Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Lời mở đầu
Đổi mới và phát triển luôn là mục tiêu hàng đẩu của mỗi quốc gia nói chung,ở
từng doanh nghiệp nói riêng. Nhưng trong bối cảnh hiện nay khi mà bất ổn về kinh tế,
trính trị và quá trình toàn cầu hoá có tác động bất lợi đến nước ta. Nhận thức được
điều này, ngay từ đầu Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ chương, chính sách
nhằm tong bước đưa nền kinh tế hội nhập cùng xu thế quốc tế. Một trong những biện
pháp đó chính là thông qua xuất khẩu. ở đây, xuất khẩu là một hoạt động có tác động
trực tiếp đến kết quả của quá trính sản xuất kinh doanh. Tư khi Việt Nam chính thức
gia nhập khối ASEAN và tương lai gần (dự kiến là cuối năm 2006) là một thành viên
của WTO thì xuất khẩu càng trở nên đặc biệt quan trọng. Bởi nó cho phép ta có thể
khai thác một cách tối đa lợi thế so sánh, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động, tiếp cận những tiến bộ của khoa học công
nghệ...
Trong xu hướng vận động chung đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam thì mặt hàng nông sản đã và đang tạo ra nhiều công ăn việc làm, tận dụng lợi
thế so sánh một cách có hiệu quả. Hiện nay lúa gạo là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn
đứng đầu của Việt Nam với hơn 80% lao động. Từ một nước phải nhập khẩu và cần
có sự trợ giúp của liên hiệp quốc về an ninh lương thực thì trong những năm vừa qua
hoạt động sản xuất lúa gạo của nước ta khá khởi sắc- diện tích, năng suet, sản lượng
gạo tăng lên rõ rệt, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giải
quyết việc làm cho hàng triệu người lao động,… thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Kết quả là, Việt Nam vươn lên đứng vị trí thứ hai trên thị trường thế giới về xuất
khẩu. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại lớn nhất ở Việt Nam là xuất khẩu với số lượng lớn
nhưng trị giá thực xuất khẩu thu về chưa cao; nguyên nhân sâu xa là do chất lượng
gạo chưa được đẩy mạnh; điều này làm giảm sức cạnh tranh của mặt hàng này trên
thị trường quốc tế. Bởi thế, tạo nên sức đột phá về mặt chất lượng gạo là yếu tố then
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
chốt nhằm đảm bảo sự ổn định và bền vững trong hoạt động xuất khẩu gạo của nước
ta.
I- Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế thị trường
1- Khái niệm xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các bên có trụ sở kinh doanh ở
những quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là nhà xuất khẩu chuyển giao quyền
sở hữu hàng hoá cho bên kia gọi là nhà nhập khẩu; bên này nhận hàng và trả tiền
hàng. Thực chất, xuất khẩu là hoạt động sản xuất hàng hoá tại một nước và đem bán
sang nước khác; chủ thể thực hiện hoạt động này được gọi là nhà xuất khẩu.
Theo lệnh số 10/2005/L-CTN ngày 27-6-2005 của chủ tịch nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố Luật thương mại mới, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01-01-2006 thay cho Luật thương mại ngay 10-05-1997. Tại Điều 28 có nêu
“xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc từ
khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo
quy định của pháp luật.”
2- Vai trò của xuất khẩu và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Trong cơ cấu kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới thì hoạt động xuất
khẩu luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nó phản ánh tốc độ phát triển kinh tế
xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mà cụ thể ở đây là:
Thứ nhất: Tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Từ đó kết hợp hài
hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, góp phần tạo ra những
biến chuyển tốt để giải quyết những vấn đề còn bức xúc trong xã hội .
Thứ hai: Tăng thu ngoại tệ tạo nguồn vốn cho đất nước và cho cả nhập khẩu,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời cải thiện cán
cân thanh toán, cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ cho ngân sách nhà nước và
qua đó tăng khả năng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại thay
thế cho những thiết bị lạc hậu còn đang sử dụng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế
đất nước.
