TIỂU LUẬN:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ
GẮN KẾT XÂY DỰNG ĐẢNG VỚI
CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
Với tư cách người khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, Đảng ta đã xác định một cách
rõ ràng và dứt khoát rằng, trong suốt tiến trình công cuộc đổi mới này, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt. Vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng không chỉ
có nghĩa đây là nhiệm vụ mang tầm quan trọng hàng đầu, mà còn có nghĩa là nhiệm
vụ đóng vai trò chi phối, quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới. Để xây dựng
Đảng ta thành một Đảng mang tầm trí tuệ, tầm tư tưởng, tầm phẩm chất, tầm năng
lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn cần có, đủ đảm đương được vai trò lãnh đạo và
đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, thành
một Đảng thực sự “vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức”, khi thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng
chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt” là bởi, đối với sự vận động và phát triển của Đảng
ta, chủ nghĩa Mác – Lênin, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “lý luận cách mạng tiền
phong”, là “lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng”, mà còn là “học thuyết dạt
dào sức sống”, có khả năng làm cho Đảng ta “trở thành hình thức tổ chức cao nhất
của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” và
giúp cho Đảng ta “khơi nguồn sức mạnh” của chính mình, “khơi nguồn lực lượng và
sức mạnh sáng tạo của nhân dân” để giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng do
Đảng lãnh đạo
(4)
. Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt” để xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trở thành một Đảng cách mạng tiên phong, “Đảng
của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam” không có nghĩa là
giáo điều theo từng câu, từng chữ của C.Mác, của Ph. Ăngghen, của V.I.Lênin, mà
như Hồ Chí Minh đã nói, là nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng
thời tiếp thu những tinh hoa của văn hoá dân tộc và nhân loại, tham khảo những kinh
nghiệm của các nước, các Đảng anh em, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của Việt Nam để định ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn cho cách
mạng Việt Nam; là phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, hiểu rõ phong trào cách mạng Việt Nam để vận dụng sáng tạo và hơn nữa, còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa
Mác – Lênin.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, xây dựng và chỉnh đốn Đảng còn
đòi hỏi Đảng phải luôn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội – “con
đường chung của thời đại, của lịch sử” – trên đất nước ta; kiên định vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; kiên định sự nghiệp xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển và thực
hành dân chủ rộng rãi với tư cách “cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó
khăn”(5); xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam –
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để làm tròn sứ mệnh lịch sử
Đảng để “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, vững mạnh, để luôn được quần chúng
thừa nhận Đảng là “một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực
nhất”.
Không chỉ thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng, Đảng chỉ có thể trong sạch,
vững mạnh, chỉ trở thành đội tiên phong và giành được vai trò lãnh đạo cách mạng,
khi gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng trở thành một nguyên tắc, một nhu
cầu bức thiết trong suốt quá trình vận động và phát triển của Đảng với tư cách
người lãnh đạo cách mạng và mỗi khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới thì
đây là “việc cần phải làm trước tiên”.
Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng không biết mệt mỏi của
mình, trong suốt những năm tháng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Đảng
Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm gắn việc xây
dựng đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam với việc xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam;xây
dựng Đảng, không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ Đảng phải gắn liền với chỉnh
đốn Đảng, thường xuyên nâng cao sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng thực sự
trong sạch, vững mạnh, thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Với quan điểm nhất quán này, với nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết là cái làm nên
sức mạnh to lớn của Đảng, là cội nguồn dẫn đến mọi thành công của Đảng, đoàn kết
trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân và với tư cách là hiện thân cho
sự đoàn kết trong Đảng, mỗi khi “nói về Đảng”, về sự gắn kết xây dựng Đảng với
chỉnh đốn Đảng, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói về việc giữ gìn sự đoàn kết
trong Đảng. Thấu hiểu hơn ai hết truyền thống đoàn kết của Đảng ta ngay từ những
ngày đầu thành lập, nhận thức sâu sắc hơn ai hết về vai trò cực kỳ quan trọng của sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, Người đã khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống
cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” và chính là “nhờ đoàn kết chặt chẽ, một
lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày
thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu
Đảng, theo Hồ Chí Minh, trước hết Đảng phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc
tổ chức của Đảng để tạo nên trong toàn Đảng sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức,
hành động và làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một
người”(12), vừa phát huy được sức mạnh của mỗi đảng viên, vừa phát huy được sức
mạnh của toàn Đảng; phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ để mọi cán bộ, đảng
viên đều có thể tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề hệ trọng của Đảng;
thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách với tư cách nguyên tắc lãnh đạo
của Đảng và đặc biệt, phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tư
cách nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, quy luật phát triển của Đảng. Nói về điều này,
Người đã nhấn mạnh rằng, “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất
tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”(13). Rằng,
“trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình
và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của
Đảng”(14).
