Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
CH NGƯƠ
1
R I RO & CÁC PH NG TH C X LÝ R I Ủ ƯƠ Ứ Ử Ủ
RO
1.1. MỞ ĐẦU
Trong đời sống sinh hoạt và sản xuất hàng ngày, dù muốn hay khơng, lúc này hay lúc khác và dù
khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đi nữa, người ta vẫn phải gánh chịu những tổn thất - hậu
quả do rủi ro, trong sự tác động của các nguy cơ đưa tới. Rủi ro, tổn thất nẩy sinh nhiều, nếu
khơng nói là rất nhiều làm cho các từ “rủi ro”, “nguy cơ", "tổn thất" đã trở thành phổ biến
trong ngơn ngữ giao tiếp hàng ngày. Tuy vậy, khơng phải vì vậy mà ai cũng có thể hiểu, cũng có
thể sử dụng các "từ" các "thuật ngữ" đó một cách chính xác mà khơng lẫn lộn giữa chúng với
nhau, đặc biệt, khi sử dụng các văn bản có liên quan đến lĩnh vực Bảo hiểm như Giấy chứng
nhận bảo hiểm, Đơn bảo hiểm cũng như khi cần thiết tiến hành khiếu nại bồi thường trước các
nhà bảo hiểm. Như vậy, để có thể tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu lĩnh vực bảo hiểm, để vận
dụng một cách chính xác phương thức bảo hiểm vào xử lý các rủi ro, bất trắc hàng ngày, nhất
thiết, trước tiên phải tìm hiểu các từ ngữ đó. Chúng được coi là những từ "khóa" mang tính dẫn
nhập vào "mảnh đất" của bảo hiểm, giúp cho mọi người hiểu thống nhất theo các hiểu đúng nhất
theo góc độ bảo hiểm. Các thuật ngữ mà chúng tơi lần lượt đề cập đến trong phần này là:
(1) Tổn thất; (2) Khả năng tổn thất;
(3) Rủi ro; (4) Mức độ rủi ro;
(5) Hiểm họa; (6) Nguy cơ.
1.2. TỔN THẤT
1.2.1. Khái niệm
Tổn thất là sự thiệt hại một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố bất ngờ ngồi ý muốn của
chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu sử dụng). Ví dụ: cháy một căn nhà do sét đánh, thiệt hại tính
mạng con người trong một vụ tàu trượt đường rầy, điều khiển xe vơ tình gây tai nạn cho người
thứ ba khác Yếu tố “khơng cố ý” rất quan trọng trong định nghĩa nầy. Một anh sinh viên tặng
cho bạn của mình một món q nhân ngày sinh nhật của người bạn đó. Tất nhiên, vật phẩm làm
q tặng (có thể rất q, rất đắt) khơng còn thuộc sở hữu của sinh viên đó nữa. Nhưng khơng
phải vì vậy mà anh ta có thể cho mình đã bị tổn thất, bởi vì, việc mất quyền sở hữu đó khơng
chính. Ví dụ: tổn thất về mặt “tinh thần”.
Tuy nhiên, việc lượng hóa được hay khơng lượng hóa được bằng tiền cũng còn tùy thuộc vào
mức độ “thị trường hóa”, mức độ phát triển của đời sống kinh tế - xã hội. Do đó, ranh giới
giữa 2 loại tổn thất nầy sẽ khơng giống nhau ở mọi nơi, mọi lúc và khái niệm “lượng hóa”
chỉ là một khái niệm mang tính chất “lịch sử”.