Thứ ba: Xuất khẩu tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh. Nhờ có cạnh tranh đã thúc
trong nước so với các doanh nghiệp nước ngoài như đội ngũ lao động dồi dào với chi
phí rẻ; nguồn tài nguyên trong nước phong phú, sẵn có, hoạt động xuất khẩu từng
bước được hoàn thiện và nâng cao đáp ứng mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, xuất khẩu tạo tiền đề nâng cao năng lực kinh doanh của doanh
nghiệp: Tiếp cận và gắn liền thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có thể học hỏi, tiếp
thu kiến thức mới, đúc kết kinh nghiệm kinh doanh cần thiết. Quan trong hơn là tránh
vấp phải các vụ kiện như các năm vưa qua chúng ta đã bị vấp phải.
Ba là, xuất khẩu góp phần nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, tạo dựng và
củng cố uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài: Các doanh
nghiệp ngoại thương nếu như biết chú trọng áp dụng công nghệ tiên tiến, các tiêu
chuẩn quốc tế; phương thức quản lý hiệu quả và đặt yếu tố chất lượng lên hàng đầu
nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng nước ngoài thì vai trò mục tiêu thứ 3
chắc chắn sẽ đạt được.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Bốn là, xuất khẩu giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh tế: dựa trên cơ
sở tăng doanh thu theo qui mô xuất khẩu, từ đó góp phần tăng lợi nhuận theo mục
tiêu doanh nghiệp đề ra. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia kinh doanh thì
đều hường tới cái đích cuối cùng là lợi nhuận. Một mặt để duy trì sự tồn tại, mặt
khác ngày càng mở rông quy mô sản xuất cả chiều rộng lẫn chiều sâu. muốn thực
hiện được điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao uy tín, vị
thế; luôn luôn phải đổi mới công nghệ kết hợp phương thức kinh doanh hợp lý có
hiệu quả.
2.3. Vai trò thực hiện hợp đồng xuất khẩu đối với doanh nghiệp.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, ở lĩnh vực xuất khẩu bất kì
doanh nghiệp nào cung muốn có được thật nhiều hợp đồng. Để có nó đã khó nhưng
thực hiện nó còn là vấn đề khó hơn. Thể hiện ở những điểm sau;
- Thực hiện hợp đồng sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cũng như doanh thu
cho doanh nghiệp.
- Nếu làm tôt và chính xác nhứng gì đã kí trong hợp đồng thứ nhất còn
hải quan
Thuê tàu và
mua bảo hiểm
Kiểm tra
hàng hoá
Giao hàng
lên tàu
Làm thủ tục
thanh toán
Giải quyết
khiếu nại
Ký kết hợp
đồng XK
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Nếu hợp đồng qui định việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
trong hợp đồng, doanh nghiệp xuất khẩu cần nhắc nhở, đôn đốc bên nhập khẩu mở
thư tín dụng (L/C- Letter of credit) đúng thời hạn. Chỉ khi người mua mở L/C mới
thể hiện rõ ý chí thực sự muốn nhận hàng và thanh toán tiền hàng doanh nghiệp tiến
hành và đẩy nhanh các khâu tiếp theo trong hợp đồng.
1.3. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá.
Muốn thực hiện các hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, doanh nghiệp phải có giấy
phép xuất khẩu hàng hoá. Giấy phép xuất khẩu là một loại công cụ quản lý của các
nước về các hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Trước khi muốn xuất khẩu
doanh nghiệp phải xin giấy phép xuất khẩu. Tại điêu 28 khoản 3 luật thương mại
2005 viết “Căn cứ vào các điều kiện kinh tế – xã hội của từng thời kỳ và điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chình phỉ quy định
cụ thể danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu và danh mục hàng hoá được xuất khẩu theo
giấy phép của cơ quan nhà nước có thầm quyền và thủ tục cấp giấy phép”. Quy định
này không áp dung với các mặt hàng quản lý riêng: sách, gạo, chất nổ, ngọc trai, kim
loại, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, vũ khí và đồ cổ.
hiện hoặc không thực hiện. Căn cứ để quyết định nghĩa vụ thực hiện các nghiệp vụ
này của doanh nghiệp và mức độ thành công, đó là dựa vào các yếu tố như: điều kiện
cơ sở giao hàng, đặc điểm hàng hoá và điều kiện vận chuyển.
