TIỂU LUẬN:
Cơ hội và thách thức của các
doanh nghiệp Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay
Lời mở đầu
Thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá,khu vực hoá nền kinh tế.Tiến
trình toàn cầu hoá mở ra cho các quốc gia cả những quốc gia phát triển và đang
phát triển những cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.,Hội
nhập quốc tế vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với các doanh
nghiệp Việt Nam trong công cuộc tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường
quốc tế.Trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp hơn rất nhiều so với các
nước trong khu vực và thế giới.Một trong những yếu kém hiện nay của toàn nền
kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng đó là sức cạnh tranh trên thị
trường cả trong nước lẫn nước ngoài.Việc nhìn nhận được những thuận lợi và
khó khăn của mình sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam rút ra những bài học
bổ ích và tìm được lời giải đúng nhất trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên em đã quyết định chọn đề
tài tiểu luận “Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”.Bài viết của em sẽ đề cập về cơ hội và
xử,những nỗ lực chung về thương mại, mở rộng và thúc đẩy thương mại,bằng
việc cắt giảm thuế quan và xoá bỏ các biện pháp ngăn chặn phi thuế quan như
quota(hạn nghạch),đảm bảo quyền buôn bán cho các doanh nghiệp nước ngoài và
trong nước .Ngoài ra còn có những can kết về quyền sở hữu trí tuệ phát triển
quan hệ đầu tư.
II/Cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam trước HĐTM Việt-Mỹ
1/ HĐTM Việt-Mỹ mở cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu
hàng hoá sang Mỹ một thị trường mạnh nhất thế giới với hơn 245 triệu
người.Hàng hoá của Việt Nam sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn do mức thuế
suất chỉ còn trên 3%,trong khi trước kia phải từ 40% đến 80%.Các doanh nghiệp
Việt Nam sẽ xuất khẩu sang Mỹ những mặt hàng mà chúng ta có lợi thế như dầu
thô, dệt may, giày dép, mặt hàng nông hải sản.
Cơ hội xuất khẩu sang thị trường Mỹ là rất lớn.Năm 1999 giá trị xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt 601 triệu USD/năm,thấp hơn nhiều so với
các nước trong khu vực mà Mỹ đã áp đặt quy chế quan hệ bình thườngvà là thành
viên của WTO.Kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chỉ bằng 1/35 của
Malaixia và bằng 1/23 của Thái Lan (do một lượng hàng của Việt Nam xuất khẩu
sang Mỹ phải qua nước thứ ba, chủ yếu là Singapore nên số liệu của Việt Nam và
Mỹ về xuất khẩu của Việt Nam và Mỹ về xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Mỹ là khá lớn.Khi hiệp định thương mại được thực hiện, do giảm hàng
hoá qua trung gian nên xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ có cơ hội tăng mạnh
hơn.Có ý kiến cho rằng năm 1999 ”Giá trị kim nghạch nhập khẩu của Mỹ là
1227 tỷ USD, do đó dù Việt Nam có sang Mỹ tới 1 tỷ USD thì cũng như muối bỏ
bể ”). Còn nếu xét về cơ cấu xuấ nhập khẩu sang thị trường Mỹ trong tổng xuất
nhập khẩu cũng rất nhỏ bé.Trong suốt giai đoạn 1994-1999, xuất khẩu sang thị
trường chỉ đạt 2,4% tổng giá trị kim nghạch nhập khẩu của Việt Nam. Trong khi
đó tỉ lệ này của Thái Lan là 17,4% và 10,3% và Malaixia là 19,4% và 11,9% (So
với các thị trường có mức thu nhập và tiêu dùnh bình quân đầu người tương
đương, hiện nay thị trường Mỹ chỉ chiếm 4,8% giá trị kim nghạch xuất khẩu của
3/Sau một thời gian ngắn(3-7 năm), khi HĐTM có hiệu lực nhiều hàng
hoá của Mỹ sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với việc bãi bỏ hạn ngạch và giảm
thuế sẽ đặt các doanh nghiệp Việt Nam ở trong một điều kiện cạnh tranh gay gắt
hơn trước đây.Đồng thời các lĩnh vực hoạt động tài chính ,ngân hàng bảo hiểm
,viễn thông, pháp lý, giáo dục,y tế sẽ chiếm lĩnh thị trường Việt Nam làm cho các
doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành này của Việt Nam sẽ gặp phải
những đối thủ cạnh tranh hết sức gay gắt vì những lợi thế hơn hẳn của họ .Nếu
chúng ta không có những chuẩn bị ngay từ bây giờ thì người tiêu dùng Việt Nam
chỉ hướng tới những dịch vụ tiện lợi hơn của các nhà đầu tư Mỹ.
