Tài liệu Báo cáo " Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay" - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 25

mấy vấn đề về pháp luật kinh tế
Việt Nam hiện nay

PTS. Nguyễn Am Hiểu *
ông cuộc đổi mới ở nớc ta đợc bắt
đầu trong tình hình khủng hoảng kinh
tế - x hội trầm trọng ở các nớc x
hội chủ nghĩa với mô hình kinh tế tập
trung kế hoạch hóa. Vì vậy, muốn nhanh
chóng thoát khỏi tình trạng này, không
còn con đờng nào khác là phải bắt đầu
bằng việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế.
Về vấn đề này, Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam
đ đánh giá: "Xét về tổng thể, Đảng ta đ
bắt đầu công cuộc đổi mới về t duy
chính trị trong việc hoạch định đờng lối
và các chính sách đối nội và đối ngoại;
không có sự đổi mới đó thì không có sự
đổi mới khác. Song Đảng ta đ đúng khi
tập trung trớc hết vào việc thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc
phục khủng hoảng kinh tế - x hội".
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc
đổi mới kinh tế, chúng ta đ đạt đợc
nhiều chỉ tiêu tăng trởng kinh tế rất đáng

pháp luật. Nhận thức đợc vấn đề này nên
trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật,
Nhà nớc đ dành những nỗ lực rất lớn
trong việc hoàn thiện pháp luật kinh tế.
Có thể nói, đây là lĩnh vực pháp luật đợc
quan tâm nhất trong hệ thống pháp luật
của nớc ta trong thời gian qua, nhất là
trên phơng diện hoạt động lập pháp.
Nhận xét về vấn đề này, cố Phó chủ
tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu cho rằng:
"Có thể nói, hoạt động lập pháp từ sau
khi có đờng lối đổi mới đến nay đ đạt
đợc những kết quả đáng khích lệ. Trong
nhiệm kì 1987 - 1992, Quốc hội khóa VIII
đ ban hành 31 đạo luật và đ thông qua
Hiến pháp mới năm 1992. Từ sau Hiến
C

* Vụ pháp luật dân sự - kinh tế
Bộ t pháp nghiên cứu - trao đổi
26 - tạp chí luật học

pháp năm 1992 đến nay, hoạt động lập
pháp diễn ra rất khẩn trơng, sôi nổi.
Quốc hội khóa IX đ thông qua 2 Bộ luật
lớn (Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động), 35
luật, 38 pháp lệnh, 4 quy chế. Các văn

vực của pháp luật kinh tế nói riêng. Tuy
vậy, có thể phân chia các đánh giá này
thành hai xu hớng cơ bản sau:
Xu hớng thứ nhất nhìn nhận pháp
luật kinh tế chủ yếu dới góc độ coi pháp
luật kinh tế là phơng tiện, công cụ quản
lí của Nhà nớc đối với kinh tế. Xu hớng
nghiên cứu này cho rằng đ có những
thay đổi cơ bản trong việc xây dựng pháp
luật kinh tế cho phù hợp với cơ chế quản
lí kinh tế theo cơ chế thị trờng nhng
nói chung pháp luật cha đi vào cuộc
sống, ít tính khả thi và còn nhiều kẽ hở
nên không hạn chế đợc các hiện tợng
tiêu cực đang có xu hớng gia tăng, phát
triển.
Xu hớng thứ hai nhìn nhận pháp luật
kinh tế chủ yếu là những bảo đảm pháp lí
cho quá trình đổi mới để khuyến khích
các nhà đầu t đầu t vốn vào phát triển
kinh tế. Xu hớng này cũng cho rằng,
nhìn tổng quát đ tạo ra đợc hành lang
pháp lí cho sự vận hành của nền kinh tế
thị trờng. Tuy vậy, về mặt kĩ thuật còn
thiếu nhiều cơ chế bảo đảm quyền lợi của
nhà đầu t và đặc biệt là sự không ổn
định của pháp luật làm cho các nhà đầu t
lo ngại. Đó là:
Thứ nhất, ở Việt Nam, sau hơn 10
năm đổi mới, pháp luật kinh tế hay luật

thể nào đó của hợp đồng (nh về nghĩa vụ
thanh toán) nhng tòa án lại có quyền
phán quyết hợp đồng đó vô hiệu do nó có
một số sai sót về mặt thủ tục nh sai về
thẩm quyền kí kết, sai về hình thức hợp
đồng - những điều mà các bên hợp đồng
không hề có tranh chấp. Đặc điểm này
phản ánh tính khách quan là nền kinh tế
Việt Nam đang nằm trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế.
Thứ hai, cơ sở pháp lí này mặc dù mới
hình thành nhng đ tạo thành hệ thống
tơng đối hoàn chỉnh bao gồm hầu hết
các chế định rất cơ bản, cần thiết cho sự
hình thành và hoạt động của cơ chế quản
lí kinh tế mới. Tuy nhiên, hệ thống này
còn thiếu một số lĩnh vực quan trọng và
đặc trng cho pháp luật của nền kinh tế
thị trờng nh pháp luật về cạnh tranh,
pháp luật về giấy tờ có giá và thậm chí
thiếu cả những chế định có thể chỉ mang
tính kĩ thuật nhng rất quan trọng trong
nền kinh tế nhiều thành phần nh luật về
chuyển đổi hình thức doanh nghiệp. Do
không có luật chuyển đổi hình thức
doanh nghiệp nên công ti trách nhiệm
hữu hạn muốn chuyển thành công ti cổ
phần phải làm hai thủ tục là giải thể công
ti trách nhiệm hữu hạn và thành lập mới
công ti cổ phần dù công ti đó vẫn hoạt