1.2.3. Ý nghĩa
Đối với đời sống kinh tế - xã hội:
Tổn thất phát sinh làm gián đoạn (tạm thời hoặc vĩnh viễn) q trình sinh hoạt của một cá
nhân, làm gián đoạn q trình sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh. Trên bình
diện rộng, tổn thất phát sinh làm giảm của cải vật chất xã hội, làm gián đoạn, giảm sút hoặc
mất khả năng lao động của con người, làm ảnh hưởng xấu đến q trình tái sản xuất (giản
đơn và mở rộng) của tồn bộ nền kinh tế - xã hội. Vì vậy, người ta ln tìm cách chống lại,
tránh né hoặc giảm thiểu nó trong phạm vi và mức độ có thể có.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm:
Tổn thất phát sinh trở thành nhân tố trực tiếp làm cho tác dụng của bảo hiểm được thể hiện
và phát huy một cách cụ thể. Thật vậy, bồi thường tổn thất của bảo hiểm sẽ giúp tái tạo lại
các q trình sản xuất và sinh hoạt bị làm gián đoạn do có tổn thất phát sinh như đã nói ở
trên, làm cho đời sống kinh tế - xã hội (ở phạm vi rộng lẫn hẹp) đều được tái lập lại thế cân
bằng của nó.
1.3. KHẢ NĂNG TỔN THẤT
1.3.1 Định nghĩa:
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
Khả năng tổn thất là chỉ số biểu hiện số tổn thất trong một số trường hợp nhất định. Thuật ngữ
Khả năng tổn thất được sử dụng khi người ta muốn đánh giá về một tình trạng xấu đã xảy ra
trong q khứ của một nhóm đối tượng đồng loại nhất định. Thơng thường chỉ số nầy có hai
cách biểu hiện:
- Nếu tính theo giá trị thì gọi là Mức độ tổn thất;
- Nếu tính theo số lượng thì gọi là Tần số tổn thất.
Để xác định Khả năng tổn thất, người ta phải dựa vào thống kê kinh nghiệm được thực hiện trên
một tổng thể khối lượng trường hợp đủ lớn và xét trong một thời gian đủ dài.
2
)
(3) Theo Allan Willett: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố khơng
mong đợi" (
3
)
(
)
!"!#!$% !
%&&
%
(2) '()'*+,'''-','!"#.$/0
!1%
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
(4) "Rủi ro là một sự cố khơng chắc chắn xảy ra hoặc ngày giờ xảy ra khơng chắc chắn. Để chống
lại điều đó, người ta có thể u cầu bảo hiểm"
(
4
)
(5) "Rủi ro là sự khơng chắc chắn về tổn thất"
(
5
)
Các định nghĩa nêu trên dù ít nhiều khác nhau song đều đề cập đến cùng 2 vấn đề:
- Sự khơng chắc chắn, yếu tố bất trắc;
- Một khả năng xấu: một biến cố khơng mong đợi, tổn thất.
1.4.2. Nguồn gốc và Ngun nhân của Rủi ro
Nguồn gốc của rủi ro:
a. Nguồn gốc tự nhiên: Do con người chưa nhận thức hết các quy luật của tự nhiên hoặc khơng
đủ khả năng chế ngự hết những tác động của tự nhiên dù đã nhận biết được quy luật. Ví dụ:
3)
#22 322 + * + 4 ' 22 ( 4
2("#!$/ !0
1
(4)5678-9:
ς
.;<2=>2" ?
2 @2?."#.$$1 !0A
/
:/<5B+C @D8@8EFGFH+DI+JK@8E;L5
+.$MM !1/
:0
<NOEP7D@8EQR
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
a. Rủi ro có thể tính tốn được hay rủi ro tài chính: là những rủi ro mà tần số xuất hiện cũng
như mức độ trầm trọng của nó có thể tiên đốn được.
b. Rủi ro khơng thể tính tốn được hay rủi ro phi tài chính: người ta khơng thể (hoặc chưa có
thể) tìm ra được quy luật vận động nên khơng thể (chưa thể) tiên đốn được xác suất xẩy ra
biến cố trong tương lai. Ví dụ: xác suất của biến cố người ngồi trái đất đổ bộ và tàn sát nhân
loại Trên thực tế, dường như khơng có ranh giới rõ ràng cho hai loại rủi ro nêu trên vì ngay cả
khi có thể xác định được xác suất xẩy ra biến cố trong tương lai thì con số đó chỉ có mức độ
chính xác tương đối với một mức độ tin cậy nhất định.
