Tài liệu Báo cáo " Đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo môn luật hành chính " doc - Pdf 10



đào tạo
Tạp chí luật
học số 2/2003
59

1. Sự cần thiết phải đổi mới nội dung và
phơng pháp đào tạo môn luật hành chính
Trong quá trình đào tạo cử nhân luật ở nớc
ta, việc đổi mới nội dung từng môn học và cải
tiến phơng pháp giảng dạy không chỉ là đòi hỏi
của công tác đào tạo hiện nay, là yêu cầu tất yếu
đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy mà còn là yêu
cầu đối với ngời học trong quá trình nghiên cứu
cả trong và ngoài lớp.
Từ xa đến nay, nội dung chơng trình đào
tạo môn luật hành chính đợc thiết kế gồm
nhiều vấn đề cấu thành yếu tố tĩnh. Chính yếu
tố này đ tạo nên luật hành chính sơ cứng,
mang đậm nét của thời tập trung quan liêu bao
cấp, mâu thuẫn với đòi hỏi và những biến đổi
hiện nay của công cuộc đổi mới; thời lợng
phân chia tỉ lệ giảng và thảo luận cho từng
chơng chậm đợc thay đổi nên một số nội

hành chính hiện nay, ngoài việc phải khắc
phục những bất cập nêu trên còn phải tự đổi
mới, để phù hợp với mục tiêu của công cuộc
cải cách hành chính và xây dựng nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh
Vì thế, nội dung chơng trình cũng nh
phơng pháp đào tạo môn luật hành chính phải
đợc tiếp tục nghiên cứu để phù hợp với việc
đổi mới công tác đào tạo luật hiện nay.
2. Đổi mới nội dung, phơng pháp và
thời lợng môn luật hành chính hiện nay
a. Đổi mới nội dung và thời lợng
Trớc đòi hỏi của thực tiễn nền kinh tế
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội

T
h
S. Hoàng văn sao
*
đào tạo

60


cha làm rõ bản chất của chúng nên không
phân biệt đợc một cách rạch ròi giữa hành
chính quản lí và hành chính phục vụ. Nhà nớc
không chỉ quản lí x hội mà cao hơn thế, Nhà
nớc còn có nghĩa vụ phục vụ x hội, phục vụ
dân. Chừng nào Nhà nớc phục vụ dân cha
tốt tức là Nhà nớc còn nợ dân. Chính vì thế
mà hoạt động dịch vụ công và dịch vụ hành
chính công khẩn trơng ra đời để ngày càng
phục vụ dân đợc nhiều hơn và thuận tiện hơn.
Thế thì, đối tợng điều chỉnh của luật hành
chính không còn giới hạn ở những quan hệ
chấp hành - điều hành đợc nữa mà phải mở
rộng hơn để tiếp cận các quan hệ thuộc hành
chính công và phân biệt giữa nó với hành
chính t. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến
những cuộc tranh luận gay gắt là có nên đa
hợp đồng hành chính là một trong những nội
dung của luật hành chính hay không? Hoặc
vấn đề quan trọng khác nh khái niệm quyền
hành pháp, chức năng hành pháp phải đợc bổ
sung ngay ở chơng này. Quyền hành pháp
khác với quyền hành chính; hoạt động hành
pháp khác với quản lí hành chính ở chỗ nào,
theo tiêu chí nào? Từ đây, phơng pháp điều
chỉnh của luật hành chính cũng phải đợc tiếp
tục nghiên cứu và nhận thức lại. Tơng tự nh
vậy thì mối quan hệ giữa luật hành chính với
các ngành luật khác cũng phải đợc rà soát lại
khi mà đối tợng điều chỉnh và phơng pháp

61

công tác đào tạo luật ở nớc ta hiện nay khi
mà nội dung xuyên suốt toàn bộ chơng trình
luật hành chính vẫn khẳng định luật hành
chính là ngành luật quản lí nhà nớc, khi đó
muốn quản lí có hiệu quả liệu không cần đến
nguyên tắc quyền lực đợc không?
* Hình thức và phơng pháp quản lí hành
chính nhà nớc đợc bố cục ở chơng III với
thời lợng 5 tiết. Chơng này đề cập những
hình thức pháp lí và những hình thức mang
tính tổ chức tồn tại tất yếu (thuyết phục, cỡng
chế, quản lí hành chính và phơng pháp kinh
tế) trong quản lí nhà nớc. Tuy nhiên, ở
chơng này, nếu xem xét từ góc độ ý nghĩa
của chúng thì mỗi hình thức, mỗi phơng pháp
lại đòi hỏi cách thức thực hiện khác nhau bởi
các chủ thể khác nhau. Vì thế, cần thay đổi
cách tiếp cận cũng nh lập luận trong các giáo
trình luật hành chính hiện nay là không chỉ
dừng ở việc phân tích nội dung của các hình
thức, phơng pháp mà phải làm rõ cách thức
thực hiện chúng bởi các chủ thể khác nhau. Do
đó, vấn đề hợp đồng hành chính, mặc dù đ
đợc đề cập ở chơng I nhng nội hàm của
khái niệm này không phải là hợp đồng dân sự
mà là hành chính kinh tế nên ở chơng này cần
đợc tiếp tục đề cập nh là phơng pháp thực
hiện quyền lực hành pháp của Nhà nớc.

