Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam - Pdf 13

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Lê Anh Quân
Lớp : Kế hoạch 48B
Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Trường : Đại học Kinh tế quốc dân
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
CỔ PHẦN HÓA VÀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM”
là một công trình nghiên cứu, nỗ lực của bản thân tôi trong suốt thời gian thực tập
cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn và
các cán bộ tại ban cải cách và phát triển doanh nghiệp thuộc Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương.
Những thông tin và số liệu được sử dụng trong bài là hoàn toàn trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2010
Sinh viên Lê Anh Quân
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập
Lời nói đầu
Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam đã có những biến đổi to lớn.
Cột mốc đánh dấu sự thay đổi lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam chính là việc Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO trong

Chuyên đề thực tập
cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là cổ phần hóa diễn ra dù đã đạt
được những thành tựu nhất định xong vẫn còn diễn ra chậm và khó có thể hoàn thành
theo đúng mốc thời gian khi luật doanh nghiệp nhà nước năm 2005 sẽ hết hiệu lực
vào ngày 1-7-2010 trong khi vẫn còn khoảng 1507 doanh nghiệp nhà nước đang tồn
tại. Đứng trước khó khăn đó chính phủ đã ban hành nghị quyết chuyển đổi những
doanh nghiệp đang tồn tại sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên để
giải tỏa áp lực về mặt thời gian. Sau đó khối doanh nghiệp vẫn được hướng đến mục
tiêu cổ phần hóa như đã định. Chính vì vậy thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi
doanh nghiệp nhà nước đã trở thành một mục tiêu vô cùng quan trọng và cần thiết đối
với nền kinh tế Việt Nam trong thời điểm này.
Với những lí do nêu trên em xin mạnh dạn trình bày những quan điểm, nghiên
cứu trong chuyên đề thực tập với đề tài: “Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển
đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.”
Chuyên đề thực tập của em gồm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.
Phần II: Thực trạng cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Phần III: Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam.
Trong khuôn khổ bài viết, mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, sưu tầm tài liệu và
nghiên cứu về đề tài trên xong em vẫn không tránh khỏi những sai sót, hạn chế. Vì
vậy em rất mong có được sự chỉ bảo của thầy cô để chuyên đề thực tập của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn cùng các cô bác, anh
chị trong ban cải cách và phát triển doanh nghiệp thuộc Viện nghiên cứu quản lý kinh
tế trung ương đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong quá trình hoàn thành
chuyên đề thực tập này.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2
Chuyên đề thực tập

giá cả, tự do lựa chọn đối tác và nghành nghề kinh doanh.
Xét về mặt hình thức, thì cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc Nhà
nước bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình cho các cá nhân hay tổ chức
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3
Chuyên đề thực tập
kinh tế trong hoặc ngoài nước, hoặc bán trực tiếp cho cán bộ, công nhân của chính
doanh nghiệp Nhà nước thông qua đấu thầu công khai, hay thông qua thị trường
chứng khoán để hình thành lên các Công ty TNHH hay Công ty Cổ phần.
Như vậy cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu
-chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là doanh nghiệp Nhà nước thành
công ty Cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp
với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được nhu cầu của kinh doanh hiện đại.
Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, có thể đưa ra khái
niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là: việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sở
hữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp đa
sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước
sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp.
2. Nội dung của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
2.1. Đối tượng cổ phần hóa
Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hoá là những doanh nghiệp Nhà nước
hội tụ đủ 3 điều kiện: có quy mô vừa và nhỏ; không thuộc diện Nhà nước giữ 100%
vốn đầu tư; có phương án kinh doanh hiệu quả hoặc tuy trước mắt có khó khăn
nhưng triển vọng tốt.
Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ 2 (doanh nghiệp không thuộc diện Nhà
nước giữ 100% vốn đầu tư) được coi là quan trọng nhất bởi những doanh nghiệp Nhà
nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước, là đòn bẩy kinh
tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định theo đúng định hướng XHCN.
2.2. Về lựa chọn hình thức tiến hành Cổ phần hóa