1.7. Làm thủ tục hải quan.
Để hàng hoá có thể xuất qua biên giới quốc gia, các doanh nghiệp kinh doanh
quốc tế cần làm thủ tục hải quan, với ba bước chủ yếu sau:
Bước 1. Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ
hải quan.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
* Trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan
được khai và gửi hồ sư hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải
quan.
Bước 2. Xuất trình hàng hoá: đây là bước làm thủ tục hải quan tiếp theo.
Doanh nghiệp cần sắp xếp hàng hoá xuất khẩu, phương tiện vận tải đến địa điểm quy
định; sau đó tiến hành việc mở, đóng các kiện hàng nhằm tạo điều kiện cho cán bộ
hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;
Bước 3. Thực hiện các quyết định của hải quan: dựa vào các quyết định của
cán bộ hải quan, doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc: thông quan vô điều
kiện, thông quan có điều kiện (sau khi sửa chữa, bao gói lại,…), thông quan sau khi
đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
1.8. Giao hàng
Giao hàng có thể được thực hiện theo đường biển, đường không, đường thuỷ,
đường sắt, đường ống, đường ô tô. Hiện nay, ở nước ta hàng xuất khẩu chủ yếu được
giao bằng đường biển, đường không và đường sắt. Trong đó, giao hàng theo đường
biển quan trọng hơn cả.
1.9. Làm thủ tục thanh toán.
Công việc này là dấu hiệu kết thúc quá trình thực hiện hợp đồng. Hiệu quả hợp
đồng cũng như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu phụ thuộc không
nhỏ vào chất lượng của việc thanh toán. Nó đảm bảo cho người xuất khẩu thu được
- Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể gửi đơn kiện
tại Hội đồng trọng tài để giải quyết.
III- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá nói
chung và mặt hàng gạo nói riêng.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá nói
chung.
1.1 . Các yếu tố khách quan.
a/ Hệ thống chính sách- luật pháp
Với tư cách là các chủ thể kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận vô điều
kiện nhóm nhân tố này để có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Một số nhân tố
điển hình ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh
nghiệp như thuế quan, hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu…bỗng nhiên thay đổi sau khi
hợp đồng được kí thì nhiều khí chúng không còn có thể thực hiện được nữa
b/ Các quan hệ kinh tế quốc tế
Thương mại quốc tế là hoạt động hướng ra thị trường nước ngoài với các hệ
thống chính trị, văn hoá, phong tục, tập quán,…khác nhau. Do vậy, khi thực hiện một
hợp đồng nào đó chúng ta cũng cần phải xem xét đến các yếu tố này.
Mặt khác, sau khi kí hợp đồng đang trong khoảng thời gian thực hiện lại lẩy
sinh mâu thuẫn trong quan hê kinh tế giữa nước có đơn vị xuất khẩu và nước có đơn
vị nhập khẩu. Thì ngay lập tức có thể hợp đồng đó bị huỷ bỏ do chính sách cấm vận
của một hoặc cả hai nước đó đưa ra.
c/ Tình hình chính trị trong và ngoài nước
Tình hình kinh tế- chính trị trong và ngoài nước tác động đến hoạt động xuất
khẩu hàng hoá trong việc thực hiện hợp đồng nói chung gồm các yếu tố như chiến
tranh, nội chiến,…Song đặc biệt quan trọng là năng lực cung trong nước (VD: lượng
cung bỗng nhiên không đủ để đáp ứng về số lượng, chất lượng…như trong hợp
đồng) và cầu về mặt hàng xuất khẩu ở thị trường nước ngoài ảnh hưởng rất lớn đến
* Trình độ kiến thức chuyên môn của đội ngũ lao động
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Yếu tố này hiện nay cũng là mối quan tâm của các doanh nghiệp khi muốn đẩy
mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu. Một doanh nghiệp không thể đạt hiệu quả cao
trong kinh doanh xuất khẩu khi nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ còn kém, khả năng
thông hiểu ngôn ngữ và ý đồ của khách hàng chưa cao,…Do đó, một trong những thế
mạnh của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu là biết quan tâm
nhiều hơn đến nhân tố con người.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Nhóm yếu tố này bao gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị công nghệ,…ảnh
hưởng trực tiếp đến năng xuất, chất lượng hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp. Với
một dây chuyền sản xuất tiên tiến phù hợp giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí
nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, do đó, góp phần nâng cao hiệu quả
kinh doanh hàng xuất khẩu và ngược lại.