Đặc biệt nhấn mạnh vai trò lớn lao của việc thường xuyên thực hiện tự phê bình và
phê bình trong sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng nhằm tạo ra sự đoàn
kết thống nhất trong Đảng và coi đó là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là quy luật
phát triển của Đảng, là phương thức không những phải “luôn luôn dùng”, mà còn
phải “khéo dùng”, phương thức tốt nhất, hiệu quả nhất và là “vũ khí sắc bén” để giữ
gìn, củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhiều lần nói về công tác này. Người cho rằng, tự phê bình và phê bình phải trở
thành công việc hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, từ người lãnh đạo đến đảng
viên thường, từ cấp trên đến cấp dưới đều phải thường xuyên, nghiêm túc thực hiện
“tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Làm được như
thế thì theo Người, “trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô
cùng”
(14)
. Với Người, tự phê bình và phê bình không chỉ giới hạn trong nội bộ Đảng,
mà còn cần phải được mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân lao động. Để tiến bộ, mọi
cán bộ, đảng viên đều phải biết “lắng nghe ý kiến của quần chúng”, “phải sẵn sàng
Mác – Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến
công tác của mình để cùng tiến bộ, khi gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng
trên nền tảng đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ
cách mạng vẻ vang”(16). Rằng, sự nghiệp cách mạng rất vẻ vang nhưng cũng vô
cùng khó khăn, gian khổ mà Đảng là người lãnh đạo, do vậy, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì
cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân”(17).
Với quan niệm như vậy về vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách
mạng, với nhận thức sâu sắc rằng “một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày
hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn
được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào
chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở đội ngũ cán bộ,
đảng viên của Đảng phải thực hành đạo đức cách mạng mà bản thân Người là một
tấm gương ngời sáng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho chúng ta, khi nói về
xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Người vẫn không quên căn dặn: “Đảng ta là một đảng
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân
dân”
(18)
.
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn
Đảng để Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cầm quyền,
Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ những người kế thừa sự
nghiệp cách mạng của Đảng. Coi việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, Người luôn yêu cầu Đảng ta phải chăm lo
mới, chỉnh đốn Đảng cũng là “việc cần phải làm trước tiên”. Chỉnh đốn Đảng là làm
cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi chi bộ đều phải ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao
phó, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉnh đốn Đảng cũng là để xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh; để Đảng luôn giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng, vai trò
tiền phong gương mẫu và phát huy được sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của mình; để
Đảng không trở thành quan liêu, xa dân, thoái hoá, biến chất; để củng cố và nâng cao
lòng tin của dân với Đảng. Chỉnh đốn Đảng không có nghĩa là Đảng phạm phải
những sai lầm, thiếu sót nào đó cần phải sửa chữa, khắc phục, chỉnh đốn lại, bởi một
Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng không thể tránh khỏi thiếu sót, sai lầm. Chỉnh
đốn lại Đảng cái chính là để nâng chất lượng, năng lực lãnh đạo của Đảng lên một
tầm cao mới, đủ sức hoàn thành những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, nhất là
khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc chúng ta cùng nhau nhắc
lại tư tưởng của Người về sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, thiết nghĩ,
là cần thiết và bổ ích, khi chúng ta đang sôi nổi thực hiện Cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà một trong những mục tiêu của nó là
xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
của Đảng thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, như Người luôn nhấn mạnh,
luôn yêu cầu mỗi khi nói về Đảng, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.r
(*) , Phó Giáo sư, tiến sĩ, Phó tổng biên tập Tạp chí Triết học.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21.
(2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.268.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr. 268, 280.