Rủi ro động và rủi ro tĩnh :
Người ta còn phân rủi ro thành hai loại: Rủi ro động và rủi ro tĩnh
a. Rủi ro động: là những rủi ro vừa có thể dẫn đến khả năng tổn thất vừa có thể dẫn đến một khả
năng kiếm lời. Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà người ta còn gọi những rủi ro này là rủi ro suy
tính hay một rủi ro đầu cơ.
b. Rủi ro tĩnh: là những rủi ro chỉ có khả năng dẫn đến tổn thất hoặc khơng tổn thất chứ khơng có
khả năng kiếm lời. Do nó ln ln và chỉ gắn liền với một khả năng xấu, khả năng tổn thất nên
người ta gọi là rủi ro thuần túy (hay rủi ro thuần). Rủi ro tĩnh phát sinh có thể làm tổn thất xẩy ra
nhiên, tốc độ tăng độ sai biệt chậm hơn tốc độ độ tăng của số lượng đối tượng tham gia vào mẫu.
Nói cách khác, số trường hợp sai biệt sẽ tăng lên khi tăng kích thước của mẫu nhưng tỷ lệ sai biệt
lại giảm xuống tức Mức độ rủi ro được giảm thiểu.
1.6. HIỂM HỌA
Thuật ngữ: “hiểm họa” thường được sử dụng trong các đơn bảo hiểm “Mọi rủi ro” (All Risks
Policy). Nó biểu hiện hàng loạt các sự cố có thể xẩy ra gây thiệt hại cho một đối tượng hoặc
một sự cố khơng chắc chắn nào đó có thể ảnh hưởng đến nhiều người khác nhau với tư cách
khác nhau.
Ví dụ: Hiểm họa ma túy, hiểm họa sida, hiểm họa hàng hải
Một cách đơn giản, có thể nói: Hiểm họa là một rủi ro khái qt, một nhóm các rủi ro cùng
loại và có liên quan.
1.7. NGUY CƠ
1.7.1. Khái niệm:
Nguy cơ là một thuật ngữ thường được sử dụng trên các đơn bảo hiểm thuộc thị trường bảo
hiểm Anh - Mỹ. Trên thực tế, người ta rất khó phân biệt và thường lẫn lội giữa nguy cơ và
hiểm họa. Một khi có nguy cơ thì có nghĩa là sự phát động của hiểm họa gần với hiện thực
hơn, khả năng xẩy ra tổn thất cao hơn.
Ví dụ: quản lý cẩu thả, tàu khơng đủ khả năng hành thủy, đường giao thơng bị hư hỏng
Nguy cơ xuất hiện như một điều kiện phối hợp, tác động làm rủi ro xẩy ra dẫn đến tổn thất.
Bản thân nguy cơ là hồn tồn độc lập với rủi ro.
Ví dụ: rủi ro hỏa hoạn đe dọa bất kỳ căn nhà nào dù trong căn nhà đó có chứa xăng hay
chất dễ cháy, nổ hay khơng
Một cách ngắn gọn, nguy cơ có thể định nghĩa như sau: Nguy cơ là những điều kiện phối hợp,
tác động làm tăng khả năng tổn thất.
1.7.2. Phân loại nguy cơ
(1) Nguy cơ vật chất: là một yếu tố khách quan làm gia tăng khả năng tổn thất. Ví dụ: sản xuất
pháo nổ là một nguy cơ vật chất làm tăng khả năng bị tổn thất do hỏa hoạn và nổ.
(2) Nguy cơ tinh thần: là một yếu tố tinh thần (chủ quan) nhưng khơng cố ý làm tăng khả năng
gia tăng tổn thất. Ví dụ: Thiếu hiểu biết dẫn đến có hành vi nguy cơ làm gia tăng khả năng lây
nhiễm HIV.
với giá phí của các lựa chọn khác.
Ví dụ: Người ta khơng thể tránh né rủi ro cháy nhà bằng cách bán nhà và ở lang thang ngồi
đường phố, khơng thể giải đáp thắc mắc ngày nào sẽ chết bằng cách tự vẫn ngay tức khắc.
Khi khơng thể áp dụng phương thức tránh né, người ta buộc phải tìm các phương thức khác để
giải quyết.