4/ Các doanh nghiệp Việt Nam, những người trực tiếp làm ăn với Mỹ lại
chưa thông hiểu luật lệ cung cách kinh doanh của người Mỹ.Chính điều này
chẳng những có thể dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh mà đôi khi còn bị
thiệt thòi vì những lý do không đáng có. Bên cạnh đó ,với trình độ quản lý còn
yếu kém, lại chưa có kinh nghiệm làm ăn theo cơ chế thị trường cùng với trình
độ công nghệ còn lạc hậu, trình độ chuyên môn của người lao động còn chưa
cao.Tất cả những điều đó làm cho sản phẩm của chúng ta còn kém về chất lượng,
xấu về hình thức khó lòng cạnh tranh với biết bao bạn hàng mậu dịch của Mỹ từ
các nước Nam Mỹ, từ Trung Quốc, từ các nước Nics, các nước ASEAN. Đây
chính là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi HĐTM có hiệu lực.
PHầN HAI
I. Quá trình hình thành và phát triển của khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
AFTA.
ASEAN (asscociation of Southeast asian Nation), hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á được thành lập từ năm 1976 với mục đích hợp tác toàn diện trên
mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, khoa học, xã hội. Đến nay, ASEAN đã phát triển
lớn mạnh với 10 thành: Brunei, Indonesia, Malaysia, Phillipin, Singapore, Thái
Quan trọng hơn nữa khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt
Nam và các nước ASEAN (về thu nhập bình quân trên đầu người, dự trữ ngoại
tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư, trình độ công nghệ ) cho thấy sự cách biệt quá
lớn bất lợi cho Việt Nam cũng là mối lo ngại cho quá trình hội nhập này. Trình
độ công nghệ sản xuất hiện nay ở ta, đặc biệt trong các ngành chủ chốt như công
nghiệp chế tạo, chế biến, còn ở mức yếu kém thì liệu có đủ sức cạnh tranh, chiếm
lĩnh thị trường hay chỉ là nơi tiêu thụ hàng hoá của các nước ASEAN thậm chí
nhiều doanh nghiệp bị phá sản, thất nghiệp theo đó tăng
Do cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và phần lớn các nước
ASEAN tương đối giống nhau, vì vậy có thể gây ra sự cạnh tranh nội bộ khu vực
trong việc thu hút đầu tư, tìm kiếm thị trường và công nghệ (ở mức độ khác
nhau). Ngoài ra cò phải kể đến sự cạnh tranh của cả khối với Trung Quốc trong
cả thương mại và đầu tư nước ngoài.
Một trong những khó khăn và có lẽ đây là khó khăn lớn nhất mà Việt Nam
sẽ phải đương đầu trong quá trình hội nhập là nhân tố về con người do trình độ,
kể cả cán bộ quản lý kinh tế và các doanh nhân còn chưa đáp ứng được với nhu
cầu đặt ra của tình hình mới.