(4) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.517, 519 -520.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 249.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr. 261.
sử diễn ra như thế khác. Mặc dù vậy, trong lịch sử, khuynh hướng vận động của xã
hội, dù được quan niệm là diễn ra theo hướng nào đi chăng nữa, thì phần đông các
nhà tư tưởng đều cho rằng, khuynh hướng biến đổi của xã hội nói chung thường bắt
nguồn từ sự xung đột giữa người với người, trước hết trong những lĩnh vực kinh tế –
xã hội (đặc biệt là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và địa vị xã hội). Rằng, việc giải quyết
mâu thuẫn lợi ích trong xã hội ngày càng công bằng hơn chính là nguồn gốc, là động
lực cho sự vận động và phát triển theo hướng tiến bộ của xã hội. Song, công bằng xã
hội còn là thước đo trình độ của tiến bộ xã hội trong tiến trình vận động, phát triển
của lịch sử và được thể hiện ra ở trình độ giải phóng con người.
Tuy không để lại một tác phẩm nào chuyên bàn về tiến bộ xã hội, nhưng với quan
niệm duy vật về lịch sử, về thực chất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trực tiếp bàn về
tiến bộ xã hội và từ đó, đề xuất quan niệm về tiến bộ xã hội trong toàn bộ di sản lý
luận của mình trên cơ sở vạch rõ hạn chế của những quan điểm trước đó về tiến bộ
xã hội. Một trong những hạn chế đó, theo các ông, là ở chỗ, do bị bó hẹp trong điều
kiện lịch sử cụ thể và lợi ích giai cấp, các quan niệm ấy đã không thấy được vai trò
quyết định của lĩnh vực sản xuất vật chất đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã
hội. Các tác giả của những quan điểm đó hầu như chỉ đi tìm nguyên nhân vận động
của lịch sử xã hội từ những lực lượng phi vật chất (mà thường thuộc về lĩnh vực ý
thức xã hội). Vì thế, những tiêu chuẩn được xác định để đánh giá sự tiến bộ của xã hội trong những quan điểm ấy cũng chỉ là sự cụ thể hoá ý thức xã hội bằng những
tiêu chuẩn, như sự phát triển của ý thức đạo đức, sự phát triển ý thức về tự do, sự
phát triển của lý tính - tư duy, sự phát triển ý thức pháp quyền, sự phát triển ý niệm
tuyệt đối,
Ngược lại với những quan điểm đó, C.Mác và Ph.Ăngghen coi lịch sử xã hội là một
quá trình phát triển theo quy luật khách quan, nội tại và tất yếu, tương tự như quá
trình phát triển trong thế giới tự nhiên. C.Mác viết: “Sự phát triển của những hình
thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”
[i]
phía trước. Ở đây, trong khuôn khổ một Lời tựa và với mục đích giới thiệu một
cách vắn tắt nhất, cô đọng nhất những kết quả nghiên cứu quan trọng nhất của
mình, C.Mác không đề cập một cách chi tiết đến sự vận động cụ thể đã từng xảy ra
của xã hội ở nơi này, nơi kia, vào lúc này, lúc khác, mà xem xét sự vận động ấy trên
những nét lớn, một cách khái quát, hay nói như C.Mác, “về đại thể”, toàn bộ lịch sử
vận động, phát triển của nhân loại theo hướng chủ đạo, bỏ qua những cái ngẫu
nhiên hay những bước đi chệch tạm thời khỏi hướng chủ đạo ấy. Thứ nữa, về những
phương thức sản xuất cụ thể mà, theo C.Mác, nhân loại đã trải qua, C.Mác cũng nói
một cách rất thận trọng là “có thể coi ”, chứ không phải dưới dạng một khẳng định
dứt khoát, nghĩa là C.Mác vẫn dành chỗ cho các công trình nghiên cứu về sau tiếp
tục cụ thể hoá, bổ sung, hoàn chỉnh, làm chính xác thêm. Mặc dầu vậy, sự khái quát
của C.Mác về lịch sử vận động, phát triển theo hướng đi lên của xã hội, tư tưởng cơ
bản của C.Mác về tiến bộ xã hội, coi tiến bộ xã hội là quá trình thay thế một hình
thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn về chất
cho đến nay vẫn hoàn toàn giữ nguyên giá trị. Như vậy, từ sự khái quát của C.Mác
về lịch sử vận động, phát triển theo hướng đi lên của xã hội, có thể khẳng định
rằng, tiến bộ xã hội là quá trình vận động của xã hội theo hướng một hình thái kinh
tế – xã hội này, sau một thời gian tồn tại, phát triển, đến một độ nào đó, cuối cùng,
sẽ bị thay thế bằng một hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn về chất.
