Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam (2) - Pdf 13

Lời nói đầu
Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam đã có những biến đổi to lớn.
Cột mốc đánh dấu sự thay đổi lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam chính là việc Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO trong
năm 2007 sau quá trình chuẩn bị 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán. Gia nhập vào
WTO cũng có nghĩa là Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, tham gia vào
sân chơi chung của thế giới, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Một
trong những thách thức to lớn mà Việt Nam sẽ gặp phải đó là sức ép cạnh tranh của
các doanh nghiệp nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng theo qui định chung khi gia
nhập vào ngôi nhà WTO. Đứng trước tình hình sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh
khi hội nhập, khối doanh nghiệp Việt Nam nói chung và hệ thống các doanh nghiệp
nhà nước nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém như: công nghệ lạc hậu, tài sản
manh mún, cơ chế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần người lao
động sa sút.... Nói chung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều lâm vào tình trạng
khủng hoảng, trì trệ, làm ăn cầm chừng.
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhà nước
như: cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, sắp xếp chuyển lại các doanh
nghiệp Nhà nước theo mô hình công ty mẹ-con, công ty trách nhiệm hữu hạn hay
thực hiện các hình thức bán khoán, cho thuê, hay giải thể các doanh nghiệp làm ăn
không hiệu quả... trong đó cổ phần hoá được coi là giải pháp hàng đầu, có khả năng
mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nước cũng như cho nhiều bộ phận xã hội khác.
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, đòi
hỏi Việt nam phải có những chuyển biến mạnh mẽ cả về kinh tế và chính trị , như vậy
sẽ chủ động trong vấn đề hội nhập và quan hệ quốc tế với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Công cuộc chuyển đổi doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh
nghiệp nhà nước nói riêng là điều kiện bắt buộc không chỉ để có thể cạnh tranh được
với các doanh nghiệp nước ngoài mà còn để có thể tham gia sân chơi theo đúng điều
lệ từ WTO. Việc cải cách hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với qui định của
WTO là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam. Do đó bộ luật doanh

Phần I: Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nước
I. Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
1. Cổ phần hóa
Cho đến nay, trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận. Khi nền kinh tế thị trường phát triển
kéo theo hạn chế là sự cạnh tranh khốc liệt và bất bình về mặt xã hội tăng lên. Để
giảm bớt và kìm hãm những hạn chế trên, đồng thời thực hiện chức năng quản lý của
mình, Nhà nước sử dụng một công cụ hữu hiệu là bộ phận kinh tế Nhà nước, mà
trung tâm là các doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng việc lạm dụng quá mức sự can thiệp
của khu vực kinh tế Nhà nước sẽ kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế. Từ đó vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển xã
hội đồng thời vai trò quản lý của Nhà nước vẫn được giữ vững.
Một hiện tượng kinh tế nổi bật trên toàn thế giới trong những năm 1980 là sự
chuyển đổi sở hữu Nhà nước : Chỉ tính từ năm 1984 đễn năm 1991, trên toàn thế giới
đã có trên 250 tỷ USD tài sản Nhà nước được đem bán.Chỉ riêng năm 1991 chiếm
khoảng 50 tỷ USD. Đến nay đã có hàng trăm nước phát triển trên thể giới đều xây
dựng và thực hiện cổ phần hoá một cách tích cực. Do đó, việc cổ phần hoá được coi
như là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục sự yếu kém trong kinh doanh của bộ
phận doanh nghiệp Nhà nước.Vậy cổ phần hoá là gì, vai trò, đặc điểm của nó ra sao,
mà nhiều nước trên thế giới sử dụng nó trong công tác quản lý kinh tế như vậy.
Theo tài liệu của hầu hết các học giả nước ngoài thì việc xem xét vấn đề cổ
phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là
quá trình Tư nhân hoá. Tư nhân hoá theo như định nghĩa của Liên Hợp Quốc là sự
biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một
nước ưu tiên thị trường. Theo cách hiểu này thì toàn bộ các chính sách, thể chế, luật
lệ nhằm khuyến khích, mở rộng, phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt quyền sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của
Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế tế cơ sở, giành cho thị
trường vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh đáng kể thông qua tự do hoá

