng vẫn là một hình
thức trần lãi suất. Vì vậy, việc chuyển đổi lãi suất theo định hớng thị trờng hơn nữa là
cần thiết.
2.1.2. Cải cách khu vực ngân hàng theo định hớng thị trờng đòi hỏi cải cách lãi
suất.
Bắt đầu từ những năm 90 Việt Nam đã đổi mới toàn diện khu vực ngân hàng.
Nội dung và mục tiêu quan trọng trong chơng trình cải cách ở khu vực ngân hàng
theo định hớng thị trờng đối với Việt Nam gồm 2 mục tiêu chính đó là: cải cách
NHNN về công cụ chính sách, mô hình tổ chức nhằm nâng cao điều hành chính sách
tiền tệ và kiểm soát thị trờng tài chính trong điều kiện kinh tế thị trờng phát triển và
hội nhập quốc tế; cơ cấu lại hệ thống NHTM (quốc doanh và cổ phần) nhằm đảm bảo
tính an toàn lành mạnh và hiệu quả trong hoat động.
Thứ nhất, cải cách NHNN và chính sách tiền tệ. Từ năm 1990 đến nay, NHNN
đã từng bớc đa ra các công cụ gián tiếp thay thế dần các công cụ trực tiếp trong điều
hành chính sách tiền tệ, vai trò quản lí nhà nớc đợc tăng cờng nhng NHNN vẫn còn
gián tiếp hoặc trực tiếp can thiệp vào công việc kinh doanh của các NHTM nh chỉ đạo
cho vay, khống chế lãi suất hoạt động... Nh vậy, xét trên phơng diện điều hành chính
sách tiền tệ trong thời gian qua, Việt Nam đã đặt mục tiêu trung gian bao gồm cả
mục tiêu lãi suất và mục tiêu cung tiền. Trong điều kiện hiện nay cũng nh trong tơng

NHTM trong việc cấp tín dụng cho các DN, không phân biệt nghành nghề, loại hình
DN
* Về chế độ lãi suất: Chế độ lãi suất theo hớng thị trờng sẽ tăng cờng khả năng
hạch toán kinh doanh, nâng cao hiệu quả nguồn vốn xã hội. Trong những năm qua,
các NHTMQD đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho các thành phần kinh
tế nhà nớc. Sự hỗ trợ này là cần thiết để đảm bảo một số lĩnh vực kinh tế cần đợc
khuyến khích do các DNNN thực hiện. Tuy nhiên, trong khi các DNNN đang đợc cải
cách theo hớng thị trờng và thực hiện hạch toán kinh tế thực sự hơn nữa thì sự bao cấp
thông qua hình thức tín dụng ngân hàng sẽ dẫn đến bóp méo kết quả kinh doanh của
các DN. Thực tế cho thấy trong những năm qua, có rất nhiều DNNN Việt Nam đang
74
Chơng III: Xu hớng phát triển của thị trờng tài chính Việt Nam và những đòi hỏi hoàn thiện chính
sách lãi suất tiến tới hội nhập kinh tế
.
làm ăn thua lỗ nhng lại là nơi nhận đợc phần lớn vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất -
u đãi hoặc các điều kiện u đãi khác nh không phải thế chấp.
Rõ ràng, quan hệ tín dụng giữa NH và DN đợc chuyển đổi theo hớng thị trờng
cũng đòi hỏi cơ chế lãi suất theo hớng thị trờng. Các NHTM với chức năng của nó là
huy động vốn từ các thành phần kinh tế và thực hiện cho vay trên cơ sở phân tích,
đánh giá doanh nghiệp. Các DN hoạt động trong điều kiện nhất định( lĩnh vực, môi
trờng, độ rủi ro ) và do đó họ sẵn sàng chấp nhận vay vốn với những mức lãi suất
nhất định. Trong khi đó, NHTM cũng có trong tay hoặc có khả năng huy động một l-
ợng vốn với những chi phí nhất định và do đó, tại các điều kiện rủi ro nhất định, họ
cũng sẵn sàng cho các DN vay với mức lãi suất nhất định để có lãi và đủ bù đắp chi
phí và các rủi ro khác.
2.1.3. Hội nhập quốc tế và yêu cầu cải cách mạnh mẽ về lãi suất.
Trớc những cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế đối với hệ thống tài
chính Việt Nam thì việc chuyển đổi lãi suất sang cơ chế lãi suất thị trờng là một đòi
hỏi tất yếu. Những hạn chế về chu chuyển vốn quốc tế đang ngày một thu hẹp. Sự
chêch lệch quá lớn về lãi suất trong nớc (do áp dụng hạn chế hoặc kiểm soát lãi suất)

vào sự tăng lên mạnh của chu chuyển vốn quốc tế. Nh vậy, sự hợp nhất tăng lên của
các thị trờng tài chính giữa các quốc gia đã có một tác động quan trọng hơn đến việc
làm tăng mức độ nhạy cảm của tỷ giá hối đoái đối với các thay đổi lãi suất so với việc
nó liên kết trực tiếp với lãi suất của quốc gia. Do vậy, hội nhập vào nền tài chính quốc
tế, chính sách lãi suất của Việt Nam cần đợc cải cách theo cơ chế thị trờng, phù hợp
với các nớc khác bởi nếu không đợc điều chỉnh linh hoạt theo tín hiệu thị trờng thì bất
kì sự biến động nào của lãi suất các nớc cũng có thể tác động tới lãi suất trong nớc,
tới chu chuyển vốn quốc tế và tỷ giá hối đoái, từ đó tác động tới nhiều khía cạnh khác
của nền kinh tế.
2.2. Những thách thức trong chính sách lãi suất mới.
Trớc hết có thể khẳng định lãi suất thảo thuận về bản chất kinh tế cũng chính là lãi
suất thị trờng. Do vậy nó chỉ hoạt động và phát huy tác dụng trong điều kiện thị trờng
tài chính phát triển. Những điều kiện cơ bản đó bao gồm:
Thứ nhất, môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định: Đây là yếu tố cơ bản giúp cho việc tự
do hóa lãi suất thành công. Vì nếu môi trờng kinh tế vĩ mô không ổn định nó sẽ làm
áp lực tăng lãi suất sau khi thực hiện tự do hoá lãi suất. Sự ổn định kinh tế vĩ mô đảm
bảo cho nền kinh tế chịu đợc những tác động của các cú sốc ở bên trong và bên ngoài
có thể xảy ra đối với nền kinh tế khi tự do hoá lãi suất hoàn toàn.
76

Trích đoạn Những kiến nghị đối với NHNN Những kiến nghị đối với các TCTD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status