ký Cổ phần hoá thường có xu hướng định thấp giá trị doanh nghiệp, thông qua việc
khai báo không chính xác như khai thấp giá trị TSCĐ của doanh nghiệp, khai không
đúng lượng vốn…từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gây
thiệt hại cho Nhà nước. Ngược lại, hiện tượng cơ quan kiểm toán định giá cao hơn
giá trị thực của doanh nghiệp lại có thể làm thiệt hại cho người mua cổ phần.
2.4. Về việc xác định đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần
Các đối tượng được phép mua cổ phần đó là: các tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư ở Việt Nam trong đó cná bộ công
nhân viên tại các doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng được ưu tiên mua cổ phần.
Về số lượng cổ phần được mua có quy định như sau:
- Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt: Một pháp
nhân được mua không quá 10%, một cá nhân được mua không quá 5% tổng số cổ
phần của doanh nghiệp.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5
Chuyên đề thực tập
- Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt:
Một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá nhân được mua không quá 10%
tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
- Loại doanh nghiệp Nhà nước không tham gia cổ phần: không hạn chế số lượng cổ
phần lần đầu mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải đảm bảo số cổ đông
tối thiểu theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trên đây là mức quy định cụ thể về đối tượng mua cũng như mức mua cổ
phần, tuy nhiên nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích việc mua cổ
phần. Cụ thể là mọi người mua cổ phần sẽ được vay một cổ phiếu khi mua một cổ
phiếu bằng tiền mặt. Với người lao động, họ sẽ được Nhà nước bán cổ phần với mức
giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tượng khác, mỗi năm làm việc tại doanh
nghiệp được mua tối đa 10 cổ phần. Đối với người lao động nghèo trong doanh
nghiệp cổ phần hoá, ngoài việc được mua cổ phần ưu đãi họ còn được hoãn trả tiền
mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn được hưởng cổ tức, số tiền này sẽ trả dần trong

sức ép chuyển đổi doanh nghiệp mà còn là phương tiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động và phát triển khu vực doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, hoạt động theo thị
trường để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững và nâng cao hiệu quả
của toàn bộ nền kinh tế.
3.2. Các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
3.2.1. Chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con
Công ty mẹ- công ty con là loại hình liên kết mới mang bản chất đầu tư hoặc
liên kết tài chính giữa các doanh nghiệp sau khi cơ cấu lại các đơn vị thành viên tổng
công ty, hoặc cơ cấu lại các đơn vị thuộc các công ty nhà nước độc lập quy mô lớn,
hoặc doanh nghiệp thành viên của tổng công ty. Kết quả của quá trình này là các
công ty tự đầu tư, góp vốn mua cổ phần của nhau hoặc của các doanh nghiệp khác
ngoài tổng công ty, dẫn đến hình thành loại doanh nghiệp chi phối doanh nghiệp
khác. Hiện nay hầu hết các tổng công ty đều đã và đang đẩy mạnh đa dạng hóa sở
hữu các đơn vị thành viên, có tổng công ty đã cổ phần hóa hơn 50% đơn vị thành
viên của mình. Trong cơ cấu của tổng công ty này có loại hình công ty nhà nước qui
mô lớn( là công ty mẹ) nắm giữ quyền chi phối công ty khác( là công ty con). Bên
cạnh đó cũng có các doanh nghiệp độc lập ngoài tổng công ty, thậm chí doanh nghiệp
thành viên của tổng công ty cũng thực hiện các hoạt động đầu tư, góp vốn mua cổ
phần tương tự và trở thành công ty mẹ- công ty con.
Hiện nay có hai con đường để các tổng công ty và công ty nhà nước độc lập
chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Một số doanh nghiệp
chuyển đổi theo đề án do Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Trong khi đó, nhiều doanh
nghiệp đã hoạt động theo mô hình này một cách thực chất, không bằng giải pháp
hành chính chuyển đổi mà thông qua nhiều biện pháp kinh tế khác nhau như đầu tư
vào các doanh nghiệp, cổ phần hóa và đa dạng hóa đơn vị sở hữu thành viên, mua cổ
phần hoặc góp vốn, trong đó tổng công ty hoặc công ty nhà nước độc lập giữ cổ
phần, vốn góp chi phối.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
7
Chuyên đề thực tập