Vậy cái gì là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội?
Trên cơ sở khẳng định nguồn gốc vật chất quyết định sự vận động và phát triển của
xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất trong những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau để phân chia trình độ của tiến
bộ xã hội ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Bởi lẽ, đó chính là yếu tố quyết
định sự phát triển của xã hội thông qua sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh
tế - xã hội trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại. Nói cách khác, theo quan niệm của
C.Mác và Ph.Ăngghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất chính là nền tảng của
mọi tiến bộ xã hội trong suốt lịch sử, kể từ khi xã hội có giai cấp. Ph.Ăngghen viết:
“Toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người sau khi thoát khỏi giai đoạn dã man
nếu quan hệ giữa người và người vẫn là quan hệ bóc lột, bất công, bất bình đẳng, thì
sự phát triển của lực lượng sản xuất vẫn mới chỉ dừng lại ở sự gia tăng và ngày
càng hoàn thiện của tư liệu sản xuất, chứ chưa phải là sự phát triển của con
người với tư cách một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất. Thêm nữa, nói tới
xã hội, trước hết là nói tới quan hệ giữa người với người, bởi xã hội, dưới bất kỳ hình thức nào, như C.Mác đã nhận xét, đều là “sản phẩm của sự tác động qua lại
giữa những con người”. Vì vậy, dù tư liệu sản xuất có tăng lên bao nhiêu chăng
nữa, ngày càng hiện đại thêm bao nhiêu đi chăng nữa mà người lao động vẫn còn
phải chịu cảnh bị bóc lột, áp bức, bất công, lao động của anh ta, nói như C.Mác, vẫn
chưa phải là lao động tự nguyện, mà là lao động bị cưỡng bức, không phải là sự
thoả mãn nhu cầu lao động mà chỉ là một phương tiện để thoả mãn nhu cầu khác(8),
nghĩa là con người vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn, thì cũng chưa thể nói xã
hội đã đạt đến đỉnh cao của sự tiến bộ. Nói cách khác, để cho những thành quả phát
triển của lực lượng sản xuất với tư cách sản phẩm sáng tạo của người lao động cuối
cùng phải trở thành phương tiện thoả mãn nhu cầu lao động và thông qua đó, phát
triển ngày càng toàn diện chính phẩm giá của người lao động, thì trước hết, cần phải
xoá bỏ sự áp bức, bất công của chế độ xã hội người bóc lột người, xây dựng một
chế độ xã hội công bằng, làm cho “con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của
chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở
thành người tự do”(9). Đây chính là mục tiêu và mô hình xã hội công bằng và tiến
bộ theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Coi tiến bộ xã hội là sự kế thừa và phát triển toàn bộ những thành tựu vật chất và
tinh thần mà nhân loại đã sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử, khi đưa ra mục
tiêu xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng và tiến bộ hơn, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã cho rằng, chính những nền tảng vật chất do xã hội tư sản tạo ra là
cơ sở vật chất cho sự nghiệp xây dựng một xã hội ngày càng công bằng hơn, bình
đẳng hơn, vì mục tiêu giải phóng và phát triển ngày càng toàn diện con người.
C.Mác viết: “Thời kỳ tư sản của lịch sử có sứ mệnh tạo ra cơ sở vật chất cho một
tởm không muốn uống rượu trường sinh một cách nào khác ngoài cái cách uống
bằng sọ của người bị giết”(13).