1.8.2. Gánh chịu rủi ro:
Đây có vẻ như là một cách xử sự dễ dàng nhất để đón nhận sự khơng chắc chắn về một sự việc nào
đó. Tuy nhiên, khơng hẳn đơn giản như thế vì cũng có rất nhiều lý do dẫn đến việc người ta chấp
nhận gánh chịu rủi ro:
a. Quyết định gánh chịu rủi ro khi khơng còn phương thức nào tốt hơn để giải quyết. Giống như ví
dụ trên, chúng ta bắt buộc phải trú ngụ trong nhàtức chấp nhận gánh chịu rủi ro căn nhà có thể bị
bốc cháy một lúc nào đó. Chúng ta chấp nhận gánh chịu rủi ro bị cháy nổ, rơi phương tiện khi di
chuyển từ nơi nầy sang nơi khác, khơng thể tránh né nó bằng cách đi bộ hay sử dụng câ đèn thần
Alladin.
b. Gánh chịu rủi ro cũng có thể do người ta khơng thấu đáo được rủi ro đó. Một người tránh né rủi
ro bị bệnh đường hơ hấp đi về vùng đồi núi sinh sống, có thể lúc nào đó sẽ là nạn nhân của một vụ
sụp lỡ đất do nhà anh ta vơ tình cất trên vùng địa chất phúc tạp, khơng ổn định.
c. Gánh chịu rủi ro do sức ỳ, sự thụ động đã trở thành qn lệ (thói quen khơng chỉ của một cá
nhân mà của một nhóm người trong xã hội). Một người nhận thức được phải mua bảo hiểm để
đối phó với các rủi ro bản thân nhưng anh ta vẫn khơng tự động đi mua bảo hiểm nếu như nhân
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
viên khai thác bảo hiểm khơng đến tận nhà chào mời. Điều này đến nay vẫn còn phổ biến ở Việt
nam.
d. Chấp nhận gánh chịu một rủi ro suy tính, một rủi ro đầu cơ. Điều nầy dễ thấy trong lĩnh vực sản
xuất kinh doanh. Mức độ rủi ro cao, khoản lời có thể mang lại càng lớn. Một chủ xe tải, chấp nhận
rủi ro bị phạt vi cảnh, cố tình chở hàng hóa q tải để được món lời cao hơn. Một cascadeur chấp
nhận đóng thế vi trong các “pha nguy hiểm” để nhận tiền cơng hậu hĩnh. Ở đây việc chấp nhận
gánh chịu rủi ro là một quyết định được cân nhắc, suy tính sau khi phán đốn tương đối chính xác
một rủi ro nào đó. Và mức độ rủi ro là cơ sở đánh giá một nhà kinh doanh nào đó biết mạo hiểm
hay chỉ là liều lĩnh khơng hơn, khơng kém.
(mua – bán short) với điều kiện giao hàng trong tương lai (phương pháp Hedging). Trong
trường hợp nầy rửi ro tăng và giảm giá được chuyển từ người sản xuất (người bán non) sang
người mua non hàng hóa.
b. Cho thầu lại (tồn bộ hay một phần).
Nhà thầu chính trúng thầu xây dựng một cao ốc có thể cho thầu lại tồn bộ hoặc một số cơng
trình phụ (điện, nước ). Lúc nầy, một phần rủi ro sẽ chuyển từ nhà thầu chính sang nhà thầu
phụ.
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
c. Bảo hiểm:
Kỹ thuật bảo hiểm sẽ giúp cho người ta quy tụ được một số đơng người. trong đó, sẽ chỉ có
một số ít người gặp rủi ro và bị tổn thất. Họ sẽ được người bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi
thường đó được lấy từ quỹ bảo hiểm do đám đơng cùng tham gia đóng góp dưới hình thức Phí
bảo hiểm. Bằng cách này, rủi ro có thể sẽ được cả cộng đồng gánh chịu hay nói cách khác nó
được hốn chuyển từng phần nhỏ qua từng người khác.