* Ngoài các yếu tố nêu trên, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp còn chịu tác động
của các nhân tố khác như yếu tố quản lý, tổ chức hành chính…
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng xuất khẩu gạo nói riêng.
Các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng; tác
động theo hai hướng tích cực và tiêu cực đến thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá
nói chung và mặt hàng gạo nói riêng. Tuy nhiên, với tư cách là một bộ phận riêng
biệt, độc lập; thực hiện hợp đồng xuất khẩu gạo còn chịu tác động của nhóm yếu tố
riêng. Điều này biểu hiện cụ thể như sau:
2.1. Nhóm yếu tố khách quan, bao gồm:
- Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu, địa hình, lũ lụt, hạn hán…
- Tình hình sản xuất trong nước: liên quan đến các vấn đề như khả năng cung
ứng gạo xuất khẩu, giá thu mua gạo trong nước,…Ngoài ra, các khâu sản xuất- chế
biến và bảo quản gạo xuất khẩu không kém phần quan trọng, trong đó gồm một số
khía cạnh đặc trưng như: kỹ thuật sản xuất (cấy giống, gặt hái, đập tuốt, chế biến, bảo
quản…), cơ sở vật chất ( máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, hệ thống thuỷ
mại). Công ty được thành lập theo quyết định 217 TTg ngày 23 tháng 6 năm 1979
của Thủ tướng Chính phủ và quyết định 58/NT-QĐ ngày 10 tháng 8 của Bộ Nội
thương.
Những ngày đầu thành lập cơ sở vật chất còn thiếu thốn, về tổ chức gồm có một
giám đốc và 20 cán bộ công nhân viên nhưng bằng nghị lực và ý chí vươn lên đã
nhanh chóng xáo đi sự trở ngại của cơ chế xơ cứng thời bao cấp, Ban lãnh đạo Công
ty, đã mạnh dạn đề xuất với Bộ nội thương và Nhà nước cho Intimex được thực hiện
cơ chế tự cân đối tự trang trải trong kinh doanh, thay cho cơ chế bù chênh lệch ngoại
thương là cơ chế thông lĩnh các hoạt động xuất nhập khẩu thời bấy giờ. Chọn phương
thức này là một cuộc cách mạng, một bước ngoặt đối với Intimex, chấp nhận một thử
thách lớn lao.
Để giải đáp bài toán nan giải trên, Intimex đã vận dụng tinh thần Nghị định 40CP,
đi vào khai thác khu vực kinh tế tập thể (các hợp tác xã) để khơi dậy tiềm năng tiềm
ẩn dồi dào, bị hạn chế và kìm hãm trong cơ chế quan liêu bao cấp. Hướng đi này đã
tạo được công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, phát triển nhiều ngành nghề xuất
khẩu. Nhờ có trao đổi hàng hóa mà hàng năm Intimex đã mang về cho đất nước
trong giai đoạn này một nguồn hàng tiêu dùng phong phú đa dạng, bổ sung cho nhu
cầu tiêu dùng trong nước, góp phần cân đối cho ngành Nội thương.
Sự thành công này một lần nữa được Nhà nước khẳng định, năm 1986 Chính phủ
đã quyết định xếp Intimex vào hàng các Tổng công ty lớn của Bộ Nội thương,
Intimex đứng ngang hàng với các Tổng công ty lớn, lâu năm trong ngành (chức năng
nhiệm vụ được hoàn thiện hơn ) và năm 1988 Nhà nước tặng thưởng Huân chương
lao động hạng 3 cho Tổng công ty.