Bên cạnh việc khẳng định vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất đối với tiến
bộ xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen còn khẳng định vai trò sáng tạo và khả năng làm
chủ của người lao động đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung trong
lịch sử, kể cả trong giai đoạn tư bản chủ nghĩa, khi trình độ phát triển của khoa học
hiện đại tưởng chừng như là cái quyết định duy nhất cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất. C.Mác viết: “Không phải bằng lời nói mà bằng việc làm, người công nhân
đã chứng minh rằng nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với
tiến bộ của khoa học hiện đại, có thể thực hiện được mà không cần đến giai cấp
những người chủ sử dụng lao động của giai cấp công nhân làm thuê; họ đã chứng
minh rằng muốn sản xuất có kết quả thì công cụ lao động hoàn toàn không thể để
cho bị độc chiếm làm công cụ thống trị và cướp bóc công nhân, rằng giống như lao
động của nô lệ và của nông nô, lao động làm thuê chỉ là hình thức nhất thời và thấp, cần phải nhường chỗ cho lao động liên hợp, tiến hành một cách tự nguyện”(14). Bởi
lẽ, theo C.Mác, “chừng nào sự phân chia hoạt động còn được tiến hành không phải
một cách tự nguyện (chúng tôi nhấn mạnh – N.M.H) mà một cách tự nhiên thì
chừng đó hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối
lập với con người và nô dịch con người, chứ không phải bị con người thống
trị”(15). Và, chỉ khi nào hoạt động “một cách tự nguyện” của mỗi cá nhân đạt được,
thì như C.Mác đã chứng minh, khi đó mới có sự bình đẳng giữa những con người
được thể hiện trước hết ở chỗ “mỗi ngườiđều có thể (chúng tôi nhấn mạnh –
N.M.H) tự hoàn thiện mình trong bất kỳ lĩnh vực nào thích”
(16)
; khi đó, hoạt động
của mỗi cá nhân riêng biệt mới không còn mang tính “độc chuyên” do bị ràng buộc
bởi sự phân công lao động tự nhiên, nghĩa là khi đó, con người mới được tự do
(17)
(16) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., tr. 47.
(17) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., tr. 47.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC THANH NIÊN
NGUYỄN THÁI SƠN (*)
Bài viết phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
thanh niên. Đó là các tư tưởng: vai trò của thanh niên, vai trò của giáo dục thanh
niên, giáo dục toàn diện và đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên,
vai trò của nhà trường và tổ chức Đoàn đối với việc giáo dục thanh niên… Trên cơ
sở khẳng định ý nghĩa và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên,
tác giả cho rằng, trong điều kiện hiện nay, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt
những lời dạy của Người về vấn đề này; rằng, để phát huy vai trò người chủ tương
lai của đất nước, thanh niên cần phải “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo
gương Bác Hồ vĩ đại”.
Tháng 1 năm 1946, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã viết: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội"(1). Là một lãnh tụ vĩ đại, có tầm nhìn xa trông rộng, hơn ai
hết, Người thấu hiểu vai trò vô cùng to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp
cách mạng, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Để phát huy vai
trò và sức mạnh của tuổi trẻ thì phải tiến hành giáo dục thanh niên một cách toàn
diện và chu đáo. Hiểu sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm dìu dắt
thế hệ trẻ. Ngay từ những ngày đầu bôn ba cứu nước, để tập hợp, giáo dục và giác
ngộ cách mạng cho thanh niên, Người đã lập ra tổ chức Việt Nam Thanh niên cách
mạng đồng chí hội. Trước lúc đi xa, trong "Di chúc" thiêng liêng, Người còn ân cần
đất nước, đưa nền kinh tế nước ta phát triển ngang với trình độ của những cường
quốc lớn đòi hỏi thế hệ trẻ hôm nay phải phấn đấu, nỗ lực cống hiến nhiều hơn nữa.
Họ phải tự giác rèn luyện, trở thành những con người có ý chí bền vững, có lòng
dũng cảm gan dạ để vượt qua những cám dỗ thấp kém, những thói hư tật xấu, mà
mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn cầu hoá mang lại.
Trong công cuộc giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ cho đất nước, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh đến nguyên tắc giáo dục toàn diện. Người cho rằng, "Nhà nước chú trọng đặc
biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục"(4). Một con người có trí
tuệ và nhân cách phát triển lệch lạc không thể là một người chủ xứng đáng của đất
nước, của Tổ quốc. Vấn đề giáo dục toàn diện là một vấn đề hết sức quan trọng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà; vì vậy,
ngay từ hiện tại, "… thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế
phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa, trước hết phải rèn luyện và thấm
nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gột rửa cá nhân chủ nghĩa…"
(5)
. Đúng như tư tưởng
của Người, để hoàn thành tốt vai trò người chủ nước nhà, thanh niên phải được giáo
dục, đào tạo một cách chu đáo, phải được chuẩn bị đầy đủ các hành trang cần thiết
nhất. Trước hết, họ phải là những con người gương mẫu về đạo đức, có ý thức đạo
đức hoàn thiện, đầy đủ; đồng thời, có thể chất cường tráng, mạnh mẽ. Có như thế họ
mới có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách; mới làm tròn được những
nhiệm vụ vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề mà Đảng, dân tộc và nhân dân giao phó.