Nh v y, b o hi m c ng là m t hình th c hốn chuy n r i ro, nh ngS C 8 E T U V E P S
c n ph i th y r ng: cách th c hốn chuy n c a nó cách x lý c a nó là tri t W 8 X Y V E P Z P L OE
h n h t. Vì r ng: hốn chuy n r i ro c a b o hi m là hốn chuy n cho s[ \ Y E P P 8 E E ]
ơng ng i v a m i ng i khơng b r i ro tác ng làm nh h ngO S^ _ OP OE ` S^ a P OU 8 Sb
tr m tr ng, trong khi các hình th c hốn chuy n r i ro khác, vi c hốnW H b V E P L
chuy n ch gi i quy t l i ích c c b c a m t ng i, r i ro v n còn ti p t cE c 8 \ d e U P U S^ P f \ e
e d a l i ích c a ng i khác và l i ích c a c n n kinh t xã h i.O H d P S^ d P 8 6 \ U
1.8.5. Giảm thiểu rủi ro:
Tất cả các phương thức nói trên, ngồi bảo hiểm, đều khơng làm được điều này. Bảo hiểm vì vậy
khơng chỉ là một phương thức hốn chuyển rủi ro mà còn là một phương thức giảm thiểu rủi ro.
Thật vậy, do tập trung được số đơng, kỹ thuật bảo hiểm có thể thống kê tính tốn tương đối chính
xác khả năng tổn thất trong tương lai. Mức độ chính xác càng cao, mức độ bất trắc càng giảm làm
cho rủi ro cũng được hạ giảm theo.
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh là khơng phải tất cả các rủi ro cũng đều có thể bảo hiểm. Và
trong số những rủi ro có thể bảo hiểm, nhà bảo hiểm chọn đảm bảo cho rủi ro nào là còn phụ thuộc
vào khả năng nghiệp vụ và tầm vóc cơng ty của mình.
ranh giới phân biệt giữa rủi ro thuần và các rủi ro đầu cơ (spéculatif) . Sự phân biệt tuy giản đơn
nhưng rõ ràng nó rất hữu ích cho việc phát triển chức năng quản trị rủi ro dù là bên trong phạm vi
hay ngồi phạm vi doanh nghiệp.
Một năm sau, một bài viết trong tờ National Insurance Buyer (tháng 9/1962) đã giới thiệu một khái
niệm cơ bản mới của quản trị rủi ro : Giá phí tồn bộ của rủi ro . Tác giả bài báo, Douglas Barlow,
nhà nghiên cứu quản trị rủi ro của nhóm Massey Fergusson đã giải thích rằng: Đối với mỗi rủi ro
có thể bảo hiểm , việc tổ chức xử lý tương ứng và phụ thuộc vào bốn loại gía phí sau: Chi phí đề
phòng, Phí bảo hiểm, Tổn thất tự gánh chịu khơng được bồi thường từ bảo hiểm, Chi phí quản lý.
Mục tiêu của quản trị rủi ro, như vậy, trở thành việc tối ưu hóa giá phí tồn bộ của rủi ro , phải đầu
tư vào việc đề phòng, dự phòng - tự bảo hiểm để giảm phí bảo hiểm, nói cách khác, phải phân bổ
tốt nhất ngân sách của doanh nghiệp giũa bốn loại cấu thành giá phí của rủi ro nói trên.
1.9.2. Các hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức nghiên cứu quản trị rủi ro:
Thời kỳ thịnh vượng của quản trị rủi ro cũng được thấy ở việc các Hiệp hội của những
nhà quản trị rủi ro được sáng lập góp phần cho sự phát triển của chức năng nầy.
Năm 1950, tại Hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia những người mua bảo hiểm bảo hiểm (The
National Insurance Buyers Association) ra đời và sau đó trở thành Hội quản trị rủi ro và bảo
hiểm (The Risk and Insurance Management Society - Rims) . Tổ chức nầy, ngay năm 1954 đã
cơng bố tạp chí đầu tiên, năm 1963, tổ chức hội nghị hàng niên đầu tiên, và năm 1965, đưa ra
chương trình đào tạo trong lĩnh vực quản trị rủi ro .