Nếu chỉ xét riêng về thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam trong môi
trường cạnh tranh thì phần lớn các doanh nghiệp còn rất non trẻ, thiếu vốn kinh
doanh cũng như trình độ quản lý, tín nhiệm và bề dày kinh nghiệm. Phần lớn các
doanh nghiệp đều mới bước vào thương trường nên có nhiều hạn chế, thể hiện ở
các mặt như: kinh doanh trên diện mặt hàng rộng nhưng thiếu chuyên ngành;
mạng lưới tiêu thụ còn mong manh; các doanh nghiệp còn chưa quan tâm và ít
thành công trong việc xây dựng khối các khách hàng tin cậy và lâu bền; thiếu
thông tin và thiếu hiểu biết về thị trường và khách hàng; Thiếu các hoạt động xúc
tiến thương mại dưới nhiều hình thức như thông tin thương mại, hỗ trợ triển lãm
quảng cáo, tư vấn về thị trường, môi trường đầu tư, tìm đối tác kinh doanh
Ngoài ra, tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp còn có những vấn đề về
môi trường vĩ mô thiếu ổn định với một hệ thống các thủ tục hành chính phức tạp
Nam sẽ có cơ hội tốt hơn để xâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới.
Thứ hai, Việt Nam có điều kiện để mở rộng thị trường ưu đãi của AFTA.
Kinh nghiệm các nước trong khối cho thấy rằng, gia nhập ASEAN, Việt Nam có
đủ điều kiện để mở rộng thị trường sang các nước trong và ngoài khu vực. Hiện
nay, khoảng 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là từ các nước thuộc
ASEAN. Các mặt hàng được Nhà nước ưu tiên nhập khẩu như máy móc, thiết bị
và nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp khi tham gia vào
AFTA, CEPT thì các mặt hàng này sẽ giảm thuế nhập khẩu tới 5%. Như vậy, khi
đó luồng hàng nhập khẩu sẽ được mở rộng nhanh chóng. Hơn nữa, do cơ cấu
danh mục hàng hoá tham gia CEPT bao gồm cả nông sản thô và nông sản chế
biến nên nếu Việt Nam tăng cường sản xuất hàng nông sản thì sự cắt giảm về
thuế sẽ trở thành yếu tố kích thích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất mặt hàng
này để xuất khẩu sang ASEAN và các nước ngoài khu vực. Đây cũng là cơ hội
để Việt Nam tăng dung lượng cung hàng hoá của mình trên thị trường và tham
gia cạnh tranh trên thị trường thế giới .
Thứ ba, tham gia hợp tác kinh tế, thương mại với khu vực, Việt Nam có
điều kiện thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hướng vào xuất
khẩu.
Thứ tư, có điều kiện để thu hút được nhiều vốn đầu tư từ những nước thừa
vốn và đang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh sang các ngành có hàm lượng kỹ
thuật cao, sử dụng ít nhân công trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái
Lan
Thứ năm, có điều kiện để tiếp thu công nghệ và đào tạo kỹ thuật cao ở các
ngành cần nhiều lao động mà các nước đó đang cần chuyển giao. Sử dụng vốn và
kỹ thuật cao của các nước trong khu vực để khai thác khoáng sản và xây dựng cơ
sở hạ tầng
Thứ sáu, tận dụng ưu thế về lao động rẻ và có hàm lượng chất xám cao để
đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các nước trong khu vực.
Thứ bảy, một trong những quy định về sản phẩm được hưởng quy chế Hệ
Tài liệu tham khảo
1.Tạp chí thương mại số :12(2000);17;19;24(2001)
2.Ngoại thương số 21-27/4/2000
3.Hiệp định thương mại Việt- Mỹ
4.Kinh tế và dự báo số 1,4,5(2000);4(2001)
5.Tạp chí phát triển kinh tế số 23(2000)
6.Tạp chí kinh tế phát triển số 10+11(2001)
7.Thời báo kinh tế Sài Gòn(9/8/2001)
8.Bản tin nội bộ câu lạc bộ chất lượng
9.Đổi mới chất lượng sản phẩm trong thời kỳ đổi mới-Hoàng Mạnh Tuấn
10.Chiến lược chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu của các loại
doanh nghiệp ngành công nghiệp nhẹ-Hà Nội năm 2000
11.Bộ tài chính:Thời báo tài chính Việt Nam số 30(9/3/2001)
12.Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN tài liệu Bộ KH-ĐT