lí vi phạm hành chính, cha có văn bản nào
nêu đợc định nghĩa đầy đủ và chuẩn xác về vi
phạm hành chính. Điều này dẫn đến nhận thức
khác nhau và cách xử lí đối với vi phạm hành
chính ở các lĩnh vực đều không thống nhất. Từ
thực trạng này, khoa học luật hành chính cần
phải đa ra khái niệm chuẩn về vi phạm hành
chính, đặt cơ sở cho việc xử lí vi phạm hành
chính có hiệu quả trong quản lí.
Gắn bó mật thiết với vi phạm hành chính
(VPHC) là trách nhiệm hành chính (TNHC).
Khi bàn về khái niệm này, có quan điểm cho
rằng TNHC là trách nhiệm pháp lí của ngời
hay tổ chức VPHC phải gánh chịu thông qua
các hình thức và biện pháp phạt hành chính.
Quan điểm khác lại cho rằng TNHC thực chất
là việc áp dụng các chế tài hành chính. Ngoài
ra, về vấn đề này còn có sự lẫn lộn giữa TNHC
và kỉ luật hành chính ngay trong cả văn bản
pháp luật của Nhà nớc, dẫn đến tình trạng
trong nhiều trờng hợp (cả văn bản pháp luật
lẫn thực tiễn áp dụng) không phân biệt rõ đào tạo

62

đ nhận xét: Việc nghiên cứu mới chỉ dừng ở
bề mặt, ở những lối mòn, cha tầm cỡ, cha
toàn diện. Điều đó có nghĩa rằng những nội
dung này mới đợc khai thác từ khía cạnh địa
vị pháp lí của các chủ thể mà cha làm rõ về
mặt lí luận khi cải cách hành chính, khi nền
hành chính đợc hiện đại hoá, khi Nhà nớc
đợc tăng cờng hiệu lực quản lí vĩ mô, khi
mà các cơ quan công quyền tách khỏi tổ chức
sự nghiệp - khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức
hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và
lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi
cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ
công
(1)
thì các chủ thể đó phải đổi mới nh
thế nào và phải đợc đánh giá theo tiêu chí
nào? Ví dụ, khi bàn về quyền và nghĩa vụ của
cán bộ, công chức nhà nớc thì không thể bàn
chung vì những quyền và nghĩa vụ ấy đều gắn
với việc thi hành các công vụ hoặc nhiệm vụ
khác nhau. Khi họ thực thi công vụ hoặc
nhiệm vụ khác nhau thì họ cũng có những
quyền năng chủ thể khác nhau và chịu trách
nhiệm ở những mức độ khác nhau. Do đó,
chơng này phải đợc đổi mới theo hớng
phân tích các chủ thể vừa nằm trong quan hệ
hớng nội (giữa cán bộ, công chức cùng cơ
quan, đơn vị hoặc giữa các cơ quan, đơn vị
trực thuộc nhau về tổ chức), vừa nằm trong
63

những hoạt động quản lí chức năng nh tài
chính, kế hoạch v.v.; nhóm quản lí ngành nh
công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, văn hoá,
giáo dục, t pháp, hải quan v.v
Trong tình hình của đất nớc ta hiện nay,
việc nghiên cứu phần riêng của luật hành chính
là rất cần thiết. Vì vậy, nên bổ sung những nội
dung cấp thiết sau đây:
- Quản lí nhà nớc về hành chính - chính trị;
- Quản lí nhà nớc về giáo dục;
- Quản lí nhà nớc về trật tự an toàn x hội;
- Quản lí xây dựng và đô thị.
Tóm lại, để đổi mới nội dung của luật hành
chính cần làm tốt các công việc sau đây:
- Tiếp tục tổ chức nghiên cứu để làm rõ,
tiến tới hoàn thiện các khái niệm cơ bản của
luật hành chính;
- Bổ sung để làm rõ hơn đối tợng điều
chỉnh và phơng pháp điều chỉnh của luật hành
chính trong nền kinh tế thị trờng định hớng
x hội chủ nghĩa;
- Xây dựng các nguyên tắc quản lí hành
chính vừa thể hiện tính quyền lực nhà nớc,
vừa thể hiện tính dân chủ tạo nên sự linh hoạt
giúp chúng ta xử lí có hiệu quả các tình huống
phát sinh trong thực tiễn quản lí hành chính