hình thức đó là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp; bán một phần giá trị
thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp; tách một bộ phận của doanh nghiệp để
cổ phần hoá; bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để
chuyển thành công ty cổ phần.
2.3. Xác định giá trị doanh nghiệp
4
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức nhất
trong quá trình Cổ phần hoá. Có 2 nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp được đưa
ra, đó là:
Giá trị thực tế là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm
cổ phần hoá mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được. Người mua và
người bán cổ phần sẽ thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng có lợi. Tại
các nước có nền kinh tế phát triển, thoả thuận này diễn ra trên thị trường chứng
khoán, còn ở nước ta thoả thuận có thể diễn ra thông qua các công ty môi giới, kiểm
toán( đã diễn ra trên thị trường chứng khoán nhưng chưa phổ biến). Trên cơ sở xác
định được giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại
doanh nghiệp sẽ là phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải
trả.
Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ sách kế
toán của doanh nghiệp tại thời điểm Cổ phần hoá và giá trị thực tế của tài sản tại
doanh nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật,
nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm Cổ phần hoá.
Nguyên tắc này được đặt ra để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giá trị
doanh nghiệp.
Thực tế việc Cổ phần hoá các doanh nghiệp cho thấy, các doanh nghiệp đăng
ký Cổ phần hoá thường có xu hướng định thấp giá trị doanh nghiệp, thông qua việc
khai báo không chính xác như khai thấp giá trị TSCĐ của doanh nghiệp, khai không
đúng lượng vốn…từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gây
thiệt hại cho Nhà nước. Ngược lại, hiện tượng cơ quan kiểm toán định giá cao hơn

còn là vấn đề mang tính tư tư tưởng, chính trị, xã hội và tâm lý. Đổi mới doanh
nghiệp nhà nước thường có 2 nội dung chủ yếu là giảm qui mô khu vực doanh nghiệp
nhà nước và cải cách thể chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt sử dụng vốn nhà nước đầu
tư vào doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
còn lại.
Có hai cách tiếp cận trong công tác tiến hành đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
Cách thứ nhất đó là tư nhân hóa nhanh chóng hầu hết các doanh nghiệp nhà nước và
cách thứ hai đó là vừa tiến hành từng bước quá trình cổ phần hóa, đa dạng hóa sở
hữu, vừa chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty hiện
đại. Đây cũng chính là cách thức mà Việt Nam đang tiến hành áp dụng. Việc chuyển
đổi doanh nghiệp sang hoạt động theo chế độ công ty hiện đại đã được chính phủ
thông qua trong nghị định số 95/2006 và theo qui định của luật doanh nghiệp năm
2005 các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành
viên hoạt động theo luật doanh nghiệp.
6
Có thể hiểu khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động theo mô hình công ty trong đó
không thay đổi bản chất sở hữu mà chỉ thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp
nhà nước. Vốn của các doanh nghiệp này vẫn do nhà nước nắm giữ 100% nhưng
doanh nghiệp được chủ động hơn, quyền hạn, nghĩa vụ, tổ chức, quản lý sau chuyển
đổi sẽ tương tự như các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp. Việc chuyển
đổi doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty không chỉ là giải pháp để giải tỏa
sức ép chuyển đổi doanh nghiệp mà còn là phương tiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động và phát triển khu vực doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, hoạt động theo thị
trường để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững và nâng cao hiệu quả
của toàn bộ nền kinh tế.
3.2. Các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
3.2.1. Chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con
Công ty mẹ- công ty con là loại hình liên kết mới mang bản chất đầu tư hoặc
liên kết tài chính giữa các doanh nghiệp sau khi cơ cấu lại các đơn vị thành viên tổng

việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Liên kết bằng
vốn đầu tư này là hoàn toàn tự nguyện, phụ thuộc vào năng lực tài chính của các công
ty tự đầu tư vào nhau này. Những nhược điểm cố hữu của mô hình tổng công ty nhà
nước đang được khắc phục, nhất là nhược điểm về liên kết và tính đơn điệu trong cơ
cấu đơn vị thành viên.
3.2.2. Chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH 1 thành viên
Các doanh nghiệp thuộc đối tượng chưa chuyển đổi sở hữu, nhà nước còn nắm
giữ 100% vốn sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động
theo luật doanh nghiệp. Cho đến nay có khoảng 200 doanh nghiệp chuyển đổi theo
hình thức này và nhiều công ty TNHH một thành viên được thành lập mới từ vốn nhà
nước. Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 qui
định các doanh nghiệp nhà nước còn nắm giữ 100% vốn sẽ phải chuyển sang công ty
TNHH một thành viên trong thời hạn tối đa là 4 năm. Như vậy, số 1800 doanh nghiệp
mà Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn theo kế hoạch đến cuối năm 2006, kể cả tổng
công ty, các công ty mẹ, sẽ phải chuyển dần sang công ty TNHH một thành viên và
hoàn thành chuyển đổi vào thời điểm ngày 1 tháng 7 năm 2010.
Việc chuyển công ty nhà nước sang công ty TNHH một thành viên không chỉ
là sự chuyển đổi về hình thức pháp lý mà quan trọng hơn là thông qua sự chuyển đổi
tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước phát huy
đầy đủ quyền chủ động, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bình đẳng với các doanh
nghiệp khác về quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức quản lý và môi trường hoạt động
kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, tiến dần đến việc các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế đều hoạt động theo một quy luật chung.
8
3.2.3. Chuyển đổi cơ chế quản lý đối với DNNN
Đối với các DNNN mà Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn, dù đã chuyển
đổi sang công ty TNHH một thành viên hay chưa chuyển đổi, vẫn phải tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý để DNNN kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và
cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp

thành phần kinh tế khác, chuyển dần sang cơ chế thuê giám đốc, có thể thuê cả người
nước ngoài… Công ty nhà nước có các quyền chiếm hữu và sử dụng đối với vốn và
tài sản như các loại hình doanh nghiệp khác.
3.2.4. Chuyển đổi quyền chủ sở hữu
Đây là vấn đề đề khó khăn nhất của chuyển đổi DNNN, mặc dù là nội dung
quan trọng và được đề cập nhiều trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Từ Đại
hội Đảng VII và các Đại hội Đảng tiếp theo, cũng như trong nhiều nghị quyết Trung
ương của các kỳ Đại hội Đảng đã đưa ra các chủ trương như: xóa bỏ chế độ chủ
quản, cấp hành chính chủ quản, phân biệt quyền chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, chuyển
sang thực hiện chế độ quản lý công ty đối với DNNN, đầu tư vốn qua các công ty đầu
tư tài chính nhà nước, thành lập các công ty đầu tư tài chính nhà nước; Hội đồng
quản trị là đại diện trực tiếp sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp; Chính phủ thống
nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với DNNN, chính
phủ ủy quyền cho các bộ, phân cấp cụ thể cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Hội đồng quản trị tổng công ty nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu của
nhà nước phù hợp với các loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước, bảo đảm ở đâu có
vốn của nhà nước thì phải có tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền đại diện nhà
nước làm chủ sở hữu trực tiếp với nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm rõ
rang, không phân biệt DNNN do Trung ương hay địa phương quản lý…
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà
nước
1. Các nhân tố chủ quan
1.1. Xây dựng và phê duyệt phương án chuyển đổi
Một trong những thủ tục mà doanh nghiệp cần phải làm khi chuyển đổi thành
mô hình công ty là xây dựng điều lệ công ty sau chuyển đổi. Tuy nhiên, do vướng
mắc về mô hình tổ chức (đa số doanh nghiệp mong muốn chọn phương án Chủ tịch
công ty kiêm Tổng giám đốc nhằm tạo sự đơn giản, gọn nhẹ về bộ máy và tiết kiệm
chi phí), nhưng chưa có quy định cụ thể có cho phép hay không cho phép Chủ tịch
kiêm Giám đốc công ty, nên việc xây dựng, phê duyệt phương án chuyển đổi và xây

