Tài liệu Báo cáo "Bàn về sở hữu pháp nhân và đổi mới quan niệm sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nhà nước " - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
10 - Tạp chí luật học

ThS. Bùi Ngọc Cờng *
1. Việc xem xét phơng diện lí luận
cũng nh thực tiễn cho thấy mỗi chủ sở hữu
là hiện thân của một loại quan hệ sở hữu.
Điều đó yêu cầu phải có những quy định về
hình thức sở hữu khác nhau. Quy định hình
thức sở hữu là nhằm xác định rõ chủ thể của
quyền sở hữu là ai, có những đặc điểm gì?
Nguồn tài sản của mỗi hình thức sở hữu bắt
nguồn từ đâu và đợc xác lập bởi những căn
cứ pháp lí nào, cơ chế pháp lí đảm bảo việc
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản ra
sao. Dựa trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu t nhân đợc quy
định tại Điều 15 Hiến pháp năm 1992, Bộ
luật dân sự đ cụ thể hóa việc xác định các
hình thức sở hữu ở nớc ta hiện nay. Đó là
sở hữu toàn dân; sở hữu của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - x hội; sở hữu tập thể;
sở hữu t nhân; sở hữu của tổ chức x hội, tổ
chức x hội - nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp;
sở hữu chung. Thực tiễn hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng cho

nghiệp thuộc về sở hữu của các thành viên
(ngời góp vốn lập nên doanh nghiệp), ví
dụ, tại khoản 1 Điều 8 Luật công ti (hết hiệu
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 11

lực) đ quy định: "Thành viên công ti có
quyền sở hữu một phần tài sản của công ti
tơng ứng với phần vốn góp vào công ti".
Theo chúng tôi, ở đây đ có sự nhầm lẫn khi
xác định thành viên công ti là chủ sở hữu tài
sản của công ti. Thực ra, hành vi góp vốn để
thành lập pháp nhân doanh nghiệp tồn tại
độc lập và tách bạch về mặt tài sản với chủ
sở hữu của nó đ làm thay đổi thực trạng
pháp lí về quyền sở hữu liên quan đến những
tài sản đ đợc chuyển cho pháp nhân doanh
nghiệp. Theo nguyên lí về sở hữu thì khi
pháp nhân doanh nghiệp thành lập một cách
chính thức về mặt pháp lí (sau khi đ làm
xong thủ tục đăng kí kinh doanh) thì không
thể tiếp tục khẳng định rằng tất cả tài sản mà
các thành viên đ cam kết góp và chuyển
thành vốn điều lệ của pháp nhân doanh
nghiệp tiếp tục thuộc sở hữu của các thành
viên. Lúc này, các thành viên trở thành chủ

doanh nghiệp tồn tại trên thơng trờng với
t cách là chủ thể pháp lí có khả năng tự chủ
tài chính, thực hiện đợc chế độ trách nhiệm
hữu hạn của mình. Về vấn đề này giáo s
Akiyama yasuhiro thuộc khoa luật Trờng
đại học Waseda cho rằng: "Doanh nghiệp là
pháp nhân cho nên doanh nghiệp có đủ t
cách để sở hữu tài sản. Nếu quy định cổ
đông hoặc nhân viên sở hữu tài sản của
công ti thì việc ban t cách pháp nhân cho
công ti không có ý nghĩa gì cả.
(1)

2. Cơ chế thị trờng đòi hỏi doanh
nghiệp nhà nớc vừa phải có quyền tự chủ
trong sản xuất kinh doanh vừa phải tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
Để đáp ứng yêu cầu này cần phải thực hiện
việc tách bạch giữa quyền sở hữu của Nhà
nớc và quyền quản lí, sử dụng tài sản trong
doanh nghiệp nhà nớc. Trong những năm
qua, Nhà nớc ta đ thực hiện nhiều giải pháp nghiên cứu - trao đổi
12 - Tạp chí luật học

nhằm cải cách, đổi mới doanh nghiệp nhà
nớc, xác lập và đảm bảo quyền tự chủ cho
doanh nghiệp nhà nớc, đặc biệt trong lĩnh

Theo đó, cần phải khẳng định dứt khoát là
Nhà nớc và doanh nghiệp nhà nớc là hai
chủ thể pháp lí độc lập và mối quan hệ pháp
lí giữa Nhà nớc và doanh nghiệp nhà nớc
giống nh mối quan hệ giữa thành viên công
ti và công ti. Bởi lẽ, về thực chất, doanh
nghiệp nhà nớc là công ti trách nhiệm hữu
hạn một thành viên (là Nhà nớc). Nh vậy,
khi pháp nhân doanh nghiệp nhà nớc đợc
thành lập chính thức, về mặt pháp lí thì tất
cả vốn và tài sản mà Nhà nớc đầu t
chuyển thành vốn điều lệ của doanh nghiệp
nhà nớc, trở thành tài sản của doanh nghiệp
nhà nớc. Trong trờng hợp này, Nhà nớc
ở vị trí của nhà đầu t cũng giống nh thành
viên công ti trong công ti đối vốn là ngời
đ đầu t (góp vốn) để hình thành nên pháp
nhân công ti. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý
với quan điểm của TS. Nguyễn Nh Phát
cho rằng "sẽ là không tởng tợng nổi khi
hành vi góp vốn của nhà đầu t vào doanh
nghiệp mà không làm thay đổi tình trạng
pháp lí về sở hữu đối với toàn bộ số tài sản
đợc biểu hiện trong phần vốn góp.
(2)
Xuất
phát từ nguyên lí đó, Điều 22 Luật doanh
nghiệp đ thể hiện rất rõ nguyên tắc về
chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho
công ti. Nếu không xác định cơ chế pháp lí

thì chỉ còn cách là Nhà nớc đứng ra làm
ngời bảo lnh cho doanh nghiệp của mình.
Nh vậy, doanh nghiệp nhà nớc sẽ không
còn là pháp nhân và việc Nhà nớc đứng ra
bảo trợ cho hoạt động của doanh nghiệp sẽ
không phù hợp với đờng lối, chính sách đổi mới
khu vực kinh tế quốc doanh.
Thứ ba, việc thừa nhận doanh nghiệp
nhà nớc là chủ sở hữu đối với những tài sản
thuộc vốn điều lệ cũng chỉ có tính tơng đối
vì đây cũng chỉ là loại sở hữu phái sinh và sự
tồn tại của nó luôn gắn với mục đích nhất
định. Doanh nghiệp nhà nớc là chủ sở hữu
tài sản bắt nguồn trực tiếp từ sở hữu nhà
nớc, đợc hình thành thông qua việc Nhà
nớc đầu t (góp vốn). Mặt khác, khi thực
hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
những tài sản của mình, doanh nghiệp nhà
nớc chỉ có thể xử sự theo điều lệ doanh
nghiệp, sự kiểm soát của chủ sở hữu doanh
nghiệp. Với t cách là chủ sở hữu doanh
nghiệp, Nhà nớc có quyền chi phối các
hoạt động của doanh nghiệp nh xác định
phơng hớng, kế hoạch sản xuất kinh doanh;
thông qua điều lệ doanh nghiệp, chỉ định bộ
máy quản lí; quyết định tăng giảm vốn điều
lệ; thu lợi tức từ hoạt động của doanh
nghiệp
Thứ t, việc xác định doanh nghiệp nhà
nớc là chủ sở hữu đối với tài sản của doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status