động của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bình đẳng với các doanh
nghiệp khác về quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức quản lý và môi trường hoạt động
kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, tiến dần đến việc các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế đều hoạt động theo một quy luật chung.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
8
Chuyên đề thực tập
3.2.3. Chuyển đổi cơ chế quản lý đối với DNNN
Đối với các DNNN mà Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn, dù đã chuyển
đổi sang công ty TNHH một thành viên hay chưa chuyển đổi, vẫn phải tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý để DNNN kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và
cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp
luật. Đối với những DNNN đã chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên, thì
hoạt động hoàn toàn theo luật doanh nghiệp bình đẳng với các doanh nghiệp khác.
Những DNNN chưa chuyển đổi theo nghị quyết TW3(khóa IX) cần xóa bao cấp,
đồng thời có chính sách đầu tư đúng đắn và hỗ trợ phù hợp đối với những ngành, lĩnh
vực, sản phẩm cần ưu tiên phát triển, trừ những bảo hộ cần thiết, có điều kiện đối với
những ngành, lĩng vực, sản phẩm quan trọng. Nghị quyết TW9 (khóa IX) đã phát
triển thêm một bước về cơ chế quản lý là yêu cầu kiên quyết xóa bỏ các loại bảo hộ
bất hợp lý, sớm khắc phục bao cấp bao gồm khoanh nợ, dãn nợ, xóa nợ, bù lỗ, cấp
vốn tín dụng ưu đãi tràn lan, yêu cầu khẩn trương xóa đặc quyền và độc quyền kinh
doanh của DNNN theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong những năm qua đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như
luật DNNN năm 2003, 2005, các Nghị định, quyết định và các văn bản hướng dẫn
nhằm đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của công
ty nhà nước, ngăn chặn khả năng kém hiệu quả của DNNN ngay từ khi thành lập, ban
hành cơ chế quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với DNNN, thành lập công ty mua bán
nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, ban hành chính sách đối với lao động dôi
dư do sắp xếp lại DNNN… Yêu cầu đối với DNNN phải không ngừng được đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả, lấy suất sinh lời trên vốn là một trong những tiêu

nhà nước phù hợp với các loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước, bảo đảm ở đâu có
vốn của nhà nước thì phải có tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền đại diện nhà
nước làm chủ sở hữu trực tiếp với nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm rõ
rang, không phân biệt DNNN do Trung ương hay địa phương quản lý…
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà
nước
1. Các nhân tố chủ quan
1.1. Xây dựng và phê duyệt phương án chuyển đổi
Một trong những thủ tục mà doanh nghiệp cần phải làm khi chuyển đổi thành
mô hình công ty là xây dựng điều lệ công ty sau chuyển đổi. Tuy nhiên, do vướng
mắc về mô hình tổ chức (đa số doanh nghiệp mong muốn chọn phương án Chủ tịch
công ty kiêm Tổng giám đốc nhằm tạo sự đơn giản, gọn nhẹ về bộ máy và tiết kiệm
chi phí), nhưng chưa có quy định cụ thể có cho phép hay không cho phép Chủ tịch
kiêm Giám đốc công ty, nên việc xây dựng, phê duyệt phương án chuyển đổi và xây
dựng, phê duyệt điều lệ bị kéo dài. Một số địa phương và doanh nghiệp tự quyết định
chọn phương án kiêm nhiệm giữa 2 chức danh này.
Bên cạnh đó, việc kết hợp tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp (trong cùng một
ngành, lĩnh vực) với quá trình chuyển đổi cũng dẫn đến quá trình chuyển đổi bị kéo
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
10
Chuyên đề thực tập
dài tại một số tỉnh. Hoặc, việc chưa hướng dẫn cụ thể xác định vốn điều lệ của các
công ty đặc thù như các công ty thủy nông (trong thực tế chỉ được giao quản lý và sử
dụng tài sản nhà nước) cũng gây khó khăn, tùy tiện trong xác định vốn điều lệ, kéo
dài thời gian chuyển đổi (có địa phương xác định vốn điều lệ bằng tổng giá trị tài sản
nhà nước giao cho công ty quản lý và sử dụng, nhưng cũng có địa phương xác định
vốn điều lệ bằng 30% tổng giá trị tài sản nhà nước giao cho công ty quản lý và sử
dụng).
Ngoài ra, những vướng mắc về cơ chế hoạt động xảy ra trong thực tế ở một số
doanh nghiệp đã chuyển đổi sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng

nước và các doanh nghiệp đã Cổ phần hoá nhất là tại các tổ chức tín dụng ngân hàng.
Việc tìm đối tác liên doanh, liên kết ở các công ty cổ phần cũng gặp khó khăn. Doanh
nghiệp Nhà nước vẫn được ưu đãi nhiều hơn. làm ăn thua lỗ vẫn được vay không
phải trả lãi, bù lỗ từ ngân sách Nhà nước và một số ưu đãi khác. Tất cả đều tác động
lớn tới tâm lý của các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào chuyển đổi, cổ phần hóa.
Mặt khác, nhiều giám đốc của các doanh nghiệp Nhà nước sợ rằng chuyển đổi
DNNN sẽ làm mất đi quyền lực vốn có bấy lâu nay. Tư tưởng bao cấp đã ăn sâu vào
suy nghĩ của nhiều doanh nghiệp nên cố tình trì hoãn chuyển đổi, lảng tránh nhiệm
vụ mới.
Nhiều quan niệm cho rằng các hình thức chuyển đổi DNNN ở Việt Nam là
một quá trình rối rắm, phức tạp và tốn thời gian, làm hao tổn các nguồn lực tài chính
và làm giảm sút sự kiên nhẫn của các doanh nghiệp. Hiện nay, Việt Nam chưa có một
phương pháp đánh giá tài sản doanh nghiệp thống nhất theo đúng chuẩn mực quốc tế.
Sự phức tạp này còn gia tăng bởi những yếu tố đi kèm như: việc xử lý nợ khó đòi,
thẩm định giá trị nhà xưởng máy móc thiết bị và quyền sử dụng đất. Do đó việc định
giá tài sản doanh nghiệp thường là khâu kéo dài nhất (khoảng trên 3 tháng).
Hiện nay, việc thiếu một phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo tiêu
chuẩn quốc tế sẽ làm cho chúng ta khó khăn rất nhiều trong việc huy động vốn từ các
nhà đầu tư nước ngoài, một yếu tố không thể xem nhẹ trong xu hướng hội nhập và
toàn cầu hoá hiện nay.
2. Các nhân tố khách quan
2.1. Pháp luật và cơ chế chính sách
Các quy định về chế độ với doanh nghiệp sau khi chuyển đổi vẫn chưa rõ
ràng. Các quy định được sửa đổi và bổ sung thường thì càng về sau càng có lợi, càng
có nhiều ưu đãi. Chính vì vậy, về mặt tâm lý, các doanh nghiệp không muốn triển
khai nhanh mà chờ đợi để được hưởng ưu đãi nhiều hơn.
Các văn bản quy định về Cổ phần hoá đã được ban hành cũng có nhiều vấn đề
cần xem xét lại. Quy định về bán cổ phần ưu đãi cho người lao động cũng không
được cụ thể hóa, linh hoạt. Có nơi người lao động không có tiền mua cổ phần ưu đãi;
lại có nơi do vốn Nhà nước ít, số lượng cổ phần bán ra hạn chế, không đủ cho nhu