- Tuy luật doanh nghiệp qui định doanh nghiệp có quyền chủ động lựa chọn ngành
nghề, địa bàn kinh doanh đầu tư, nhưng vẫn còn có ý kiến cho rằng ngành nghề kinh
doanh của công ty con phải đúng như ngành nghề kinh doanh của công ty mẹ. Vì vậy
dẫn đến tình trạng cấp giấy đăng kí kinh doanh cho công ty con hoạt động trong mô
hình công ty mẹ - công ty con ở một số sở kế hoạch và đầu tư còn lúng túng làm
chậm hoặc cấp phép cho doanh nghiệp chưa đúng theo qui định hiện hành.
1.3.Về mặt tài chính và tư tưởng
Nhiều doanh nghiệp (gồm cả lãnh đạo và người lao động) cũng như nhiều cấp
quản lý vẫn ngại chuyển đổi do sợ mất đi nhiều quyền lợi. Có người lại nhận thức sai
11
về chuyển đổi cho rằng việc việc chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ dẫn đến mất chế độ,
chệch hướng XHCN…Có tình trạng phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp Nhà
nước và các doanh nghiệp đã Cổ phần hoá nhất là tại các tổ chức tín dụng ngân hàng.
Việc tìm đối tác liên doanh, liên kết ở các công ty cổ phần cũng gặp khó khăn. Doanh
nghiệp Nhà nước vẫn được ưu đãi nhiều hơn. làm ăn thua lỗ vẫn được vay không
phải trả lãi, bù lỗ từ ngân sách Nhà nước và một số ưu đãi khác. Tất cả đều tác động
lớn tới tâm lý của các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào chuyển đổi, cổ phần hóa.
Mặt khác, nhiều giám đốc của các doanh nghiệp Nhà nước sợ rằng chuyển đổi
DNNN sẽ làm mất đi quyền lực vốn có bấy lâu nay. Tư tưởng bao cấp đã ăn sâu vào
suy nghĩ của nhiều doanh nghiệp nên cố tình trì hoãn chuyển đổi, lảng tránh nhiệm
vụ mới.
Nhiều quan niệm cho rằng các hình thức chuyển đổi DNNN ở Việt Nam là
một quá trình rối rắm, phức tạp và tốn thời gian, làm hao tổn các nguồn lực tài chính
và làm giảm sút sự kiên nhẫn của các doanh nghiệp. Hiện nay, Việt Nam chưa có một
phương pháp đánh giá tài sản doanh nghiệp thống nhất theo đúng chuẩn mực quốc tế.
Sự phức tạp này còn gia tăng bởi những yếu tố đi kèm như: việc xử lý nợ khó đòi,
thẩm định giá trị nhà xưởng máy móc thiết bị và quyền sử dụng đất. Do đó việc định
giá tài sản doanh nghiệp thường là khâu kéo dài nhất (khoảng trên 3 tháng).
Hiện nay, việc thiếu một phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo tiêu
chuẩn quốc tế sẽ làm cho chúng ta khó khăn rất nhiều trong việc huy động vốn từ các

chưa hoạt động chuyên trách, đội ngũ quá mỏng, chưa đủ trình độ và kinh nghiệm để
giải quyết các vấn đề phức tạp, lại chưa có đủ thẩm quyền chức năng để tổ chức hoạt
động phối hợp làm cho các bước thủ tục thường dây dưa kéo dài…
2.3. Xác định tiêu chí, đối tượng chuyển đổi
Tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ chưa có tính ổn định, dài hạn dẫn tới đối tượng chuyển đổi sang công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên hay thay đổi, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện
chuyển đổi.
Theo quy định, việc phân loại để sắp xếp doanh nghiệp nhà nước phải căn cứ
vào tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước ban hành theo Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ; chỉ các doanh nghiệp thuộc danh mục chuyển đổi sang công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước của các bộ ngành, địa phương, tổng công ty đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt mới được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên. Tuy nhiên, trong giai đoạn 8 năm vừa qua (từ khi ban hành văn bản pháp
quy hướng dẫn việc chuyển đổi từ năm 2001 đến nay), đã 3 lần thay đổi tiêu chí phân
loại: Quyết định 58/2002/QĐ-TTg (ban hành năm 2002); Quyết định 155/2004/QĐ-
TTg (ban hành năm 2004); Quyết định 38/2007/QĐ-TTg (ban hành năm 2007). Điều
13
đó dẫn tới tình trạng nhiều doanh nghiệp đã được đưa vào danh mục chuyển thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đang triển khai chuyển đổi thì bị dừng
lại để chuyển sang hình thức cổ phần hoá, đa dạng hóa sở hữu; hoặc doanh nghiệp đã
chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lại phải chuyển đổi thêm
một lần nữa sang hình thức cổ phần hóa, gây tốn kém về tài chính, công sức và thời
gian cho doanh nghiệp cũng như các cơ quan nhà nước có liên quan.
Các tiêu chí phân loại chưa đủ cụ thể, chưa bao quát hết được yêu cầu thực tế
ở các ngành, vùng nên đã gây khó khăn hoặc dẫn đến tùy tiện trong xác định danh
mục công ty nhà nước chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Cụ
thể là:
- Hiện nay, tiêu chí phân loại doanh nghiệp để sắp xếp (trong đó có chuyển sang