Đặc biệt, họ phải là những người có trí tuệ cao, thông minh, sáng tạo, có ý chí khám
phá, tìm tòi “dám nghĩ, dám làm”, biết vận dụng những thành quả của khoa học –
công nghệ hiện đại vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Để trở thành những con người phát triển hài hoà và toàn diện, con đường duy nhất
của thanh niên là không ngừng ra sức phấn đấu, rèn luyện, học tập trên tất cả các lĩnh
vực, “phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hoá, phải thấm nhuần tư tưởng xã
hội chủ nghĩa”. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện toàn
hư hỏng một số thanh, thiếu niên vốn không tự giác học tập, rèn luyện. Họ đang sa vào một cuộc sống thiếu lý tưởng, không có niềm tin, không có sự định hướng một
cách đúng đắn. Không có lý tưởng cao cả để phấn đấu, cuộc sống con người sẽ trở
nên tẻ nhạt, tầm thường, thậm chí vô nghĩa. Có lẽ đây cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng những hiện tượng rất đáng lo ngại trong giới trẻ
ngày nay, như đua xe máy, nghiện ngập ma túy… Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo,
cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để
tiến mãi không ngừng”
(8)
.
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, người thanh niên cũng phải
sống xứng đáng với truyền thống vẻ vang của dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập và
mở cửa hiện nay, đất nước đang đứng trước những thời cơ và những thử thách lớn
lao, hơn bao giờ hết, vai trò và trách nhiệm của thanh niên, của tuổi trẻ lại càng vinh
dự và nặng nề. Tương lai của đất nước, của dân tộc đang nằm trong tay thế hệ trẻ.
Chúng ta có thể sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không? Chúng ta
có thể đi tắt, đón đầu thời đại được hay không? Chúng ta có thể vượt ra khỏi đói
nghèo, tụt hậu để trở thành một quốc gia giàu có, vững mạnh, phát triển về mọi mặt
được hay không? Tất cả đang trông chờ vào ý chí, nghị lực và bản lĩnh của tuổi trẻ;
tất cả đang được quyết định bởi những việc làm, những hành động cụ thể của tuổi trẻ
hôm nay. Chúng ta không thể quên lời căn dặn thiết tha của Người: "Thanh niên ta
không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ"
(12)
.
Hiện nay, do hoàn cảnh kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, do cơ chế, chính
sách chưa thực sự hoàn thiện, đồng bộ nên trong bản thân các trường học, các cơ
quan, bộ phận của ngành giáo dục - đào tạo vẫn còn tồn tại những hạn chế, thiếu sót.
Những căn bệnh phổ biến, như “bệnh thành tích”, hiện tượng tiêu cực, bất công, gian
lận trong thi cử, ngồi “nhầm” chỗ, “nhầm” lớp… vẫn chưa được khắc phục một cách
triệt để. Trong điều kiện hiện nay, chúng ta càng phải quán triệt tư tưởng có tính chỉ
đạo của Hồ Chí Minh: dù khó khăn đến đâu cũng phải quyết tâm dạy thật tốt, học
thật tốt.
Bên cạnh trường học, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng có vai
trò quan trọng đối với việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên. Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh là một tổ chức cách mạng do chính Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản
Việt Nam sáng lập, rèn luyện; là đội ngũ của những người thanh niên Việt Nam ưu
tú. Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đây vừa là
tổ chức, vừa là môi trường cho người thanh niên yêu nước rèn luyện và cống hiến. Để phát huy vai trò của tuổi trẻ, Hồ Chí Minh căn dặn: "Trung ương Đoàn cần phải
tăng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo
đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên"(13). Trong bối cảnh ngày nay, lời
nhắc nhủ đó của Người lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Những thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh biết bao xương máu cho dân tộc được độc
lập và tự do, cho Tổ quốc được hòa bình thống nhất, cho lãnh thổ Việt Nam được
vẹn toàn. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh trường kỳ chống đế quốc Pháp và
đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng đã nêu
cao tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất, thà hy sinh đến giọt máu cuối
cùng chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu sống cuộc đời nô lệ.