Bản chất của cổ phần hóa và sự cần thiết cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam - Pdf 23

PHẦN MỞ ĐẦU
***
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành một xu thế tất yếu của thế giới
đương đại, nó chi phối đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội của hầu hết các quốc
gia, các nước dù muốn hay không, dù giàu hay nghèo đều bị cuốn vào vòng xoáy của
cơn lốc này và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó.Để đứng vững trong
cơn lốc thị trường. Chúng ta đã chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi
đôi với hội nhập kinh tế quốc tế.Hội nhập tức là dám chấp nhận chơi trên một sân
chơi chung mà lợi thế nghiêng về các nước tư bản phát triển, một sân chơi có nhiều
cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro.Vì vậy để thành công thì năng lực cạnh
tranh của cả nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng phải không
ngừng được nâng cao.Ở nước ta, hiện nay có khoảng hơn 5000 doanh nghiệp Nhà
nước đang nắm những ngành những ,lĩnh vực then chốt là xương sống của nền kinh
tế nên nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.Hơn nữa, có một thực tế không
thể phủ nhận là ngày nay khu vực kinh tế tư nhân và các khu vực khác hoạt động tốt
hơn khu vực kinh tế Nhà nước, nếu không có sự quản lý sẽ tạo điều kiện cho tư nhân
phát triển.Vì vậy, để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế
quốc dân thì cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước được xác định là một
trong những giải pháp quan trọng trong bước đi hội nhập của Việt Nam.
1
I.Bản chất của cổ phần hóa và sự cần thiết cổ phần hóa một bộ phận doanh
nghiệp Nhà nước ở Việt Nam .
1.Bản chất cổ phần hóa.
Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu
thành công ty cổ phần tức doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu , cổ phần hóa nói chung
có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên
doanh, tại các doanh nghiệp Nhà nước .
Như vậy cổ phần hóa là quá trình đa dạng hóa chủ sở hữu của doanh nghiệp .Cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành
công ty cổ phần trong đó nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ đông tức là nhà

phương thức hoạt động của công ty doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa trở
thành công ty cổ phần điều lệ và thể thức hoạt động theo luật công ty .Còn doanh
nghiệp Nhà nước sau tư nhân hóa trở thành doanh nghiệp tư nhân và thể thức hoạt
động theo luật doanh nghiệp tư nhân.
Như vậy cổ phần hóa và tư nhân hóa doanh nghiệp Nhà nước la hai quá trình khác
nhau Tuy nhiên trong những điều kiện nhất định mà chúng có thể giống nhau và đều
là quá trình đa dạng hóa chủ sở hữu .Mặt khác tùy vào mức độ chuyển đổi quyền sở
hữu với vốn và tài sản của nhà nước trong doanh nghiệp mà khẳng định đó là cổ phần
hóa hay tư nhân hòa.
2.Sự cần thiết phải cổ phần hóa.
Có một thực tế mà mọi người đều thấy rõ là nhìn một cách tổng quát thì khu vực kinh
tế quốc doanh làm việc kém hiệu quả hơn khu vực kinh tế tư nhân và tập thể .Do
nhiều năm trước đổi mới chúng ta thực thi một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ,
bao cấp , coi kinh tế nhà nước đồng nhất với doanh nghiệp Nhà nước nên doanh
nghiệp Nhà nước phát triển với số lượng lớn và được hưởng chinh sách tài trợ tràn
lan mà không tính đến lỗ lãi không quan tâm đến tiết kiệm .Vì vậy gây ra tình trạng
thất thoát vốn đầu tư thường xuyên .Mặt khác về phần chinh phủ lại tin rằng các
doanh nghiệp Nhà nước sẽ đảm bảo thực hiện tốt mọi chủ trương phát triển kinh tế
xã hội đề ra nên chính phủ chẳng kiểm soát gay gắt ngân sách của các doanh nghiệp
Nhà nước .Vì vậy đã dẫn đến việc phải bù lỗ tràn lan cho nhiều doanh nghiệp Nhà
nước làm ăn kém hiệu quả ngay cả khi thị trường không cần đến những doanh
nghiệp ấy nữa .Vô hình chung sự trong quản lý của chính phủ thông qua cơ chế xin
cho cấp phát đã làm cho các doanh nghiệp Nhà nước mất đi tính năng động sáng tạo
3
trong sản xuất kinh doanh ,tạo ra thoi quen ỷ lại ,phụ thuộc vào các cơ quan cấp
trên .Mặt khác do không được quản lý tốt cách quản lý kinh tế theo kiểu hành chính
qua nhiều cấp bậc trung gian ,hệ thống kế hoạch hóa tài chính cứng nhắc đã khiến
cho các doanh nghiệp Nhà nước thiếu khả năng thích nghi với nền kinh tế thị trường
gây ra tình trạng làm ăn kém hiệu quả ,thua lỗ yếu kém triền miên .
Hơn nữa ,như ta đã biết các doanh nghiệp Nhà nước là bộ phận chủ yếu cấu thành