được yêu cầu cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích đó.
Đối với 2 loại doanh nghiệp trên, các địa phương đã gặp khó khăn, lúng túng
trong việc sắp xếp, chuyển đổi công ty nhà nước, phải trình Thủ tướng Chính phủ xin
phép như những trường hợp đặc biệt.
- Tiêu chí phân loại doanh nghiệp chưa đủ cụ thể, nên gặp trở ngại trong việc đẩy
nhanh chuyển đổi doanh nghiệp sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp để thực hiện
chủ trương “khẩn trương chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn sang
hoạt động theo chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” của Đảng và quy
định của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể là: các quyết định về tiêu chí phân loại doanh
nghiệp (Quyết định 155/2004/QĐ-TTg; Quyết định 38/2007/QĐ-TTg) chỉ xác định
định hướng doanh nghiệp thuộc loại Nhà nước giữ 100% vốn mà không xác định cụ
thể là phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vì vậy, Nghị
định 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp và chuyển đổi các nông lâm trường quốc doanh chỉ
cho phép các lâm trường đủ điều kiện thì chuyển thành công ty nhà nước, mà chưa đề
cập đến việc cho phép các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện được chuyển ngay thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp quy
định trong thời hạn 4 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực (tức đến 30/6/2010) thì
toàn bộ công ty nhà nước phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công
ty cổ phần hay nói cách khác là các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện cũng phải
chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Hơn nữa, một số địa
phương cũng muốn chuyển đổi sớm các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện sang hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhằm tránh phải chuyển đổi nhiều
lần, đỡ tốn kém về thời gian, công sức và tiền của doanh nghiệp và của Nhà nước
nhưng lại chưa được quy định tại Nghị định 200/2004/NĐ-CP nên phải xin phép như
trường hợp đặc biệt. Vì vậy, có thể nói quy định tại Nghị định 200/2004/NĐ-CP chưa
thật phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu chuyển đổi nhanh khu vực nông lâm
trường quốc doanh sang hoạt động theo mô hình mới, phù hợp với yêu cầu của kinh
tế thị trường.
15
III. Sự cần thiết trong việc thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp

cạnh tranh yếu vẫn còn kéo dài. Theo số liệu của Bộ tài chính tính đến tháng 12-
2003 cho thấy tỉ lệ lãi trên doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp nhà nước rất thấp :
16
chỉ đạt 4,2%, trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nhà nước là 13,6%. Tỷ lệ khu vực
doanh nghiệp nhà nước thua lỗ theo thống kê năm 2003 chiếm tới 14,7%.
1.2. Doanh nghiệp nhà nước qui mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý,
dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý
Đến tháng 5-2001 cả nước có 5655 doanh nghiệp với tổng số vốn nhà nước
khoảng 126030 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp 22 tỷ đồng. Số doanh nghiệp
nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8% trong đó số doanh nghiệp có vốn
dưới 1 tỷ đồng trở xuống chiếm 18,2%( tại 14 tỉnh, loại doanh nghiệp này chiếm trên
90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịnh vụ thương mại, du lịch) ; số doanh nghiệp nhà
nước có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số doanh nghiệp có vốn trên
10 tỷ đồng chỉ chiếm 25%. Tổng số vốn lưu động của các doanh nghiệp nhà nước
vào khoảng 27 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng trên 21% tổng số vốn nhà nước bình quân mỗi
doanh nghiệp có 4,8 tỷ đồng nhưng phần lớn các doanh nghiệp không có hoặc có rất
ít vốn lưu động nên chủ yếu phải đi vay để sản xuất kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp
nhà nước cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh,
cấp quản lý và trên cùng một địa bàn.
1.3. Công nợ của các doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng ; lao động thiếu
việc làm và dôi dư còn lớn ; trình độ quản lý phần lớn còn yếu kém
Công nợ của doanh nghiệp nhà nước còn quá lớn. Nợ quá hạn, nợ khó đòi
ngày càng tăng. Năm 2004 trong số 15,1% nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 74,8% làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động
cũng như sự lành mạnh của các ngân hàng. Tổng số nợ phải trả của các doanh nghiệp
nhà nước tính đến 12-2006 theo bộ tài chính đã lên đến 207,8 tỷ đồng, trong đó 76%
là vay nợ ngân hàng, còn lại là do chiếm dụng các khoản phải nợ ngân sách, chiếm
dụng vốn của doanh nghiệp khác.Tình hình tài chính không lành mạnh một phần là
do lịch sử để lại, phần khác là mới tiếp tục phát sinh, nhưng còn lúng túng, chưa có
phương pháp khả thi để xử lý dứt điểm, làm cho hạch toán kinh tế của doanh nghiệp

1.4. Trình độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn hết sức lạc
hậu
Theo kết quả khảo sát của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường tại nhiều
doanh nghiệp nhà nước thuộc 10 ngành( luyện kim, hóa chất, nhựa, sản xuất phân
bón, dệt may, thực phẩm, chế biến nông thủy sản, sản xuất giấy, chế biến gỗ, điện-
điện tử, cơ khí chế tạo), thì ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại
hoặc trung bình của thế giới và khu vực( như phát, dẫn điện ; sản xuất sợi, dệt ; thi
công xây lắp ; sản xuất vật liệu xây dựng), còn lại thì các máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất của các doanh nghiệp còn lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20
năm( như cơ khí, sản xuất phôi), trình độ cơ khí hóa, tự động dưới 10%( chế biến
thủy sản) ; mức độ hao mòn hữu hình từ 30- 50%, thậm chí có 38% là ở dạng thanh
lý, 52% đã qua bảo dưỡng và sửa chữa. Đồng thời theo khảo sát của Viện khoa học
18
và Bảo hộ lao động thuộc tổng liên đoàn lao động Việt Nam ở 12 doanh nghiệp nhà
nước thuộc các ngành kinh tế thì trong số 727 thiết bị máy móc và dây chuyền nhập
khẩu có tới 76% thuộc thế hệ những năm 1950-1960, trên 70% đã hết thời hạn sử
dụng, 50% thuộc loại tân trang. Hậu quả là chưa tạo được nhiều sản phẩm quốc gia,
sản phẩm mũi nhọn có hàm lượng chất xám và công nghệ cao trên cơ sở kết hợp phát
huy lợi thế so sánh, nội lực của đất nước với sử dụng có hiệu quả hợp tác quốc tế.
2. Theo yêu cầu của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2005
Theo qui định của luật doanh nghiệp 2005( có hiệu lực từ ngày 1-7-2005),
Luật doanh nghiệp nhà nước chỉ được phép tồn tại trong vòng bốn năm kể từ khi luật
doanh nghiệp chính thức có hiệu lực. Đây cũng là một trong những điều khoản cụ thể
hóa cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Theo đó luật doanh nghiệp sẽ chính
thức hết hiệu lực vào thời điểm ngày 1-7-2010. Hiện có 1507 doanh nghiệp nhà
nước đang tồn tại , nếu không cổ phần hóa kịp sẽ phải chuyển sang công ty TNHH
một thành viên 100% vốn nhà nước. Do đó đây là thời điểm hết sức gấp rút để tiến
hành đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp
đang tiến hành cổ phần hóa sẽ phải nhanh chóng gấp rút hoàn thành công tác xác định
giá trị doanh nghiệp, cơ cấu phân chia cổ phần… còn những doanh nghiệp không thể