chủ động của sinh viên và sử dụng những
phơng tiện, kĩ thuật mới để hỗ trợ giảng dạy.
Trên cơ sở sử dụng phơng pháp giảng dạy
trong điều kiện đợc cải thiện về cơ sở vật chất
(trang thiết bị, phơng tiện giảng dạy, giáo
trình và tài liệu tham khảo ), thời lợng phân
chia cho các giờ lên lớp có thể đợc rút ngắn
với điều kiện nội dung không cắt giảm. Theo
hớng này, có thể đổi mới phơng pháp giảng
dạy môn luật hành chính với t cách là môn
khoa học pháp lí chuyên ngành bằng việc thực
hiện các phơng pháp sau đây:
* Kết hợp nghe và nhìn
Đây là phơng pháp mà ngời giảng vừa
dùng lời, vừa dùng những hình ảnh minh họa
(Microsoft PowerPoint) để diễn đạt hình ảnh
hoặc để minh hoạ vấn đề nào đó. Phơng pháp
này cũng đợc hiểu là phơng pháp mà ngời
dạy cùng một lúc tạo ra hai kênh giao tiếp:
Một kênh bằng lời và một kênh bằng hình ảnh.
Đây là phơng pháp nhằm đa tiến bộ khoa
học kĩ thuật (dùng đèn chiếu, máy vi tính hay
các phơng tiện nghe nhìn khác) vào việc
giảng và thảo luận, làm cho ngời học dễ tiếp đào tạo

64


thông tin hạn chế giống nh khi chúng ta nghe
đài. Khi cơ thể mỏi mệt, nhất là ở những tiết
cuối buổi học, nếu chỉ theo phơng pháp nghe,
sự hiểu biết của ngời nghe chắc chắn có hạn
chế. Vì lí do đó, phơng pháp diễn thuyết phải
kết hợp với phơng pháp sử dụng các mô hình
(để nhìn). Phơng pháp dạy bằng mô hình thu
hút ngời nghe nhiều hơn, buộc họ phải t duy
nhiều hơn và do đó no của họ buộc phải làm
việc nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ có thói
quen sử dụng ngôn ngữ qua hình ảnh với mục
đích nhằm trình bày các vấn đề qua sơ đồ hoặc
muốn biểu thị dàn ý tóm tắt, tức là thiên về
khái quát thì phơng pháp này nhiều khi sẽ
làm cho ngời học lúng túng (giống nh khi
xem phim không lời) vì ngời học quen tìm
các lời lẽ đầy đủ để mô tả sự vật. Do đó, sự kết
hợp này vừa khắc phục đợc những bất cập
nêu trên, vừa đem lại cho ngời học sự sảng
khoái, tạo nên tiếng nói chung cho đa số
ngời học từ nhiều kênh khác nhau.
* Phơng pháp phân tích gắn với minh hoạ
thực tế
Phơng pháp này thực chất là việc phân
tích các chế định pháp lí hoặc vấn đề khoa học
pháp lí nào đó thờng gắn với hiện tợng hay
sự việc có thật mà mọi ngời có thể đ chứng
kiến hoặc thừa nhận qua kinh nghiệm thực
tiễn. Phơng pháp giảng dạy này có tác dụng
rèn cho ngời học khi tiếp nhận những thông

65

tợng, sáng tạo
Phơng pháp suy luận logic là phơng
pháp buộc ngời học phải quan sát, phân tích
để suy luận về vấn đề theo trật tự thời gian,
không gian, để làm rõ sự tác động của các quy
định của Nhà nớc đối với các quan hệ x hội
và sự tác động trở lại của quan hệ x hội đối
với các quy định của Nhà nớc. Phơng pháp
này giúp ngời học có thói quen suy luận, luôn
suy nghĩ để tìm sự thống nhất hoặc sự đối lập
của các hiện tợng, sự vật cũng nh mối quan
hệ giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật
nào đó. Chẳng hạn, quan hệ nhân quả là một
trong những nội dung quan trọng của luật hành
chính. Nếu nghiên cứu quan hệ này theo
phơng pháp trên thì sẽ rất phong phú và dễ
tìm ra bản chất của sự vật hay hiện tợng.
Phơng pháp này có tác dụng làm cho ngời
học hiểu vấn đề và nhớ rất lâu, nhớ các sự kiện
có sự liên hệ mật thiết với nhau; ngời học vận
dụng kiến thức triết học để phân tích các hiện
tợng x hội, trên cơ sở đó xác định bản chất
x hội của các quan hệ x hội mà luật hành
chính điều chỉnh; làm cho ngời học, ngời
nghiên cứu có thói quen làm việc khoa học.

Dòng Cột Trang

Đã in Sửa lại
1 7 tx 1 85 -Văn bản quy phạm pháp luật
của Quốc hội, Uỷ ban thờng
vụ Quốc hội có hiệu lực sau
30 ngày, kể từ ngày Chủ tịch
nớc kí lệnh công bố;
- Văn bản quy phạm pháp
luật của Quốc hội, Uỷ ban
thờng vụ Quốc hội có hiệu
lực kể từ ngày Chủ tịch nớc
kí lệnh công bố;
Thành thật xin lỗi độc giả.
BBT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status