Ngay từ những năm đầu thập kỷ 80 Đảng và nhà nước đã chú trọng cải tiến quản lý
doanh nghiệp Nhà nước coi đây là mục đích thúc đẩy kinh tế nhà nước phát triển.
Đặc biệt sau Đại hội 6/1986 thực hiện sự nghiệp đổi mới Chính Phủ đã ban hành một
loạt pháp lệnh nghị định nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà
nước. Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian thực hiện chương trình thí điểm cổ
phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước vừa và nhỏ khi nó đã thỏa mãn các điều kiện
cần thiết như có lợi nhuận ,không mang tính chiến lược và do đó nhà nước không
cần sở hữu 100% vốn, ban giám đốc và người lao động thì tự nguyện tham gia vào
chương trình thí điểm.
Nhìn vào các tiêu chuẩn trên ta có thể thấy răng Việt Nam lúc đó dự định cổ phần
hóa theo hai giai đoạn. Những doanh nghiệp nhỏ không quan trọng thì dược cổ phần
hóa trước, những doanh nghiệp lớn và quan trọng cổ phần hóa sau, song kết quả của
chương trình này rất khiêm tốn, trong 5 năm từ 1992 đến 1996 chỉ có vẻn vẹn 5
doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa trên tổng số hơn 6000 doanh nghiệp Nhà
nước hiện có trong thời gian ấy. Năm doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty
cổ phần đều là những doanh nghiệp Nhà nước mới được thành lập có quy mô vừa và
nhỏ chủ yếu sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực không quan trọng. Việc triển khai thí
điểm cổ phần hóa còn quá chậm, không đạt yêu cầu mong muốn. Đây là giai đoạn
đầy khó khăn vì vấn đề tư tưởng cho các cán bộ , công nhân viên công ty chưa được
thông suốt, hơn nữa cơ chế vận hành của công ty cổ phần và cổ phần hóa còn là vấn
đề rất mới ở Việt Nam trong giai đoạn này.
Giai đoạn 2: (5/1996 – 5/1998) Mở rộng chương trình thí điểm.
5
Qua 4 năm thực hiện chương trình thí điểm cổ phần hóa tuy kết quả còn ít nhưng ta
đã có kinh nghiệm trong việc mở rộng cổ phần hóa trong thời gian tiếp theo. Vì vậy
năm 1996 sau khi đánh giá kết quả chương trình thí điểm để đáp ứng nhu cầu bức
xúc về vốn của doanh nghiệp Nhà nước và đẩy mạnh cổ phần hóa,
Chính Phủ đã quyết định mở rộng chương trình này . Và đây cũng là lần đầu tiên
Chính Phủ cam kết mạnh mẽ với cổ phần hóa. Tuy nhiên cổ phần hóa được mở rộng
song một lần nữa kết quả thu được không đáp ứng được kỳ vọng, từ 1996 đến 1998


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status