Ở Châu Âu , một trào lưu tương tự cũng phát triển. Trước tiên là Anh quốc, nơi mà năm
1963, đã thành lập Hiêp hội những nhà quản trị bảo hiểm trong các lĩnh vực cơng nghiệp và
thương mại (Association of Insurance Managers in Industry and Commerce - Aimic) . Vào
năm 1967, trong Hội nghị đầu tiên, Hiệp hội nầy đã bàn bạc về vấn đề “tự bảo hiểm ”, chỉ rõ
xu hướng phát triển mới của quản trị rủi ro cho tất cả các nhà bảo hiểm ở Anh quốc. Năm
1974, Aimic đổi tên thành Airmic, bằng cách thêm từ “rủi ro ” vào tên cũ để trở thành “Hiêp
hội các nhà quản trị bảo hiểm – rủi ro trong Cơng nghiệp và Thương mại ” (The Association of
Risk-Insurance Managers in Industry and Commerce).
Ở Pháp, nhóm những người được bảo hiểm trong thương mãi và Cơng kỹ nghệ
(Groupement des Assurés du Commerce et de l’Industrie - Gaci) và Hệp hội những người phụ
trách bảo hiểm của các doanh nghiệp Pháp (Associationdes chargés d’assurance des
Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp cho nên việc lựa chon phương
thức quản trị rủi ro phụ thuộc vào chi phí và hiệu quả tác động của từng phương thức xử lý rủi ro
được lựa chọn.Chính vì vậy việc lựa chọn ở đây là một sự đánh đổi. Chẳng hạn khi gia tăng các
chi phí cảnh báo và an tồn thì thiệt hại trực tiếp và gián tiếp có thể giảm. Chi phí bảo hiểm tăng
và giữ lại ít rủi ro thì chi phí thiệt hại gián tiếp sẽ giảm cũng như giảm biến động về thu nhập của
doanh nghiệp
Việc tổ chức quản trị rủi ro phụ thuộc vào đặc điểm của từng doanh nghiệp. Hầu hết các doanh
nghiệp có quy mơ lớn đều có một bộ phận chun biệt để thực hiện việc quản trị những rủi ro
thuần túy. Người đứng đầu bộ phận này được gọi là Nhà quản lý rủi ro hoặc Giám đốc quản trị rủi
ro. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng rủi ro xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau nên cơng việc
quản trị rủi ro hầu như có mối liên hệ với tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp, từ sản xuất,
marketing, tài chính và nhân sự. Bộ phận quản trị rủi ro thường có sự gắn kết chặt chẽ với bộ phận
tài chính vì liên quan giữa việc bảo vệ tài sản khơng bị thiệt hại, thiệt hại tài chính và chức năng tài
chính
Một bộ phận quản trị rủi ro thơng thường ở doanh nghiệp thường có đối tượng là bảo hiểm tài sản
– trách nhiệm, quỹ bồi thường cho người lao động, mối nguy hiểm về an tồn và mơi trường, giải
quyết các khiếu nại doanh nghiệp và ngay cả những quyền lợi của nhân viên. Ngồi ra, đối với
những doanh nghiệp đương đầu với các rủi ro về giá cả, lãi suất, tỷ giá nhiều thì sẽ có bộ phận
riêng đảm đương cơng việc này.
CÂU H I ƠN T P CH NG 1Ỏ Ậ ƯƠ
1.1 Rủi ro là gì? Rủi ro khi nào có thể bảo hiểm? Hãy cho ví dụ minh họa.
Rủi ro và các phương thức xử lý rủi ro Trang
1.2 Hãy phân loại rủi ro và cho ví dụ minh họa.
1.3a Hãy trình bày Nguồn gốc và Ngun nhân của rủi ro.Liên hệ nhận dạng các rủi ro tồn tại
trong đời sống làm việc và sinh hoạt hằng ngày của bản thân.
1.3b Nhận dạng các rủi ro có thể có trong q trình hoạt động của một doanh nghiệp.
1.4 Mức độ rủi ro là gì ? Trình bày mối quan hệ tương quan giữa số lượng rủi ro xem xét và
mức độ rủi ro .
1.5 Khả năng tổn thất: khái niệm, ý nghĩa ?
1.6 Khái niệm tổn thất trong bảo hiểm ? Phân loại tổn thất và liên hệ khả năng có thể được đảm