nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 17ThS. Bùi Thị Đào
*
ây dựng văn bản quy phạm pháp luật là
hoạt động phức tạp với nhiều khâu,
nhiều bớc, nhiều giai đoạn khác nhau. Tham
gia vào quá trình này bao gồm nhiều chủ thể
nh các cơ quan nhà nớc, các tổ chức x hội
và cá nhân công dân. Mỗi chủ thể có thể
tham gia vào một số giai đoạn nhất định và sự
tham gia này đều có ý nghĩa đối với chất
lợng của văn bản đợc tạo ra. Cơ quan có
thẩm quyền ban hành văn bản đóng vai trò
đặc biệt quan trọng bởi vì cơ quan này quyết
định việc có hay không ban hành các văn bản
pháp luật cụ thể và nếu ban hành thì nội
dung, hình thức của văn bản nh thế nào.
Song nh C. Mác nói "nhà làm luật không
phát minh ra luật mà chỉ hình thành ra nó,
thể hiện trong các đạo luật tốt và đ đợc
nhận thức những quy luật nội tại của các
quan hệ chúng ta sẽ phải chê trách nhà làm
luật bởi sự tuỳ tiện không lờng trớc nếu
nhà làm luật lấy ý tởng của mình thay cho
thực chất của sự việc."
(1)
luận, bàn bạc, góp ý kiến, thậm chí quyết
định một số vấn đề nhất định. Tổ chức cho
nhân dân góp ý kiến cho dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật là tạo ra những đợt sinh hoạt
chính trị sôi nổi, rộng ri trong nhân dân.
Bằng việc góp ý kiến cho dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật, ngời dân sẽ thấy mình
thực sự có quyền tham gia quyết định những
vấn đề có liên quan tới cuộc sống của mình
mà không phải tất cả đều là sự áp đặt từ phía
Nhà nớc. Thông qua đó, nhân dân sẽ chủ
X
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
18 - Tạp chí luật học
động, sáng tạo và tích cực hơn trong việc thực
hiện pháp luật.
Thứ hai, nhân dân góp ý kiến cho dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật là tập trung trí
tuệ của nhiều ngời để giải quyết công việc
chung và tạo ra văn bản quy phạm pháp luật
phù hợp với đối tợng tác động. Để đặt ra các
quy phạm pháp luật, cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền, các tổ chức đợc trao quyền tiến
hiện các quy định đó. Có thể dễ dàng nhận
thấy rằng các quy định càng phù hợp với ý
chí, nguyện vọng và khả năng thực tế của
ngời dân bao nhiêu thì nó càng đợc thực
hiện dễ dàng, thuận lợi, tích cực bấy nhiêu và
ngợc lại. Về điểm này thì ý kiến của nhân
dân càng thiết thực và đáng tin cậy hơn so với
thông tin thu thập đợc từ các nguồn khác.
Thông qua ý kiến của nhân dân có thể biết
đợc nhân dân đang chờ mong gì ở văn bản
quy phạm pháp luật sẽ đợc ban hành; nhân
dân đồng tình, ủng hộ điều gì, phản đối điều
gì, mức độ đồng tình, phản đối Từ đó,
ngời soạn thảo biết văn bản quy phạm pháp
luật cần phải có nội dung nh thế nào thì phù
hợp với đối tợng tác động của nó, dự liệu
đợc các phản ứng có thể xảy ra nếu văn bản
đợc ban hành, để tìm cách hạn chế, loại trừ
những phản ứng tiêu cực, tránh đợc khả
năng nóng vội chủ quan, duy ý chí. Khi đó,
văn bản quy phạm pháp luật vừa dễ đi vào đời
sống vừa phát huy đợc hết các giá trị tích
cực của nó.
Thứ ba, lấy ý kiến nhân dân cho dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật là hình thức
thông tin sớm về văn bản cho nhân dân. Tất
nhiên dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
đợc đa ra lấy ý kiến nhân dân cha phải là
văn bản hoàn chỉnh. Văn bản đợc ban hành
sau này sẽ có những điểm khác so với dự thảo
dân góp ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân
dân. Khoản 2 Điều 3 Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định: Trong quá
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
căn cứ vào tính chất, nội dung của dự án, cơ
quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để cơ
quan, tổ chức, cá nhân nói tại khoản 1 Điều
này tham gia góp ý kiến và tiếp thu ý kiến
đóng góp để xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật.