động. Chuyển đổi khối doanh nghiệp nhà nước sẽ đồng nghĩa với việc nhà nước cần
tiếp tục cắt giảm mạnh sự chi phối của nhà nước trong nhiều lãnh vực ngành nghề
kinh doanh như hiện nay. Việc chuyển đổi có thể trước mắt chưa mang lại lợi ích cho
nền kinh tế hay chưa thể có thể lập tức tạo nên những thay đổi về chất. Do vậy với
việc đưa ra yêu cầu về mốc thời gian, nhà nước cần thực hiện giám sát việc chuyển
đổi chặt hơn, cùng với đó là chuẩn bị đánh giá, xác định giá trị của các doanh nghiệp,
phương án bán cổ phần, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp vì đích đến cuối
cùng của thay đổi doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hóa. Việc chuyển sang mô hình
công ty TNHH một thành viên là một bước đệm trong việc giải tỏa về mặt thời gian
công tác chuyển đổi khi luật doanh nghiệp sắp đến hạn hết hiệu lực.
20
IV. Kinh nghiệm về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước trong
khu vực
1. Trung Quốc
Trên thực tế, cổ phần hóa ở Trung quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự
ra đời của công ty cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh). Sau đó, trong
văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc vụ viện Trung Quốc đã
cho phép các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn và vừa có điều
kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần hóa.
Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí điểm cổ
phần hóa.Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển
thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ phần
hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ phần đạt 358
tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ NDT là giá trị cổ phần
phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài. Nhiều công ty cổ phần đã tham gia thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thâm
Quyến, một số công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường.
Các công ty cổ phần của Trung Quốc được hình thành chủ yếu theo 3 cách:
Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp; Phát hành cổ phiếu công khai ra
xã hội; Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh

cụ thể hoá “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, ngày
23/7/1992, Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các
DN công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” với nội dung không những tiếp tục
nâng cao quyền tự chủ cho DN, mà còn phản ánh xu thế mới trong cải cách, đó là
chuyển đổi cơ chế kinh doanh.
Năm 1997, Hội nghị Trung ương 4 khóa XV của Đảng CS Trung Quốc đã đưa
ra những luận điểm mới về cải cách thể chế kinh tế, đồng thời đề cập đến một số vấn
đề như: Quyền tài sản doanh nghiệp, quản lý điều hành doanh nghiệp, cổ phần hoá…
Đối với các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CPH, Chính phủ Trung Quốc thực hiện
một số biện pháp hữu hiệu như: Khuyến khích sáp nhập tài sản, quy phạm hóa việc
phá sản, thực hiện chuyển nợ thành cổ phần, trợ giúp các DN cải tạo kỹ thuật, mở
rộng quy hoạch vốn, giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người lao động. Đối với các
DN đã CPH, Chính phủ đã tạo điều kiện cho hưởng một số ưu đãi như: Thuế suất,
thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt được giảm thuế trong những năm đầu hoạt
động. Đối với những doanh nghiệp sau khi CPH mà đạt thành tích cao trong sản xuất-
kinh doanh, thì sẽ được tạo điều kiện thuận lợi tham gia vào thị trường chứng khoán,
được hưởng ưu đãi về tài chính như dành 10% cổ phần doanh nghiệp để thưởng bằng
cổ phiếu cho các cán bộ lãnh đạo và CNVC của doanh nghiệp v.v…
Có thể nói, mục đích căn bản của việc thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc
là thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà ở đó trước đây, Nhà nước luôn giữ vai trò độc
22
quyền, để hình thành nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trong nội bộ doanh
nghiệp, tối ưu hóa kết cấu quản trị doanh nghiệp. Đây là lợi ích căn bản và lâu dài
nhất của việc cổ phần hóa các DNNN ở Trung Quốc. Thành quả nổi bật nhất là đến
Hội nghị TW 3 khóa XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, chế độ cổ phần đã được thực
hiện rộng rãi “là hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu”.
Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc trong 25 năm qua là một
quá trình tìm tòi sáng tạo về lý luận và không ngừng thử nghiệm trong thực tiễn,
nhằm làm cho doanh nghiệp nhà nước có sức sống, đạt hiệu quả kinh tế cao. Quá
trình đó có thể được chia làm 2 thời kì: trước và sau cổ phần hóa.