tướng Chính phủ; chỉ các doanh nghiệp thuộc danh mục chuyển đổi sang công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước của các bộ ngành, địa phương, tổng công ty đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt mới được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên. Tuy nhiên, trong giai đoạn 8 năm vừa qua (từ khi ban hành văn bản pháp
quy hướng dẫn việc chuyển đổi từ năm 2001 đến nay), đã 3 lần thay đổi tiêu chí phân
loại: Quyết định 58/2002/QĐ-TTg (ban hành năm 2002); Quyết định 155/2004/QĐ-
TTg (ban hành năm 2004); Quyết định 38/2007/QĐ-TTg (ban hành năm 2007). Điều
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
13
Chuyên đề thực tập
đó dẫn tới tình trạng nhiều doanh nghiệp đã được đưa vào danh mục chuyển thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đang triển khai chuyển đổi thì bị dừng
lại để chuyển sang hình thức cổ phần hoá, đa dạng hóa sở hữu; hoặc doanh nghiệp đã
chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lại phải chuyển đổi thêm
một lần nữa sang hình thức cổ phần hóa, gây tốn kém về tài chính, công sức và thời
gian cho doanh nghiệp cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan.
Các tiêu chí phân loại chưa đủ cụ thể, chưa bao quát hết được yêu cầu thực tế
ở các ngành, vùng nên đã gây khó khăn hoặc dẫn đến tùy tiện trong xác định danh
mục công ty nhà nước chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Cụ
thể là:
- Hiện nay, tiêu chí phân loại doanh nghiệp để sắp xếp (trong đó có chuyển sang
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) chủ yếu phân theo từng ngành, lĩnh vực,
địa bàn. Nhưng trong thực tế, nhiều công ty nhà nước không chỉ hoạt động trong một
ngành, một lĩnh vực, tại một địa bàn mà hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực, tại
một số địa bàn khác nhau, kể cả vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, dẫn đến các
khó khăn, lúng túng trong áp dụng tiêu chí để phân loại hoặc dẫn đến sự tùy tiện
trong việc xác định các doanh nghiệp này thuộc loại giữ lại 100% vốn nhà nước hay
cổ phần hóa ở mức chi phối hoặc không chi phối, hoặc phải tách ra thành các bộ phận
để sắp xếp cho phù hợp với tiêu chí phân loại.

chủ trương “khẩn trương chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn sang
hoạt động theo chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” của Đảng và quy
định của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể là: các quyết định về tiêu chí phân loại doanh
nghiệp (Quyết định 155/2004/QĐ-TTg; Quyết định 38/2007/QĐ-TTg) chỉ xác định
định hướng doanh nghiệp thuộc loại Nhà nước giữ 100% vốn mà không xác định cụ
thể là phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vì vậy, Nghị
định 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp và chuyển đổi các nông lâm trường quốc doanh chỉ
cho phép các lâm trường đủ điều kiện thì chuyển thành công ty nhà nước, mà chưa đề
cập đến việc cho phép các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện được chuyển ngay thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp quy
định trong thời hạn 4 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực (tức đến 30/6/2010) thì
toàn bộ công ty nhà nước phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công
ty cổ phần hay nói cách khác là các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện cũng phải
chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Hơn nữa, một số địa
phương cũng muốn chuyển đổi sớm các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện sang hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhằm tránh phải chuyển đổi nhiều
lần, đỡ tốn kém về thời gian, công sức và tiền của doanh nghiệp và của Nhà nước
nhưng lại chưa được quy định tại Nghị định 200/2004/NĐ-CP nên phải xin phép như
trường hợp đặc biệt. Vì vậy, có thể nói quy định tại Nghị định 200/2004/NĐ-CP chưa
thật phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu chuyển đổi nhanh khu vực nông lâm
trường quốc doanh sang hoạt động theo mô hình mới, phù hợp với yêu cầu của kinh
tế thị trường.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
15
Chuyên đề thực tập
III. Sự cần thiết trong việc thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp
nhà nước
1. Sự thiếu hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước khi chưa
cải cách chuyển đổi
1.1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp còn