Các quy định này cho thấy quyền của
nhân dân gắn chặt với nghĩa vụ của cơ quan,
tổ chức hữu quan. Quyền góp ý kiến của nhân
dân chỉ có thể đợc thực hiện khi cơ quan, tổ
chức có nghĩa vụ lấy ý kiến nhân dân thực
hiện đúng các quy định nói trên. Có thể nói,
pháp luật quy định nghĩa vụ này cũng đồng
thời là sự trao quyền. Bởi lẽ, pháp luật không
quy định mọi trờng hợp đều phải lấy ý kiến
nhân dân. Đây là quy định hợp lí vì đối với
các vấn đề có tính chất chuyên sâu của từng
lĩnh vực quản lí nhà nớc thì nhiều ngời dân
không có khả năng để góp ý kiến hoặc là
những vấn đề ít liên quan tới quyền và lợi ích
thiết thực của nhân dân cũng khó thu hút
đợc sự quan tâm của dân chúng nên nếu lấy
ý kiến nhân dân thì cũng không hiệu quả.
Hơn nữa, hoạt động lấy ý kiến nhân dân cần
có thời gian nên đối với những trờng hợp
văn bản cần xây dựng nhanh để đáp ứng kịp
Trong những trờng hợp này chất lợng của
văn bản chắc chắn sẽ bị ảnh hởng.
Hai là, việc quyết định lấy ý kiến nhóm
dân c nào (phạm vi lấy ý kiến) cũng do cơ
quan, tổ chức hữu quan tự quyết định. Toàn nghiên cứu - trao đổi
20 - Tạp chí luật học
bộ dân c bao gồm rất nhiều nhóm khác nhau
về thành phần x hội, địa bàn c trú, môi
trờng sinh sống, công tác, trình độ học vấn
Các nhóm dân c có sự nhìn nhận, đánh giá
cũng nh mức độ quan tâm với các vấn đề x
hội không giống nhau. Do vậy, về cùng vấn
đề, ý kiến đóng góp của các nhóm dân c có
thể rất khác nhau. Nếu lựa chọn đúng nhóm
x hội cần thiết thì các ý kiến thu đợc vừa
tập trung vừa có chất lợng cao và tiết kiệm
thời gian tổ chức lấy ý kiến. Nhng cơ quan,
tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm
pháp luật cũng có thể vì những lí do khác
nhau đ chọn không đúng các nhóm đối
tợng để lấy ý kiến. Nhóm dân c đợc lựa
chọn có thể là nhóm có chung quan điểm với
cơ quan soạn thảo văn bản nhng đó không
phải là tiếng nói chung của nhân dân và cũng
không phải ý kiến khách quan cần cho dự
thảo. Khi đó hoạt động lấy ý kiến nhân dân
quy định kiểu này nhng cha đầy đủ. Chẳng
hạn, Quyết định số 163/HĐBT ngày
19/10/1988 ban hành quy định về trách
nhiệm của các cấp chính quyền trong việc
đảm bảo cho các cấp Hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam tham gia quản lí nhà nớc có quy
định các cơ quan cấp bộ, uỷ ban nhân dân các
cấp khi xây dựng, sửa đổi chính sách, kế
hoạch có liên quan tới phụ nữ, trẻ em phải
bàn với hội phụ nữ, phải gửi dự thảo đến hội
phụ nữ hoặc báo cho hội phụ nữ cử cán bộ
tham gia soạn thảo; Quyết định số
17/1998/TTg quy định cần có sự tham gia của
Hội nông dân Việt Nam trớc khi quyết định
về vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa
vụ của nông dân.
Tóm lại, nhân dân góp ý kiến cho các dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt
động có ảnh hởng to lớn tới tính khả thi của
văn bản, đòi hỏi phải có sự tích cực từ phía
nhân dân, sự khách quan, khoa học từ phía
Nhà nớc và phải có những quy định chặt
chẽ, xác đáng của pháp luật./.
(1). C. Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập I, tr.162
(tiếng Nga); trích theo Đào Trí úc: Xây dựng luận cứ
khoa học của chiến lợc lập pháp ở nớc ta, Tạp chí
cộng sản, số 7 (4/2000), tr.16.
(2). Hồ Chí Minh - Về Nhà nớc và pháp luật Việt
Nam, Nxb. Pháp lí 1990, tr.174.