lạc hậu bế tắc. Năm 1992 Đại hội Đảng Cộng sản XIV chủ trương chuyển sang kinh
tế thị trường. Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV năm 1994 đã đưa ra chủ trương “ xây
dựng chế độ xí nghiệp hiện đại”, thực hiện chế độ công ty, xác định rõ quyền sở hữu
tài sản, xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm; phân tách chính quyền với doanh
nghiệp. Hội nghị Trung ương 5 khóa XIV Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1996 tiến
thêm một bước đưa ra chủ trương tinh giảm để tăng hiệu quả của doanh nghiệp nhà
nước. Nhà nước chọn 500 doanh nghiệp lớn làm trọng điểm, thực hiện các chính sách
ưu đãi để phát triển. Còn các doanh nghiệp nhỏ thì tùy điều kiện cụ thể, có thể áp
dụng các hình thức liên doanh, sát nhập, cổ phần hóa hoặc phá sản…
Thời kì sau khi cổ phần hóa là Đại hội XV của Đảng cộng sản Trung Quốc
năm 1997 đến nay. Có thể nói đây là thời kì quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà
nước ở Trung Quốc đã tiến hành dưới sự chỉ đạo của lý luận mới về chế độ sở hữu
trong nền kinh tế thị trường XHCN. Những luận điểm mới về chế độ sở hữu do Đại
hội XV đưa ra được coi là “ lần giải phóng thứ 3” trong quá trình cải cách thể chế
kinh tế ở Trung Quốc.
Đại hội XV Đảng cộng sản Trung Quốc đã xác định “ chế độ kinh tế cơ bản”
của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của CNXH là “ chế độ công hữu là chủ thể, kinh
tế thuộc nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển”. Với sự chỉ đạo của lý luận mới về chế
độ sở hữu, từ năm 1998 đến năm 2000 Trung Quốc đã tiến hành một đợt cải cách
doanh nghiệp nhà nước rộng lớn bằng giải pháp cổ phần hóa, với phương châm” nắm
lớn, buông nhỏ”. Nhà nước tập trung nắm khoảng 500 doanh nghiệp lớn và vừa, tiến
hành cải cách để tăng cường sức mạnh của các doanh nghiệp đó và tập hợp chúng lại
thành những tập đoàn lớn, còn hàng vạn các doanh nghiệp nhỏ thì có thể tùy tình hình
cụ thể áp dụng các giải pháp liên doanh, cổ phần hóa, bán, cho phá sản… Đợt cải
cách này đã mang lại những hiệu quả đáng ghi nhận, nhiều doanh nghiệp nhà nước
qui mô lớn và vừa trước đó sản xuất kinh doanh thua lỗ, qua cải cách đã chuyển sang
có lãi. Từ năm 1998 đến cuối năm 2001, ở Trung Quốc có 406 doanh nghiệp nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước chi phối cổ phần đã được tổ chức lại và đi vào hoạt
động. Trong 5 năm từ 1997 đến 2002, mặc dầu số lượng doanh nghiệp nhà nước
24

tập trung và sự hợp tác giữa các nước XHCN có tác dụng tích cực, các nước XHCN
đã thu được những thành tựu to lớn. Bước sang thập kỉ 70, đặc biệt là thập kỉ 80, các
nước Đông Âu ngày càng gặp nhiều khó khăn và họ đã tìm kiếm nhiều biện pháp cải
tiến cơ chế quản lý theo hướng thị trường như nâng cao vai trò tự chủ của các xí
25

Trích đoạn Tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp nhà nước Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa Các chính sách của nhà nước về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước Những tồn tạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status