Chuyên đề thực tập
chỉ đạt 4,2%, trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nhà nước là 13,6%. Tỷ lệ khu vực
doanh nghiệp nhà nước thua lỗ theo thống kê năm 2003 chiếm tới 14,7%.
1.2. Doanh nghiệp nhà nước qui mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý,
dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý
Đến tháng 5-2001 cả nước có 5655 doanh nghiệp với tổng số vốn nhà nước
khoảng 126030 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp 22 tỷ đồng. Số doanh nghiệp
nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8% trong đó số doanh nghiệp có vốn
dưới 1 tỷ đồng trở xuống chiếm 18,2%( tại 14 tỉnh, loại doanh nghiệp này chiếm trên
90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịnh vụ thương mại, du lịch) ; số doanh nghiệp nhà
nước có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số doanh nghiệp có vốn trên
10 tỷ đồng chỉ chiếm 25%. Tổng số vốn lưu động của các doanh nghiệp nhà nước
vào khoảng 27 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng trên 21% tổng số vốn nhà nước bình quân mỗi
doanh nghiệp có 4,8 tỷ đồng nhưng phần lớn các doanh nghiệp không có hoặc có rất
ít vốn lưu động nên chủ yếu phải đi vay để sản xuất kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp
nhà nước cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh,
cấp quản lý và trên cùng một địa bàn.
1.3. Công nợ của các doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng ; lao động thiếu
việc làm và dôi dư còn lớn ; trình độ quản lý phần lớn còn yếu kém
Công nợ của doanh nghiệp nhà nước còn quá lớn. Nợ quá hạn, nợ khó đòi
ngày càng tăng. Năm 2004 trong số 15,1% nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 74,8% làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động
cũng như sự lành mạnh của các ngân hàng. Tổng số nợ phải trả của các doanh nghiệp
nhà nước tính đến 12-2006 theo bộ tài chính đã lên đến 207,8 tỷ đồng, trong đó 76%
là vay nợ ngân hàng, còn lại là do chiếm dụng các khoản phải nợ ngân sách, chiếm
dụng vốn của doanh nghiệp khác.Tình hình tài chính không lành mạnh một phần là
do lịch sử để lại, phần khác là mới tiếp tục phát sinh, nhưng còn lúng túng, chưa có
phương pháp khả thi để xử lý dứt điểm, làm cho hạch toán kinh tế của doanh nghiệp
bị méo mó, không minh bạch và doanh nghiệp nhà nước luôn trong tình trạng bị
động, ứng phó với các khoản nợ khó đòi. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh

1.4. Trình độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn hết sức lạc
hậu
Theo kết quả khảo sát của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường tại nhiều
doanh nghiệp nhà nước thuộc 10 ngành( luyện kim, hóa chất, nhựa, sản xuất phân
bón, dệt may, thực phẩm, chế biến nông thủy sản, sản xuất giấy, chế biến gỗ, điện-
điện tử, cơ khí chế tạo), thì ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại
hoặc trung bình của thế giới và khu vực( như phát, dẫn điện ; sản xuất sợi, dệt ; thi
công xây lắp ; sản xuất vật liệu xây dựng), còn lại thì các máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất của các doanh nghiệp còn lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20
năm( như cơ khí, sản xuất phôi), trình độ cơ khí hóa, tự động dưới 10%( chế biến
thủy sản) ; mức độ hao mòn hữu hình từ 30- 50%, thậm chí có 38% là ở dạng thanh
lý, 52% đã qua bảo dưỡng và sửa chữa. Đồng thời theo khảo sát của Viện khoa học
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
18
Chuyên đề thực tập
và Bảo hộ lao động thuộc tổng liên đoàn lao động Việt Nam ở 12 doanh nghiệp nhà
nước thuộc các ngành kinh tế thì trong số 727 thiết bị máy móc và dây chuyền nhập
khẩu có tới 76% thuộc thế hệ những năm 1950-1960, trên 70% đã hết thời hạn sử
dụng, 50% thuộc loại tân trang. Hậu quả là chưa tạo được nhiều sản phẩm quốc gia,
sản phẩm mũi nhọn có hàm lượng chất xám và công nghệ cao trên cơ sở kết hợp phát
huy lợi thế so sánh, nội lực của đất nước với sử dụng có hiệu quả hợp tác quốc tế.
2. Theo yêu cầu của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2005
Theo qui định của luật doanh nghiệp 2005( có hiệu lực từ ngày 1-7-2005),
Luật doanh nghiệp nhà nước chỉ được phép tồn tại trong vòng bốn năm kể từ khi luật
doanh nghiệp chính thức có hiệu lực. Đây cũng là một trong những điều khoản cụ thể
hóa cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Theo đó luật doanh nghiệp sẽ chính
thức hết hiệu lực vào thời điểm ngày 1-7-2010. Hiện có 1507 doanh nghiệp nhà
nước đang tồn tại , nếu không cổ phần hóa kịp sẽ phải chuyển sang công ty TNHH
một thành viên 100% vốn nhà nước. Do đó đây là thời điểm hết sức gấp rút để tiến
hành đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp

và quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng vẫn còn tồn tại. Do vậy sẽ khó lòng
tránh khỏi những sự hạn chế và chồng chéo khi Nhà nước vẫn sở hữu 100% vốn ở
các công ty TNHH một thành viên. Vấn đề quan trọng là thiết kế mô hình quản trị
công ty sau chuyển đổi trong đó Luật doanh nghiệp chỉ đóng vai trò là khung hoạt
động. Chuyển đổi khối doanh nghiệp nhà nước sẽ đồng nghĩa với việc nhà nước cần
tiếp tục cắt giảm mạnh sự chi phối của nhà nước trong nhiều lãnh vực ngành nghề
kinh doanh như hiện nay. Việc chuyển đổi có thể trước mắt chưa mang lại lợi ích cho
nền kinh tế hay chưa thể có thể lập tức tạo nên những thay đổi về chất. Do vậy với
việc đưa ra yêu cầu về mốc thời gian, nhà nước cần thực hiện giám sát việc chuyển
đổi chặt hơn, cùng với đó là chuẩn bị đánh giá, xác định giá trị của các doanh nghiệp,
phương án bán cổ phần, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp vì đích đến cuối
cùng của thay đổi doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hóa. Việc chuyển sang mô hình
công ty TNHH một thành viên là một bước đệm trong việc giải tỏa về mặt thời gian
công tác chuyển đổi khi luật doanh nghiệp sắp đến hạn hết hiệu lực.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
20
Chuyên đề thực tập
IV. Kinh nghiệm về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước trong
khu vực
1. Trung Quốc
Trên thực tế, cổ phần hóa ở Trung quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự
ra đời của công ty cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh). Sau đó, trong
văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc vụ viện Trung Quốc đã
cho phép các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn và vừa có điều
kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần hóa.
Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí điểm cổ
phần hóa.Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển
thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ phần
hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ phần đạt 358
tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ NDT là giá trị cổ phần

thuộc chế độ sở hữu toàn dân” được thông qua ngày 13/4/1998, đã quy định cụ thể về
các quyền lợi của DNNN như: Cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu
cầu của thị trường; có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có
quyền từ chối các nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự
tiêu thụ sản phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng… Có thể thấy, “Luật
Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” đã đem lại cho các doanh
nghiệp nhiều quyền tự chủ hơn trong sản xuất-kinh doanh, góp phần tháo gỡ các ràng
buộc về mặt hành chính, trả doanh nghiệp về đúng với vòng quay của thị trường. Để
cụ thể hoá “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, ngày
23/7/1992, Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các
DN công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” với nội dung không những tiếp tục
nâng cao quyền tự chủ cho DN, mà còn phản ánh xu thế mới trong cải cách, đó là
chuyển đổi cơ chế kinh doanh.
Năm 1997, Hội nghị Trung ương 4 khóa XV của Đảng CS Trung Quốc đã đưa
ra những luận điểm mới về cải cách thể chế kinh tế, đồng thời đề cập đến một số vấn
đề như: Quyền tài sản doanh nghiệp, quản lý điều hành doanh nghiệp, cổ phần hoá…
Đối với các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CPH, Chính phủ Trung Quốc thực hiện
một số biện pháp hữu hiệu như: Khuyến khích sáp nhập tài sản, quy phạm hóa việc
phá sản, thực hiện chuyển nợ thành cổ phần, trợ giúp các DN cải tạo kỹ thuật, mở
rộng quy hoạch vốn, giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người lao động. Đối với các
DN đã CPH, Chính phủ đã tạo điều kiện cho hưởng một số ưu đãi như: Thuế suất,
thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt được giảm thuế trong những năm đầu hoạt
động. Đối với những doanh nghiệp sau khi CPH mà đạt thành tích cao trong sản xuất-
kinh doanh, thì sẽ được tạo điều kiện thuận lợi tham gia vào thị trường chứng khoán,
được hưởng ưu đãi về tài chính như dành 10% cổ phần doanh nghiệp để thưởng bằng
cổ phiếu cho các cán bộ lãnh đạo và CNVC của doanh nghiệp v.v…
Có thể nói, mục đích căn bản của việc thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc
là thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà ở đó trước đây, Nhà nước luôn giữ vai trò độc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
22


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status