Tháng 7 năm 1987 Bộ Nội thương sát nhập công ty Hữu nghị vào Tổng Công ty
Intimex, phạm vi hoạt động của Tổng công ty lại càng được mở rộng, nhiều chức
năng mới mẻ được bổ sung như: bán hàng thu ngoại tệ mạnh, chi trả kiều hối, kinh
doanh nội địa, hoạt động dịch vụ… Trong 2 năm 1988 – 1989 từ chỗ quan hệ với các
thị trường truyền thống, Intimex đã dần đặt chân vào rất nhiều thị trương mới.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Có thể nói giai đoạn từ 1999 đến 2003 là giai đoạn phát triển và tăng trưởng
mạnh mẽ của Công ty và được đánh giá là doanh nghiệp hàng đầu của Bộ thương
mại. Trong giai đoạn này, Công ty ngày càng hoàn thiện, giữ vững và đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu, kinh doanh nội địa và sản xuất. Cùng vói sự lớn mạnh về kinh tế,
Công ty ngày càng phát triển về quy mô và lĩnh vực kinh doanh.
Năm 2002 là năm mà công ty phải hoàn thiện một loạt các dự án nằm trong
định hướng. Ban giám đốc và Ban chấp hành Đảng uỷ thống nhất ý chí hành động
quyết tâm lãnh đạo Công ty khắc phục các khó khăn tồn tại đẩy mạnh việc thực hiện
các dự án đầu tư nằm trong hoạch định để sớm đưa vào khai thác kinh doanh sản
xuất, đồng thời Công ty cũng đề ra các biện pháp thực hiện các chương trình khác
của định hướng như đầu tư cơ sở vật chất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, đầu tư
phát triển ngành hàng thuỷ hải sản, đầu tư phát triển kinh doanh thị trường trong
nước…
Như vậy kể từ ngày thành lập, Công ty Intimex đã trải qua biết bao thăng trầm
với bốn lần đổi tên cho phù hợp với quá phát triển và hoàn thiện về mọi mặt:
- Công ty XNK nội thương và HTX
- Tổng công ty XNK nội thương và HTX
- Công ty xuất nhập khẩu nội thương và hợp tác xã Hà Nội
- Công ty XNK dịch vụ thương mại – Bộ thương mại
- Năm 2000 được đổi thành Công ty xuất nhập khẩu Intimex
Hiện nay:
+ Tên giao dịch đối ngoại của Công ty là:
INTIMEX-IMPORT-EXPORT CORPORATION
+ Tên điện tín là: INTIMEX
+ Trụ sở chính của Công ty đặt tại 96 Trần Hưng Đạo- Quận Hoàn Kiếm-
Hà Nội.
+ Bảng 1: thồng tin cần biết về Intimex:
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Trong các chức năng trên, chức năng kinh doanh thương mại là chính, cấc hoạt
động khác mang tính hỗ trợ để thúc đẩy hoạt động kinh doanh thương mại.
2.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ trươc đây của Intimex là kinh doanh xuất nhập khẩu dưới hình thức
trao đổi hàng hoá nội thương và hợp tác xã với các nước XHCN anh em và một số
nước khác. Còn hiện nay doanh nghiệp đã có những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
* Xây dựng và tổ chức các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu, gia công, lắp ráp, kinh doanh thương mại, dịch vụ khách sạn du lịch,
siêu thị…
* Xây dựng các phương án kinh doanh sản xuất và dịch vụ phát triển theo
mục tiêu và chiến lược của công ty.
* Tổ chức nghiên cứu, nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ kỹ thuật,
cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với thị hiếu khách hàng.
* Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện chế độ chính sách quản lý và sử
dụng tiền vốn, tài sản, nguồn lực, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, bảo toàn vốn và
phát triển, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
* Thực hiện mọi đầy đủ cam kết trong hợp đồng kinh tế ký kết với các tổ
chức nước ngoài và trong nước.
* Quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ công nhân viên chức
theo pháp luật, chính sách của Nhà nước và sự quản lý phân cấp của Bộ để thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, chăm lo đời sống, tạo điều kiện thuận lợi
cho người lao động và thực hiện vệ sinh môi trường, thực hiện phân phối công bằng.
Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội theo qui định của pháp luật, phạm vi quản lý của công ty.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
P. Tổ Chức
Cán Bộ & LĐ
Tiền Lương
P. Tài Chính-
Kế Toán
Nẵng
C.N Intimex
Hồ Chí Minh
C.N Intimex
Đồng Nai
C.N Intimex
Mát-xco-va
Trung Tâm TM
Intimex
X.Nghiệp May
Intimex
XN xe máy
Intimex
XN KD tổng
hợp Intimex
XN KD tổng
hợp Intimex
Tây Ninh
XN KD tổng
hợp Intimex
Đồng Nai
XN chế biến
nông sản XK
Intimex
Nhà máy sản
xuất tinh bột
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Bảng 2: Kết quả kinh doanh chung
Đơn vị : Triệu đồng
2001 2002 2003 2004 2005
80,000
100,000
120,000
140,000
2001 2002 2003 2004 2005
KH xk
KN NK
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
Bảng 3: Kim ngạch xuât nhập khẩu
Nguồn: Phòng kinh tế tổng hợp của công ty
Biểu đồ về
kim ngạch XNK
của Intimex (2001-2005)
‘đơn vị tính 1000 USD’
Tuy còn gặp phải nhiều khó khăn do những biến động của thị trường, nhưng
qua biểu đồ cho thấy nhìn chung kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty vẫn tăng
một cách đều đặn. Điều này khẳng định rằng đó là lỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ
công nhân viên, ban lãnh đạo.
5. Các lĩnh vực kinh doanh.
5.1.Thương mại.
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44
Nam Kim ng?ch XK (USD)
Kim ngạch NK(USD) KN XNK(USD)
2001 52.547.710 25.206.081 77.753.791
2002 63.106.201 31.079.909 94.186.110
2003 76.638.936 32.703.897 109.342.833
2004 94.000.000 39.000.000 133.000.000
2005 117.463.338 42.367.852 159.831.190
Khoa: Thương Mại Trường: ĐH KTQD
tạo được niềm tin với bạn hàng. Bằng chứng là đã có rất nhiều hợp đồng được kí kết
và đi vào thực hiện. Để có được kết quả này toàn thể cán bộ công nhân viên của
Công ty đã phải lỗ lục hết mình.
2. Giục mở L/C
Trên cơ sở các thoả thuận, cam kết trong hợp đồng xuất khẩu gạo về phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ, nhằm đẩy nhanh tiến trình thực hiện hợp đồng,
Công ty nhanh chóng nhắc nhở, đôn đốc bên nhập khẩu mở thư tín dụng. Công việc
này được thực hiện chủ yếu bằng thư điện tử, fax; do cước phí điện thoại quốc tế còn
khá cao nên trong những thương vụ quan trọng, Công ty mới sử dụng điện thoại trực
tiếp.
Hiện nay, để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng nên công ty áp dụng hầu hết
mọi phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế nó chỉ phụ thuộc vào điều kiện
thanh toán được gi trong hợp đồng như: Phương thức chuyển tiền(R); phương thức
nhờ thu (C/P); phương thức tín dụng chứng từ (D/C); thư tín dụng (L/C); điện chuyển
tiền (TT)…
3. Xin giấy phép xuất khẩu
Là một Công ty thuộc Bộ thuơng mại với các quan hệ rông khắp của mình nên
việc xin giấy phép xuất hết sức nhanh chóng. Bởi vậy ở khâu này nếu như mặt hàng
xuất khẩu là hợp pháp thì thu tục được thực hiện nhanh gọn, rút ngắn được quy trình
thực hiện hợp đồng của Công ty khiến các bạn hàng rất yên tâm. Đó cũng là một lợi
thế cho Intimex.
4. Chuẩn bị nguồn hàng
4.1. Thu gom lô hàng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, Công ty tiến hành các bước thu gom
gạo xuất khẩu như sau:
SV: Ninh Châu Tuấn Lớp: TMQT-44