tính hệ thống của pháp luật kinh tế. Cơ
quan chủ quản khi xây dựng văn bản
pháp luật liên quan đến chức năng quản lí
của mình thờng nhìn nhận từ yêu cầu
quản lí nhà nớc của bộ máy hiện tại hơn
là nhìn nhận từ việc bảo vệ quyền, lợi ích
của các bên khi họ tham gia vào hoạt
động kinh tế.
Thứ t, pháp luật kinh tế tuy là bà đỡ
quan trọng cho sự ra đời của cơ chế quản
lí kinh tế mới nhng nhiều lĩnh vực lại
đang nằm trong tình trạng bất cập giữa
pháp luật và kinh tế, nhiều quy định đ
quá lạc hậu so với sự phát triển của kinh
tế. Ví dụ: Quy định hợp đồng kinh tế phải
dới hình thức văn bản là quá lạc hậu so
với tình hình phát triển của công nghệ
thông tin hiện nay và không phù hợp với
thực tiễn thơng mại. Sự lạc hậu của pháp nghiên cứu - trao đổi
28 - tạp chí luật học

luật so với kinh tế là thực tế khách quan
vì pháp luật chỉ là biểu hiện của kinh tế
nhng sự lạc hậu đó chỉ đợc ở mức độ
nhất định nếu không nó sẽ hạn chế tính
khả thi của pháp luật.
Thứ năm, pháp luật kinh tế đ có nhiều

(nh trung tâm đăng kí kinh doanh thống
nhất), cha có cơ sở để đăng kí giao dịch
có bảo đảm.
Thứ bảy, pháp luật kinh tế đ góp
phần quan trọng vào việc thay đổi cơ chế
quản lí kinh tế nhng chức năng quản lí
nhà nớc đối với hoạt động kinh doanh
vẫn chủ yếu thực hiện thông qua các biện
pháp hành chính. Vì vậy, pháp luật kinh
tế nói chung ít mang tính chất của "luật
t" theo quan niệm của các nớc châu Âu
lục địa. Ví dụ: Luật công ti năm 1990 chủ
yếu bao gồm các quy định về thủ tục
thành lập và giải thể công ti, các quan hệ
phát sinh trong quá trình hoạt động của
công ti ít đợc quy định. Luật doanh
nghiệp vừa đợc Quốc hội thông qua
tháng 6/1999 cũng đ khắc phục một
phần hạn chế này. Pháp luật kinh tế thiếu
nhiều cơ chế tự kiểm soát thông qua thị
trờng hoặc nếu có thì hoạt động cha
hiệu quả. Ví dụ: Cơ chế bảo đảm tính
công khai của thị trờng, hoạt động của
kiểm toán độc lập Chức năng thanh tra
của Nhà nớc với hoạt động kinh tế vẫn
đợc coi trọng hơn là cơ chế tự kiểm soát
do những ngời trực tiếp tham gia vào
hoạt động kinh tế thực hiện. Điều đó
đợc thể hiện là hầu hết các văn bản pháp
luật đều có chơng về thanh tra và xử lí vi

năng quản lí của nhà nớc là cần thiết
nếu cơ chế thị trờng không tự đảm bảo
cho sự lành mạnh của thị trờng và quyền
lợi chung của x hội không đợc giải
quyết. Ví dụ, bản thân hoạt động kinh tế
không bảo vệ quyền lợi của ngời tiêu
dùng nên nhà nớc cần can thiệp để bảo
vệ quyền lợi của ngời tiêu dùng; việc
cho phép công khai huy động vốn trong
công chúng có thể dẫn đến rủi ro cho
công chúng cũng nh sự ổn định của x
hội vì vậy nhà nớc cần quản lí, kiểm
soát chặt chẽ
Thứ tám, tự do kinh doanh và tự do
cạnh tranh là các nguyên tắc cơ bản của
nền kinh tế thị trờng. Tự do kinh doanh
là quyền đợc hiểu theo nghĩa rộng trong
đó quan trọng nhất ở nớc ta hiện nay là
việc mở rộng sự tham gia của các thành
phần kinh tế, tạo ra khả năng cạnh tranh
làm động lực phát triển kinh tế. Quyền tự
do kinh doanh đợc quy định lần đầu tại
Luật công ti (đợc Quốc hội thông qua
ngày 21/12/1990), Luật doanh nghiệp t
nhân (đợc Quốc hội thông qua ngày
21/12/1990) và là quyền hiến định đợc
quy định tại Điều 57 Hiến pháp 1992.
Tự do cạnh tranh là một trong các
động lực của thị trờng nhng tự do kinh
doanh sẽ tạo ra độc quyền, thủ tiêu cạnh

chống hạn chế cạnh tranh hay đạo luật
riêng liên quan đến tự do cạnh tranh.
Quyền tự do cạnh tranh hiện nay chỉ đợc
bảo đảm thông qua việc bảo vệ quyền tự
do kinh doanh, tự do hợp đồng và tự do
định đoạt. Về vấn đề này, trong giới
nghiên cứu đang hình thành (dù cha rõ
ràng) hai quan điểm về luật cạnh tranh:
Một là, cho rằng nền kinh tế thị trờng
mới bắt đầu hình thành, các điều kiện
cạnh tranh cha thực sự tồn tại. Vì
(Xem tiếp trang 34)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status